Movatterモバイル変換


[0]ホーム

URL:


Bước tới nội dung
WikipediaBách khoa toàn thư mở
Tìm kiếm

Zanzibar

6°08′N39°19′Đ / 6,133°N 39,317°Đ /-6.133; 39.317
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Zanzibar
—  Hai đảo  —
Hiệu kỳ của Zanzibar
Hiệu kỳ

Ấn chương
Bản đồ đảo chính của Zanzibar
Bản đồ đảo chính của Zanzibar
Zanzibar là một phần của Tanzania
Zanzibar là một phần của Tanzania
Zanzibar trên bản đồ Thế giới
Zanzibar
Zanzibar
Tọa độ:Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:ISO 3166/data/TZ' not found.6°8′N39°19′Đ / 6,133°N 39,317°Đ /-6.133; 39.317
Quốc giaTanzania
ĐảoUnguja vàPemba
Thủ đôThành phố Zanzibar
Đã ổn địnhAD 1000
Thủ phủThành phố Zanzibar
Chính quyền
 • KiểuBán tự trị, một phần của Tanzania
 • Tổng thốngHussein Ali Mwinyi
Diện tích
 • Tổng cộng1.020 mi2 (2.650 km2)
Dân số(2004)
 • Tổng cộng1.070.000
Múi giờGiờ Đông Phi
Zanzibar nằm cách bờ biển đại lục Tanzania.

Zanzibar ngày nay là tên của hai đảo cách bờ biểnĐông Phi thuộc vềTanzania:Unguja (còn được gọi Zanzibar) vàPemba. Thủ phủ quần đảo này nằm trên đảo Unguja và cũng được gọi làZanzibar. Khu cũ của thành phố, tênPhố Đá (tiếng Anh:Stone Town), làDi sản thế giới. Dân số của Zanzibar là 981.754 người vào thống kê dân số năm 2002, và hai đảo này có diện tích 2.650km² (1020dặm vuông).

Các sản xuất chính của Zanzibar là đồgia vị (bao gồmđinh hương,đậu khấu,quế, vàhạt tiêu) vàcọ sợi. Zanzibar cũng dựa trên ngànhdu lịch, và có thúđặc hữu con khỉPiliocolobus kirkii (Zanzibar Red Colobus).

Tên "Zanzibar" chắc bắt nguồn từtiếng Ba Tư زنگبارZangi-bar ("bờ biển người da đen"). Tuy nhiên, tên này cũng có thể bắt nguồn từtiếng Ả RậpZayn Z'al Barr ("nước này đẹp"). "Zanzibar" thường chỉ đến đảo Unguja nói riêng và đôi khi đồng nghĩa với "Quần đảo Gia vị", nhưng tên này thường chỉ đếnquần đảo Maluku tạiIndonesia. Đảo Pemba là đảo duy nhất trừ ra Zanzibar mà vẫn còn sản xuất đinh hương nhiều; sản xuất này là nguồn thu nhập gia vị chính của quần đảo này.

Lịch sử

[sửa |sửa mã nguồn]

Thời cổ

[sửa |sửa mã nguồn]

Những cư dân đầu tiên của Zanzibar có thể là tổ tiên của ngườiHadimuTumbatu đến từ đại lục Đông Phi vào khoảng năm 1000 CN. Họ đã thuộc về nhiều dân tộc ở đại lục, và tại Zanzibar họ sống ở những làng nhỏ và không hợp nhất thành đơn vị hành chính lớn hơn. Tại vì họ không có tổ chức trung ương, những cư dân này dễ bị người bên ngoài chinh phục.

Gốm cổ chứng tỏ những đường buôn bán với Zanzibar đã tồn tại từ thờiAssyria cổ. Những người buôn bán từẢ Rập, vùngvịnh Ba TưIran ngày nay (nhất làShiraz), vàTây Ấn Độ có thể đã đến thăm Zanzibar từ thế kỷ 1. Họ lợi dụnggió mùa để băng quaẤn Độ Dương vào cảng tại Thị xã Zanzibar ngày nay. Do quần đảo này không có nhiều tài nguyên đối với những người buôn bán, quần đảo chỉ là nơi để tiếp cận những thị xã dọc theo bờ biển Đông Phi.

Một vài người buôn bán từ vùng vịnh Ba Tư bắt đầu cư trú tại Zanzibar vào cuối thế kỷ 11 hay thế kỷ 12; họ lấy vợ thổ dân và cuối cùng một vị vua (được gọi làMwenyi Mkuu hayJumbe) được chọn từ dân Hadimu. Người thống trị tương tự dưới tênSheha được chọn từ người Tumbatu. Cả hai người này không có nhiều quyền, nhưng họ giúp củng cố tên tuổi của hai dân tộc này.

Thuộc địa và Sultan

[sửa |sửa mã nguồn]
Quốc kỳ các Sultan Zanzibar xưa

Sự kiệnVasco da Gama đến đảo vào năm 1499 đã khởi đầu cho thời kỳchâu Âu có ảnh hưởng đến vùng này.Bồ Đào Nha tuyên bố quyền hành trên đảo vào năm 1503. Vào tháng 8 năm 1505, đảo trở thành một phần củaĐế quốc Bồ Đào Nha khi Đại úy João Homere thuộc hạm đội củaFrancisco de Almeida chiếm đảo này và tuyên bố quyền hành của Bồ Đào Nha. Đảo này còn là thuộc địa Bồ Đào Nha đến năm 1698, khi Zanzibar trở thành một phần củaOman, dưới quyền hành củaSultan Oman.

Sayyid Said bin Sultan al-Busaid dời đô từMuscat tại Oman đến Phố Đá năm 1840. Sau khi ông qua đời năm 1856, các con của ông tranh giành quyền nối ngôi. Ngày6 tháng 4 năm1861, Zanzibar và Oman bị chia thành hai vương quốc riêng biệt.Sayyid Majid bin Said Al-Busaid (1834/1835–1870), con thứ sáu của ông, trở thành Sultan Zanzibar, còn con thứ baSayyid Thuwaini bin Said al-Said trở thành Sultan Oman.

Nhà Kỳ quan (Beit-el-Ajaib) tại Phố Đá được xây vào thập niên 1880 là lâu đài để làm quốc lễ.

Vào lúc này, Sultan Zanzibar cũng có quyền hành một phần lớn của bờ biển Đông Phi, được gọi làZanj, bao gồmMombasaDar es Salaam, và các đường buôn bán kéo dài hơn vào miền trungchâu Phi, chẳng hạn như tớiKindu trênsông Congo. Vào tháng 11 năm 1886, hội đồng biên giới Đức-Anh định Zanj là dải đất rộng 10hải lý (19 km) dọc theo bờ biển từ mũi Delgado (ngày nay thuộcMozambique) đếnKipini (ngày nay thuộcKenya), bao gồm các đảo trên biển và một số thị xã ởSomalia ngày nay. Tuy nhiên, từ năm 1887 đến năm 1892, cả lãnh thổ này bị chiếm thành thuộc địa củaVương quốc Anh,Đức, vàÝ, nhưng một số vùng vẫn không được bán hay nhượng lại chính thức đến thế kỷ 20 (Mogadishu nhượng cho Ý năm 1905 vàMombasa nhượng cho Kenya năm 1963).

Đế quốc Anh từ từ tiếp quản Zanzibar và vai trò cai quản của Anh được xác định chính thức trongHiệp ước Helgoland-Zanzibar năm 1890, trong đó Đức hứa không đụng đến lãnh thổ Anh ở quần đảo Zanzibar. Zanzibar trở thành lãnh thổ phụ của Đế quốc Anh năm đó. Mới đầu Anh gửiTể tướng để cai trị từ năm1890 đến 1913, rồithường trú từ năm 1913 đến 1963.

Độc lập

[sửa |sửa mã nguồn]

Ngày27 tháng 8 năm1896,Chiến tranh Anh-Zanzibar bùng nổ do tranh giành quyền nối ngôi củaHamad bin Thuwaini và kết thúc với kết quả SultanHamoud bin Mohammed, được sự chống lưng Anh, được lên ngôi. Đây là cuộc chiến tranh ngắn nhất trong lịch sử; Zanzibar đầu hàng sau 45phút. Bằng lòng với những đòi hỏi của Đế Quốc Anh, Hamoud kết thúc vai trò của Zanzibar là trung tâmbuôn bán nô lệ ở Đông Phi, hoạt động đã bắt đầu dưới thờiOman chiếm đóng vào thế kỷ 17; ông cấmchế độ nô lệ, thả các nô lệ của Zanzibar, và bồi thường các chủ nô vào năm 1897.

Ngày10 tháng 12 năm1963, Zanzibar được độc lập từ sự cai trị củaVương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland với chế độquân chủ lập hiến dưới quyền Sultan. Tình trạng này không kéo dài lâu khi Sultan cuối cùng bị lật đổ ngày12 tháng 1 năm1964, và ngày26 tháng 4 cùng năm, Zanzibar hợp nhất với nướcTanganyika trên đại lục để trở thànhTanzania. Zanzibar vẫn còn một phần của cộng hòa này đến ngày nay.

Chính trị

[sửa |sửa mã nguồn]
Quốc kỳ mới của Zanzibar được kéo lên lần đầu tiên vào tháng 1 năm 2005.

Tuy Zanzibar thuộc vềTanzania, nhưng vùng có bầuchủ tịch riêng là nguyên thủ về các vấn đề nội bộ.Amani Abeid Karume được bầu lại vào chức vụ này ngày30 tháng 10 năm2005 mặc dù bị ứng cử viên đối thủSeif Shariff Hamad chỉ trích.[1] Trước đó, cuộc bầu cử này bị nghi ngờ, vào tháng 1 năm 2001, có ít nhất 27 người biểu tình bị cảnh sát bắn chết.[2]

Zanzibar cũng có Viện Dân biểu riêng để làm luật cho quần đảo này. Viện có 50 ghế được bầu thẳng vào nhiệm kỳ 5 năm. Mỗi người lớn tại Zanzibar có quyền bầu cử.

Đảo Zanzibar có ba miền hành chính:Trung/Nam,Bắc, và Thành thị/Tây. Trên đảo Pemba có hai miềnBắcNam.

Vua (Sultan) Zanzibar

[sửa |sửa mã nguồn]
  1. Majid bin Said (1856–1870)
  2. Barghash bin Said (1870–1888)
  3. Khalifah bin Said (1888–1890)
  4. Ali bin Said (1890–1893)
  5. Hamad bin Thuwaini (1893–1896)
  6. Khalid bin Barghash (1896)
  7. Hamud bin Muhammed (1896–1902)
  8. Ali bin Hamud (1902–1911; thoái vị)
  9. Khalifa bin Harub (1911–1960)
  10. Abdullah bin Khalifa (1960–1963)
  11. Jamshid bin Abdullah (1963–1964)

Tể tướng

[sửa |sửa mã nguồn]
  1. NgàiLloyd William Matthews (1890–1901)
  2. A.S. Rogers (1901–1906)
  3. Arthue Raikes (1906–1908)
  4. Francis Barton (1906–1913)

Thường trú Anh

[sửa |sửa mã nguồn]
  1. Francis Pearce (1913–1922)
  2. John Sinclair (1922–1923)
  3. Alfred Hollis (1923–1929)
  4. Richard Rankine (1929–1937)
  5. John Hall (1937–1940)
  6. Henry Pilling (1940–1946)
  7. Vincent Glenday (1946–1951)
  8. John Sinclair (1952–1954)
  9. Henry Potter (1954–1959)
  10. Arthur Mooring (1959–1963)

Tham khảo

[sửa |sửa mã nguồn]
Wikisource có văn bản gốc Anh ngữ liên quan với bài:

Liên kết ngoài

[sửa |sửa mã nguồn]
Wikimedia Commons có thêm hình ảnh và phương tiện vềZanzibar.
Bắc Phi

Thế kỷ 15

1415–1640Ceuta
1458–1550Alcácer Ceguer(El Qsar es Seghir)
1471–1550Arzila(Asilah)
1471–1662Tangier
1485–1550Mazagan(El Jadida)
1487–thế kỷ 16Ouadane
1488–1541Safim(Safi)
1489Graciosa

Thế kỷ 16

1505–1541Agadir
1506–1525Mogador(Essaouira)
1506–1525Aguz(Souira Guedima)
1506–1769Mazagan(El Jadida)
1513–1541Azamor(Azemmour)
1515–1541São João da Mamora(Mehdya)
1577–1589Arzila(Asilah)

Châu Phi hạ Sahara

Thế kỷ 15

1455–1633Anguim
1462–1975Cabo Verde
1470–1975São Tomé1
1471–1975Príncipe1
1474–1778Annobón
1478–1778Fernando Poo(Bioko)
1482–1637Elmina(São Jorge da Mina)
1482–1642Bờ Biển Vàng
1508–15472Madagascar3
1498–1540Quần đảo Mascarene

Thế kỷ 16

1500–1630Malindi
1501–1975Mozambique
1502–1659Saint Helena
1503–1698Zanzibar
1505–1512Quíloa(Kilwa)
1506–1511Socotra
1557–1578Accra
1575–1975Angola
1588–1974Cacheu4
1593–1698Mombassa(Mombasa)

Thế kỷ 17

1645–1888Ziguinchor
1680–1961São João Baptista de Ajudá, Bénin
1687–1974Bissau4

Thế kỷ 18

1728–1729Mombassa(Mombasa)
1753–1975São Tomé và Príncipe

Thế kỷ 19

1879–1974Guinea
1885–1974Congo thuộc Bồ Đào Nha5

Trung Đông [Vịnh Ba Tư]

Thế kỷ 16

1506–1615Bandar-Abbas
1507–1643Sohar
1515–1622Hormuz(Ormus)
1515–1648Quriyat
1515–?Qalhat
1515–1650Muscat
1515?–?Barka
1515–1633?Ras Al Khaimah
1521–1602Bahrain(Muharraq • Manama)
1521–1529?Qatif
1521?–1551?Đảo Tarut
1550–1551Qatif
1588–1648Matrah

Thế kỷ 17

1620–?Khor Fakkan
1621?–?As Sib
1621–1622Qeshm
1623–?Khasab
1623–?Libedia
1624–?Kalba
1624–?Madha
1624–1648Dibba Al-Hisn
1624?–?Bandar-e Kong

Tiểu lục địa Ấn Độ

Thế kỷ 15

1498–1545

Thế kỷ 16
Ấn Độ thuộc Bồ Đào Nha

 • 1500–1663Cochim(Kochi)
 • 1501–1663Cannanore(Kannur)
 • 1502–1658
 1659–1661
 • 1502–1661Pallipuram(Cochin de Cima)
 • 1507–1657Negapatam(Nagapatnam)
 • 1510–1961Goa
 • 1512–1525
 1750
 • 1518–1619Pulicat
 • 1521–1740Chaul

  (Portuguese India)
 • 1523–1662Mylapore
 • 1528–1666
 • 1531–1571Chaul
 • 1531–1571Chalé
 • 1534–1601Đảo Salsette
 • 1534–1661Bombay(Mumbai)
 • 1535Ponnani
 • 1535–1739Baçaím(Vasai-Virar)
 • 1536–1662Cranganore(Kodungallur)
 • 1540–1612Surat
 • 1548–1658Tuticorin(Thoothukudi)
 • 1559–1961Daman and Diu
 • 1568–1659Mangalore

  (Ấn Độ thuộc Bồ Đào Nha)
 • 1579–1632Hugli
 • 1598–1610Masulipatnam(Machilipatnam)
1518–1521Maldives
1518–1658Ceylon thuộc Bồ Đào Nha(Sri Lanka)
1558–1573Maldives

Thế kỷ 17
Ấn Độ thuộc Bồ Đào Nha

 • 1687–1749Mylapore

Thế kỷ 18
Ấn Độ thuộc Bồ Đào Nha

 • 1779–1954Dadra và Nagar Haveli

Đông Á và châu Đại Dương

Thế kỷ 16

1511–1641Malacca thuộc Bồ Đào Nha [Malaysia]
1512–1621Maluku [Indonesia]
 • 1522–1575 Ternate
 • 1576–1605 Ambon
 • 1578–1650 Tidore
1512–1665Makassar
1557–1999Ma Cao [Trung Quốc]
1580–1586Nagasaki [Nhật Bản]

Thế kỷ 17

1642–1975Timor thuộc Bồ Đào Nha(Đông Timor)1

Thế kỷ 19
Ma Cao thuộc Bồ Đào Nha

 • 1864–1999Coloane
 • 1851–1999Đãng Tể
 • 1890–1999Ilha Verde

Thế kỷ 20
Ma Cao thuộc Bồ Đào Nha

 • 1938–1941Lapa và Montanha(Hoành Cầm)

  • 1 1975 là năm Đông Timor tuyên bố độc lập cũng như là năm xảy racuộc xâm lược của Indonesia. Vào năm 2002, nền độc lập của Đông Timor được công nhận.
Bắc Mỹ & Bắc Đại Tây Dương

Thế kỷ 15 [các đảo Đại Tây Dương]

1420Madeira
1432Açores

Thế kỷ 16 [Canada]

1500–1579?Terra Nova(Newfoundland)
1500–1579?Labrador
1516–1579?Nova Scotia

Nam Mỹ & Antilles

Thế kỷ 16

1500–1822Brasil
 • 1534–1549 Capitania của Brasil
 • 1549–1572 Brasil
 • 1572–1578 Bahia
 • 1572–1578 Rio de Janeiro
 • 1578–1607 Brasil
 • 1621–1815 Brasil
1536–1620Barbados

Thế kỷ 17

1621–1751Maranhão
1680–1777Colonia del Sacramento

Thế kỷ 18

1751–1772Grão-Pará và Maranhão
1772–1775Grão-Pará và Rio Negro
1772–1775Maranhão và Piauí

Thế kỷ 19

1808–1822Cisplatina(Uruguay)
1809–1817Amapá
1822Thượng Peru(Bolivia)

Lấy từ “https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Zanzibar&oldid=73509626
Thể loại:
Thể loại ẩn:

[8]ページ先頭

©2009-2026 Movatter.jp