Movatterモバイル変換


[0]ホーム

URL:


Bước tới nội dung
WikipediaBách khoa toàn thư mở
Tìm kiếm

What the Hell

Đây là một bài viết chọn lọc. Nhấn vào đây để biết thêm thông tin.
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
"What the Hell"
Avril Lavigne đưa tay lên mái tóc vàng. Cô đeo chiếc vòng cổ có dòng chữ "Drink Me". Tên nghệ sĩ "AVRIL LAVIGNE" và tên bài hát "WHAT THE HELL" được in ở góc trên bên trái.
Đĩa đơn củaAvril Lavigne
từalbumGoodbye Lullaby
Mặt B"Alice"
Phát hành1 tháng 1 năm 2011 (2011-01-01)
Thu âm2010
Phòng thuMaratone Studios (Stockholm, Thụy Điển)
Thể loại
Thời lượng3:39
Hãng đĩaRCA
Sáng tác
Sản xuất
  • Max Martin
  • Shellback
Thứ tựđĩa đơn củaAvril Lavigne
"Alice"
(2010)
"What the Hell"
(2011)
"Smile"
(2011)
Video âm nhạc
"What the Hell" trênYouTube

"What the Hell" là một bài hát của nữca sĩ kiêm nhạc sĩ sáng tác bài hát người CanadaAvril Lavigne, nằm trong album phòng thu thứ tư của côGoodbye Lullaby (2011). Do Lavigne sáng tác cùng với các nhà sản xuấtMax MartinShellback, "What the Hell" là một bảnbubblegumpop punk sở hữu nhịp điệu sôi động và được phối khí bằng các nhạc cụkeyboard,trống,guitarbass. Bài hát thể hiện cá tính nổi loạn và truyền tải thông điệp về tự do cá nhân của Lavigne thông qua việc cô trêu đùa tình cảm với bạn trai. Nhạc phẩm mang màu sắc pop, vui nhộn và khác biệt so với những bảnacoustic củaGoodbye Lullaby.

Thông qua hãng đĩaRCA Records, Lavigne phát hành "What the Hell" làmđĩa đơn mở đường choGoodbye Lullaby vào ngày 1 tháng 1 năm 2011. Bài hát nhận được những đánh giá nhìn chung là tích cực từ giới phê bình âm nhạc. Nhiều người khen ngợi giai điệu bắt tai và năng lượng tích cực của "What the Hell", trong khi một số thì chỉ trích phần ca từ thiếutính đích thực. "What the Hell" vươn lên vị trí quán quân trên bảng xếp hạng âm nhạc tại Hàn Quốc và lọt vào top 10 tại các thị trường như Úc, Canada, Nhật Bản và New Zealand. Tại Hoa Kỳ, "What the Hell" đạt vị trí cao nhất là hạng 11 trên bảng xếp hạngBillboard Hot 100 và đượcHiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ (RIAA) chứng nhậnđĩa 4× Bạch kim.

Video âm nhạc (MV) của "What the Hell" doMarcus Raboy đạo diễn và được ghi hình ở định dạngphim 3D. Nội dung chủ yếu xoay quanh việc Lavigne trốn chạy khỏi bạn trai và tận hưởng những cuộc dạo chơi tinh nghịch trên đường phốNew York. MV vấp phải chỉ trích về việc lồng ghép sản phẩm lộ liễu. Nhằm quảng bá cho "What the Hell", Lavigne trình diễn ca khúc trên nhiều chương trình truyền hình khác nhau và đưa bài hát vào danh sách tiết mục của các chuyến lưu diễn từBlack Star Tour (2011–2012) cho tớiGreatest Hits Tour (2024–2025). "What the Hell" giúp Lavigne được xướng tên nhận giải thưởng Bài hát Hot 100 Airplay của năm tạiGiải thưởng Âm nhạcBillboard Nhật Bản và hai giải từ tổ chứcBroadcast Music, Inc.

Bối cảnh

[sửa |sửa mã nguồn]
Avril Lavigne tạiGreatest Hits Tour (2024–2025), nơi cô trình diễn "What the Hell" cùng nhiều bản hit khác trong sự nghiệp.

Album phòng thu thứ ba của nữ ca sĩ người CanadaAvril Lavigne,The Best Damn Thing (2007) gặt hái thành công về mặt thương mại khi đứng đầu các bảng xếp hạng tại Hoa Kỳ, Canada, Anh Quốc và nhiều quốc gia khác.[1] Đĩa đơn chủ đạo củaThe Best Damn Thing, "Girlfriend" (2007), mang về cho cô bài hát quán quân đầu tiên trên bảng xếp hạngBillboard Hot 100 tại Hoa Kỳ sau 5 năm hoạt động âm nhạc.[2] Trong hai năm 2007 và 2008, Lavigne tích cực quảng báThe Best Damn Thing và thực hiện chuyến lưu diễnThe Best Damn Tour.[3] Đến tháng 11 năm 2008, cô bắt đầu thay đổi hướng đi âm nhạc bằng cách thử nghiệm sáng tác những ca khúc theo phong cáchacoustic cho album phòng thu thứ tư.[4][5] Album mới của Lavigne mang tênGoodbye Lullaby, từng bị trì hoãn cho đến tháng 3 năm 2011 mới được phát hành chính thức.[6]

Lavigne hợp tác với các nhà sản xuấtMax Martin,Shellback,Butch WalkerDeryck Whibley để thực hiệnGoodbye Lullaby. Một trong những ca khúc của album, "What the Hell", là sản phẩm hợp tác giữa cô với Martin và Shellback.[7] Lavigne có mặt tại Thụy Điển để sáng tác ca khúc và hoàn tất quá trình thu âm trong hai tuần cùng Martin.[8][9] Theo phần ghi chú trong CD đĩa đơn, Michael Ilbert xử lý kỹ thuật âm thanh cho "What the Hell", trong khi phần trộn âm thanh được thực hiện bởiSerban Ghenea cùng John Hanes và Tim Roberts. Ở công đoạn hòa âm phối khí, Martin đảm nhận nhạc cụkeyboard, còn Shellback thì chơitrống,guitarbass.[10] Nhà phê bình Josh Langhoff từPopMatters nhận xét rằng cả Martin và Shellback đều mong muốn tạo ra một không khí tươi vui, phấn khích cho "What the Hell".[11]

Ngày 10 tháng 11 năm 2010, Lavigne công bố "What the Hell" là đĩa đơn đầu tiên trích từ albumGoodbye Lullaby.[12] Khi được hỏi về việc ca khúc này không hoàn toàn phù hợp với màu sắc chủ đạo của album, cô cho biết đây là quyết định chịu nhiều áp lực từ hãng đĩaRCA Records (thuộcSony Music) của cô. Họ mong muốn Lavigne tái hiện thành công thương mại vang dội của "Girlfriend" bằng cách sử dụng ca khúcpop rock sôi động, dễ tiếp cận trên sóng phát thanh làm bàn đạp truyền thông, qua đó giúp khán giả cởi mở hơn với những ca khúc acoustic mới mẻ của nữ ca sĩ trong album.[13][14] Bên cạnh đó, Lavigne còn phải đối mặt với một ê-kíp nhân sự mới tại hãng đĩa. Họ liên tục gây sức ép thị trường lên cô, tìm cách áp đặt định hướng riêng và thúc đẩy việc chuyển dịchGoodbye Lullaby sang phong cách sàn nhảy đang thịnh hành trên đài phát thanh thời điểm đó. Sau quá trình kiên trì đấu tranh và từ chối những áp lực này, Lavigne khẳng định cô đã bảo vệ được tầm nhìn nghệ thuật của mình, hoàn thiện album đúng như mong muốn ban đầu và giữ nguyên tinh thần acoustic.[15]

Nhạc và lời

[sửa |sửa mã nguồn]

"What the Hell" là một bài hát mang phong cách chương trình truyền hìnhDisney Channel,[16] có nhịp điệufrug pogo sôi động,[17][18] vớitiết tấu nhanh khiến người nghe liên tưởng đến những hit cũ của Lavigne.[6] Các nhà phê bình nhận xét bài hát có nét giống với "Complicated" (2002), "Sk8er Boi" (2002) và "Girlfriend".[a] Họ phân loại "What the Hell" thuộcbubblegum,[b]pop punk,[c]new wave,[25]rock,[26]power pop[19][30]rave.[31] Bài hát sử dụng nhiều loại nhạc cụ nhưFarfisa,[31] keyboard,[30] ống sáo,[17] đồng thời lồng ghép các yếu tố mang âm sắc đànorgan như giai điệugarage rock[d] và đoạnriff câu lạc bộCBGB.[27] "What the Hell" thể hiện khía cạnh nổi loạn của Lavigne khi cô khiến bạn trai chịu đau khổ về mặt tâm lý.[34] Lavigne chia sẻ rằng ca khúc truyền tải thông điệp về tự do cá nhân, mang tâm trạng vui nhộn, hài hước và đậm màu sắc pop nhất trongGoodbye Lullaby.[12][35] Nữ ca sĩ thể hiện bài hát bằng chất giọng hơi mũi,[18] với kỹ thuật luyến láyMelismatông giọng cao chipmunk được xử lý bằngAuto-Tune.[11]

"What the Hell" mở đầu với một đoạn riff retro giống phong cách garage rock của nhómThe Hives, kết hợp cùng tiếng vỗ tay.[30] Các phần lời chủ yếu miêu tả Lavigne từ một cô gái ngoan hiền, giờ đây cô trở nên điên cuồng, thích chơi bời, thay đổi bạn trai và thực hiện những trò chơi tâm lý.[17] Trước điệp khúc, cô thể hiện sự quyến rũ với bạn trai bằng câu hát: "You're on your knees / Begging "Please, stay with me" / [...] I just need to be a little crazy."[e][36] Điệp khúc của bài hát nổi bật với guitar mạnh mẽ và nhịp điệu dồn dập,[30] trong đó cô bào chữa cho việc không còn ngoan hiền: "All my life I've been good, but now / I am thinking what the hell"[f][11][37] và thách thức buông thả trong tình dục: "All I want is to mess around."[g][17][37] Giọng ca của cô khi ngân âm "whoa" được xử lý kỹ thuật quaPro Tools, trong khi "baby, baby" được thêm vào để tạo vần điệu.[36] Ở chuyển đoạnmiddle eight, cô tỏ ra ác ý với chàng trai: "I am messing with your head / When I'm messing with you on bed."[h][17][38] Cuối cùng, bài hát kết thúc bằng những tiếng ngân vang "la la la" của Lavigne.[19]

Phát hành và diễn biến thương mại

[sửa |sửa mã nguồn]

Ngày 1 tháng 1 năm 2011, Lavigne chính thức phát hành "What the Hell" và cho phép người hâm mộtải miễn phí bài hát trong vòng 48 giờ bằng cách truy cập và nhấn nút “Thích” trên trang Facebook chính thức của cô.[39][30] Sang ngày 7, RCA Records phát hành ca khúc lên trên các nền tảng nhạc số nhưAmazon,iTunes Store và website cửa hàng chính thức của Lavigne qua nền tảng MyPlay Direct.[40][41][42] Ba ngày sau, "What the Hell" được đưa lên các đài phát thanhadult contemporary,hot adult contemporarymodern adult contemporary tại Hoa Kỳ.[43] Về sau, bài hát xuất hiện trong album tuyển tậpGreatest Hits của Lavigne, phát hành vào năm 2024.[44]

Tại Hoa Kỳ, "What the Hell" ra mắt ở vị trí thứ 13 trên bảng xếp hạngBillboard Hot 100[45] và vươn lên cao nhất ở hạng 11.[46] Bài hát lần lượt đạt hạng 8 và 12 trên các bảng xếp hạng phát thanhMainstream Top 40Adult Pop Songs.[47][48] Năm 2024,Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ chứng nhận cho "What the Hell"đĩa 4× Bạch kim tương đương với 4 triệu đơn vị tiêu thụ.[49] Tại Canada, bài hát ra mắt ở vị trí cao nhất là hạng 8 trên bảng xếp hạngCanadian Hot 100.[50]Music Canada chứng nhận cho "What the Hell" đĩa 4× Bạch kim tương đương với 320.000 đơn vị tiêu thụ.[51] Bài hát đạt hạng 16 ở bảng xếp hạngUK Singles Chart của Anh Quốc và đượcHiệp hội Công nghiệp Ghi âm Anh chứng nhận đĩa Bạch kim.[52][53] Tại Úc, "What the Hell" đạt hạng 6 trênARIA Charts và đượcHiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc chứng nhận đĩa 2× Bạch kim.[54][55] Ở New Zealand, bài hát đạt hạng 5 và đượcRecorded Music NZ chứng nhận đĩa Bạch kim đơn.[56][57] "What the Hell" dẫn đầu bảng xếp hạngGaon Chart quốc tế của Hàn Quốc,[58] đồng thời đứng thứ 2, 5, 8 trên các bảng xếp hạngBillboard Japan Hot 100 của Nhật Bản,[59]Rádiós Top 40 của Hungary[60]Rádio – Top 100 của Slovakia.[61]

Đánh giá chuyên môn

[sửa |sửa mã nguồn]

"What the Hell" được giới phê bình đánh giá tích cực. Họ so sánh bài hát này với "Girlfriend", cho thấy âm nhạc của Lavigne đang chuyển hướng sang phong cách sôi động và dễ gây nghiện hơn.[9] Nick Levine củaDigital Spy dành tặng 5 sao, ca ngợi giai điệu "chua ngọt" của "What the Hell" và phong cách kiêu kì của Lavigne là "hơn cả một tờ khăn giấy bị quăng vào thùng rác".[27] Gil Kaufman củaMTV đánh giá cao nhịp điệu cổ vũ sôi động và gây nghiện của "What the Hell".[30] Nhà báoRob Sheffield củaRolling Stone đặt ca khúc vào danh sách 25 bài hát xuất sắc nhất năm 2011,[62] trong khi Jody Rosen cùng tạp chí thì xem "What the Hell" là một thánh ca mạnh mẽ của Lavigne và ví bài hát này giống như "liều thuốc kích thích".[17] Tương tự, Harrison Brocklehurst củaThe Tab gọi "What the Hell" là một "thánh ca dứt tình" đầy phóng khoáng và cuồng nhiệt với đoạn chuyển tiếp ấn tượng.[38] Theo nhận xét từ Andy Greenwald củaEntertainment Weekly, "What the Hell" hoàn toàn đủ sức giúp Lavigne củng cố vị thế trước nữ nghệ sĩ đương thời nhưKaty PerryKesha.[31]

Nhà báo Margaret Wappler từLos Angeles Times khen ngợi "What the Hell" là "tự tin và tươi mới", với âm thanh được ví như "cú dậm chân đầy lôi cuốn nằm đâu đó giữa lễ hộiWarped Tour và sân trượt patin thập niên 50".[63] Jonathan Keefe củaSlant Magazine, Michael Nelson củaStereogum và Kirsten Coachman củaBlogcritics đều đánh giá cao phần phối khí của Max Martin, với Keefe và Nelson nhận xét nó đã giúp đoạn điệp khúc trở nên bùng nổ.[64][65][66] Một số nhà phê bình như Al Fox củaBBC và Gary Graff củaBillboard chỉ ra rằng "What the Hell" là một bài hát nổi bật hẳn trong albumGoodbye Lullaby, vốn mang màu sắc acoustic trầm lắng.[26][67] Mischa Pearlman củaYahoo! Music khẳng định "What the Hell" là "ngoại lệ rõ nhất" trong một album bao trùm chủ đề thất tình, đồng thời là một bản pop vui tươi "ở đỉnh cao phong độ".[18] Marcus Gilmer từThe A.V. Club khẳng địnhGoodbye Lullaby chỉ thực sự "bừng tỉnh" khi Lavigne trở lại với những giai điệu đầy vui nhộn trong "What the Hell".[68] Ngược lại, Robert Copsey củaDigital Spy tỏ ra hoài nghi, cho rằng "What the Hell" mang tính "chiêu trò" và được bổ sung vào album vào phút cuối.[69]

Tuy nhiên, "What the Hell" đã làm dấy lên nhiều chỉ trích về mặt ca từ và bị cho là thiếu tínhđích thực (authenticity). Mặc dù chuyên giaStephen Thomas Erlewine chọn đây là ca khúc tiêu biểu củaGoodbye Lullaby nhưng anh cho rằng bài hát thể hiện lại "sự tinh nghịch khó kiềm chế" của Lavigne vốn không đem lại điều gì thú vị.[70] Viết cho tờThe Washington Post, Allison Stewart chê trách gay gắt "What the Hell" là "thật sự kinh khủng", cho rằng Lavigne nghe như một "phiên bản hạng B của Katy Perry chẳng hề vui vẻ gì".[28] Nhà phê bình Aidin Vaziri củaSan Francisco Chronicle nhận xét đĩa đơn giống như một bản "nhái Kesha lê thê" với "những vần điệu non nớt".[71] Nhà báo Dan Weiss củaThe Village Voice phê bình cách gieo vần trong "What the Hell" là "cẩu thả", tạo cảm giác như ngay cả Lavigne "còn ghét chính bài hát này".[36] Chad Grischow củaIGN phàn nàn "What the Hell" nghe "khó chịu về phần lời cũng như về mặt âm điệu",[72] còn Jim Farber từNew York Daily News thì bảo rằng bài hát này không có gì mới mẻ, chỉ đơn thuần là xào nấu lại các bản hit trước đây của Lavigne.[73]

Video âm nhạc

[sửa |sửa mã nguồn]

Bối cảnh và nội dung

[sửa |sửa mã nguồn]

Video âm nhạc (MV) của "What the Hell" doMarcus Raboy đạo diễn và được ghi hình từ ngày 3 đến ngày 5 tháng 12 năm 2010, ở hai định dạng phim 2D và3D.[74][75] Ngày đầu tiên, Lavigne có mặt tại trường quay để ghi hình cảnh cuối cùng của MV khi cô bước lên sân khấu. Ngày hôm sau, cô thực hiện cảnh lái xe taxi trong khi bạn trai đuổi theo bằng xe đạp. Sau đó, Lavigne góp mặt tại một cửa hàng đồ cũ, nơi dựng lên gian hàng bán các sản phẩm của thương hiệu Abbey Dawn mà cô sáng lập.[74] Mẹ và anh trai của Lavigne cũng xuất hiện trong MV.[9] Ngày cuối cùng của quá trình quay, cô thực hiện cảnh cướp taxi và sau đó tham gia chơi đùa cùng nhóm đàn ông tại sân bóng rổ.[74] Ở hậu trường, Lavigne bảo rằng khi cô xem lại đoạn phim 3D mà mình vừa quay bằng kính, cô có thể nhìn thấy tay của khán giả và cảm giác như đang xem một buổi biểu diễn trực tiếp trước đám đông.[76]

Trong hậu kỳ, đồng sáng lập Jerry Steele của hãng Steele Studios đảm nhận vai trò biên tập trực tuyến cho MV "What the Hell", chịu trách nhiệm giám sát khâu hậu kỳ 3D lập thể cũng như các công đoạn thẩm mỹ, chỉnh sửa hiệu ứng hình ảnh và tông màu. Đội ngũ sản xuất sử dụng hệ thống Quantel Pablo 4K để tận dụng các tính năng lập thể, giúp họ hiệu chỉnh hình ảnh chuẩn xác hơn. Cả hai bản thành phẩm 2D và 3D của MV "What the Hell" đều được xuất master sang định dạngHDCAM, trong đó phiên bản 3D được sản xuất theo chuẩn luồng kép 4:2:2. MV được chia thành 5 màn riêng biệt, với mỗi màn được xử lý 3D riêng lẻ. Do dự án chủ yếu nhắm đến phát sóng truyền hình thay vì chiếu rạp nên thông số chiều sâu hình ảnh đã được chủ ý giữ ở mức thấp. Phiên bản 2D của MV "What the Hell" được hoàn thiện vào khoảng ngày 21 tháng 1 năm 2011, còn phiên bản 3D thì vào ngày 2 tháng 2 năm 2011.[75]

MV "What the Hell" có sự xuất hiện của các sản phẩmSony như TV, máy tính xách tayVaio và điện thoạiEricsson. Nội dung xoay quanh một chàng bạn trai liên tục đuổi theo Lavigne, tất cả chỉ là những trò đùa tinh nghịch trong tình yêu của nữ ca sĩ. MV mở đầu với cảnh Lavigne và bạn trai thức dậy trong phòng ngủ. Cô mặc nội y ren, khoác chiếc áo sơ mi của bạn trai và xịt nước hoa Forbidden Rose thương hiệu của nữ ca sĩ. Rời phòng, Lavigne cướp một chiếc taxi để di chuyển ởthành phố New York. Bạn trai bắt đầu đuổi theo sau cô. Sau đó, Lavigne nhảy ra khỏi taxi, để xe va vào một chiếc ô tô khác đang đỗ. Cô đến sân bóng rổ, trêu đùa những người đàn ông ở đó và ném bóng vào rổ. Tiếp đến, Lavigne có mặt tại một cửa hàng đồ cũ và lựa chọn mua trang phục Abbey Dawn. Bối cảnh chuyển sang một hộp đêm nơi Lavigne biểu diễn trực tiếp cùng ban nhạc. Cô thực hiện động tác lướt trên đám đông và đáp xuống người bạn trai đang chờ sẵn. MV "What the Hell" kết thúc bằng cảnh cặp đôi cùng ngã trên giường.[77][78]

Phát hành và đón nhận

[sửa |sửa mã nguồn]
Avril Lavigne bước ra khỏi một chiếc taxi màu vàng đang di chuyển, chiếc xe taxi tông vào một chiếc xe khác đang đỗ.
Cảnh Lavigne cướp chiếc taxi và để nó lao vào một chiếc xe khác gợi liên tưởng đến loạt trò chơi điện tửGrand Theft Auto.[79]

Lavigne lần đầu hé lộ MV "What the Hell" thông qua một bài đăng trên website chính thức vào ngày 10 tháng 11 năm 2010. Trong bài viết này, cô cho biết sẽ bắt đầu quay video trong hai tuần tới và dự kiến phát hành vào tháng 1 năm 2011.[12] Ngày 10 tháng 1 năm 2011, đoạn video hậu trường thực hiện MV đã được đăng tải trên trang Facebook của Lavigne.[80] Ngày 23 tháng 1 năm 2011, MV "What the Hell" chính thức ra mắt lần đầu trên kênhABC Family.[76] Một thời gian sau, phiên bản 3D của MV được phát sóng trên kênhtruyền hình 3D3net.[75] Một buổi họp mặt người hâm mộ kết hợp trình chiếu bản dựng 3D của MV được tổ chức tại một rạp chiếu phim ở Luân Đôn.[81] MV "What the Hell" đã gặt hái thành công, giúp Lavigne lần đầu tiên lọt vào top 10 của bảng xếp hạng Social 50 củaBillboard. Tạp chí còn ghi nhận lượng người theo dõi mới của cô trên Facebook tăng 376% và lượt xem kênhYouTube tăng 302% chỉ trong một tuần.[82]

Matthew Perpetua củaRolling Stone khen ngợi MV "What the Hell" truyền tải trọn vẹn tinh thần phá cách của Lavigne, đồng thời khéo léo gắn kết thông điệp trong lời bài hát với những tình huống hài hước, tinh nghịch và mang màu sắc của một sitcom truyền hình.[20] Dan Weiss củaThe Village Voice nhận xét rằng hình ảnh tóc vàng hồng của Lavigne trong MV giống như một "món quà chia tay ngượng ngùng" dành cho những người hâm mộ của cô trong kỷ nguyênThe Best Damn Thing.[36] Chris Rio củaCracked.com châm biếm cảnh Lavigne cướp taxi và để nó tự động đâm vào xe khác tựa như loạt trò chơi điện tửGrand Theft Auto, đồng thời chỉ trích cô đã "lãng mạn hóa" hành động trộm cắp và phá hoại tài sản, rồi coi đó là biểu hiện của lối sống tự do, nổi loạn.[79] Melinda Newman củaUproxx đánh giá MV tiêu cực, cho rằng Lavigne thiếu sự trưởng thành và diễn xuất còn gượng gạo. Cô gọi MV này là một "lễ hội quảng cáo" với quá nhiều sản phẩm được lồng ghép lộ liễu.[83] Tương tự, Mischa Pearlman từ Yahoo! Music chỉ trích MV vì chứa nhiều cảnh gợi dục và việc quảng cáo sản phẩm là kém chuyên nghiệp.[18]

Biểu diễn trực tiếp

[sửa |sửa mã nguồn]

Ngày 1 tháng 1 năm 2011, Lavigne lần đầu biểu diễn "What the Hell" trên chương trình âm nhạc đón giao thừaDick Clark's New Year's Rockin' Eve With Ryan Seacrest 2011.[6][39] Trong năm 2011, cô tiếp tục quảng bá ca khúc thông qua các buổi biểu diễn trực tiếp nhưDaybreak,[84]Walmart Soundcheck,[85]Live Lounge củaBBC Radio 1,[86]The View,[87]Today,[88]The Tonight Show with Jay Leno,[89]Z100 New York,[90]Jimmy Kimmel Live!,[91] AOL Sessions,[92]Giải Video MuchMusic[93]Big Morning Buzz Live.[94] "What the Hell" cũng được đưa vào danh sách tiết mục của nhiều chuyến lưu diễn lớn do Lavigne chủ trì gồmBlack Star Tour (2011–2012),[95]The Avril Lavigne Tour (2013–2014),[96]Head Above Water Tour (2019),[97]Love Sux Tour (2022–2023)[98]Greatest Hits Tour (2024–2025).[99] Khi đi diễn, Lavigne cho biết cô thường khởi động bằng cách hát chay "What the Hell" không có nhạc đệm (a cappella). Với một ca khúc như vậy, để có thể biểu diễn đều đặn mỗi tối, cô nói rằng mình phải đặc biệt giữ gìn giọng hát và chú ý đến các kỹ thuật thanh nhạc, chẳng hạn như thu hẹp nguyên âm thay vì mở rộng. Trong tiết mục "What the Hell", Lavigne sử dụng giọng óc giả thanh ở một số nốt và áp dụng nhiều mẹo kỹ thuật nhằm đảm bảo chất lượng giọng hát.[9]

Giải thưởng và đề cử

[sửa |sửa mã nguồn]
Danh sách giải thưởng và đề cử của "What the Hell"
Giải thưởngNămHạng mụcKết quảCt.
Giải thưởng Âm nhạcBillboard Nhật Bản2011Bài hát Hot 100 Airplay của nămĐoạt giải[100]
Giải Video MuchMusicVideo quốc tế xuất sắc nhất của nghệ sĩ CanadaĐề cử[101]
Bình chọn của khán giả: Nghệ sĩ được yêu thích nhấtĐề cử
Giải BMI Pop2012Bài hát thắng giảiĐoạt giải[102]
Giải BMI Luân ĐônĐoạt giải[103]

Danh sách bài hát

[sửa |sửa mã nguồn]
  1. "What the Hell" – 3:39
  1. "What the Hell" – 3:39
  2. "What the Hell" (Instrumental) – 3:39

  • Đĩa đơn CD Nhật Bản[104]
  1. "What the Hell"  – 3:39
  2. "Alice" (Extended Version) – 5:00
  3. "What the Hell" (Instrumental) – 3:39

Đội ngũ sản xuất

[sửa |sửa mã nguồn]

Thông tin phần ghi công được lấy từ ghi chú CD đĩa đơn của bài hát.[10]

Địa điểm
Đội ngũ
  • Giọng hát chính –Avril Lavigne
  • Sáng tác – Avril Lavigne,Max Martin,Shellback
  • Sản xuất và thu âm – Max Martin, Shellback tại Maratone Studios
  • Kỹ thuật âm thanh – Michael Ilbert
  • Trộn âm –Serban Ghenea tại MixStar Studios
  • Kỹ thuật trộn âm – John Hanes
  • Hỗ trợ kỹ thuật trộn âm – Tim Roberts
  • Trống, guitar và bass – Shellback
  • Keyboard – Max Martin

Bảng xếp hạng

[sửa |sửa mã nguồn]

Xếp hạng hàng tuần

[sửa |sửa mã nguồn]
Bảng xếp hạng hàng tuần năm 2011 của "What the Hell"
Bảng xếp hạng (2011)Vị trí
cao nhất
Úc (ARIA)[54]6
Áo (Ö3 Austria Top 40)[105]20
Bỉ (Ultratop 50 Flanders)[106]16
Bỉ (Ultratop 50 Wallonia)[107]13
Canada (Canadian Hot 100)[50]8
CanadaCHR/Top 40 (Billboard)[108]16
CanadaHot AC (Billboard)[109]8
Cộng hòa Séc (Rádio Top 100)[110]2
Châu ÂuDigital Songs (Billboard)[111]17
Pháp (SNEP)[112]18
Đức (GfK)[113]21
Hungary (Rádiós Top 40)[60]5
Ireland (IRMA)[114]30
Ý (FIMI)[115]15
Nhật BảnBillboardHot 100[59]2
Nhật Bản Adult Contemporary Airplay (Billboard)[116]1
Nhật Bản (Oricon)[117]15
Hà Lan (Dutch Top 40)[118]30
Hà Lan (Single Top 100)[119]51
New Zealand (Recorded Music NZ)[56]5
Scotland (OCC)[120]14
Slovakia (Rádio Top 100)[61]8
Hàn Quốc (Gaon International Singles)[58]1
Thụy Điển (Sverigetopplistan)[121]51
Thụy Sĩ (Schweizer Hitparade)[122]18
Anh Quốc (OCC)[52]16
Hoa KỳBillboard Hot 100[46]11
Hoa KỳPop Airplay (Billboard)[47]8
Hoa KỳAdult Pop Airplay (Billboard)[48]12

Xếp hạng cuối năm

[sửa |sửa mã nguồn]
Bảng xếp hạng cuối năm 2011 của "What the Hell"
Bảng xếp hạng (2011)Vị trí
Úc (ARIA)[123]50
Bỉ (Ultratop 50 Flanders)[124]94
Canada (Canadian Hot 100)[125]63
Hungary (Rádiós Top 40)[126]82
Nhật Bản (Japan Hot 100)[127]10
Lebanon (The Official Lebanese Top 20)[128]57
Hàn Quốc (Gaon International Singles)[129]6
Anh Quốc Singles (OCC)[130]142
Hoa KỳBillboard Hot 100[131]62
Hoa Kỳ Pop Airplay (Billboard)[132]42
Hoa Kỳ Adult Pop Airplay (Billboard)[133]40

Chứng nhận

[sửa |sửa mã nguồn]
Quốc giaChứng nhậnSố đơn vị/doanh số chứng nhận
Úc (ARIA)[55]2× Bạch kim140.000^
Canada (Music Canada)[51]4× Bạch kim320.000
Ý (FIMI)[134]Vàng15.000*
Nhật Bản (RIAJ)[135]
Đĩa đơn kỹ thuật số
2× Bạch kim500.000*
México (AMPROFON)[136]Vàng30.000*
New Zealand (RMNZ)[57]Bạch kim15.000*
Hàn Quốc798.673[137]
Anh Quốc (BPI)[53]Bạch kim600.000
Hoa Kỳ (RIAA)[49]4× Bạch kim4.000.000

* Chứng nhận dựa theo doanh số tiêu thụ.
^ Chứng nhận dựa theo doanh số nhập hàng.
Chứng nhận dựa theo doanh số tiêu thụ vàphát trực tuyến.

Lịch sử phát hành

[sửa |sửa mã nguồn]
Ngày phát hành và định dạng của "What the Hell"
Quốc giaNgàyĐịnh dạngPhiên bảnHãng thu âmCt.
Nhiều1 tháng 1 năm 2011 (2011-01-01)Tải kỹ thuật sốGốc[39]
7 tháng 1 năm 2011 (2011-01-07)
[i]
10 tháng 1 năm 2011 (2011-01-10)
  • Gốc
  • instrumental
[j]
Hoa Kỳ
  • Gốc
[43]
Nhật Bản2 tháng 2 năm 2011 (2011-02-02)CD
  • Gốc
  • instrumental
  • "Alice" B-side
[104]
Hoa Kỳ8 tháng 2 năm 2011 (2011-02-08)[158]
Hàn Quốc
  • Gốc
  • instrumental
[159]
Đức11 tháng 2 năm 2011 (2011-02-11)
  • Tải kỹ thuật số
  • phát trực tuyến
Gốc[160]
25 tháng 2 năm 2011 (2011-02-25)CD
  • Gốc
  • instrumental
[161]
Hoa Kỳ1 tháng 3 năm 2011 (2011-03-01)[162]
Nhiều4 tháng 3 năm 2011 (2011-03-04)
  • Tải kỹ thuật số
  • phát trực tuyến
  • Gốc
  • acoustic
  • Bimbo Jones remix
[163]

Chú thích

[sửa |sửa mã nguồn]

Ghi chú

[sửa |sửa mã nguồn]
  1. ^Nguồn từAccess Hollywood,[19]Rolling Stone,[20]Billboard,[21] AOL Radio,[22]The Boston Globe[23]Variety.[24]
  2. ^Nguồn từRolling Stone,[17]The New York Times,[25] BBC Music[26]Digital Spy.[27]
  3. ^Nguồn từDigital Spy,[27]The Washington Post[28]Idolator.[29]
  4. ^Nguồn từRolling Stone,[17]Spin[32]The Guardian.[33]
  5. ^Tạm dịch: "Anh đang quỳ gối xuống / Van nài "làm ơn, hãy ở lại bên anh" / [...] Em chỉ muốn điên cuồng một xíu thôi."
  6. ^Tạm dịch: "Xưa giờ em đã ngoan hiền đủ rồi, nhưng mà bây giờ / Em tính sẽ mặc kệ luôn cái đời này."
  7. ^Tạm dịch: "Em chỉ muốn quậy tưng bừng một chuyến."
  8. ^Tạm dịch: "Em đang làm cho anh rối trí thật đấy / Khi em 'vờn' anh ở trên giường."
  9. ^"What the Hell" được phát hành vào ngày 7 tháng 1 năm 2011 tại các quốc gia: Bỉ,[138] Canada,[139] Hy Lạp,[140] Ý,[141] Luxembourg,[142] Mexico,[143] Na Uy,[144] Thụy Điển,[145] Thụy Sĩ[146] và Hoa Kỳ.[41]
  10. ^"What the Hell" và phiên bản instrumental được phát hành vào ngày 10 tháng 1 năm 2011 tại các quốc gia: Úc,[147] Đan Mạch,[148] Phần Lan,[149] Pháp,[150] Ireland,[151] Hà Lan,[152] New Zealand,[153] Bồ Đào Nha,[154] Tây Ban Nha[155] và Anh Quốc.[156][157]

Tham khảo

[sửa |sửa mã nguồn]
  1. ^Burlingame 2010, tr. 80–81.
  2. ^Burlingame 2010, tr. 78.
  3. ^Burlingame 2010, tr. 86.
  4. ^Pastorek, Whitney (ngày 24 tháng 7 năm 2009)."Avril Lavigne in the studio: An EW exclusive!" [Avril Lavigne đã vào phòng thu: Tin độc quyền từ EW!].Entertainment Weekly (bằng tiếng Anh).Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  5. ^Anderson, Kyle (ngày 28 tháng 7 năm 2009)."Avril Lavigne To Go Acoustic For New Album" [Avril Lavigne theo đuổi acoustic trong album mới] (bằng tiếng Anh).MTV.Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  6. ^abcGreenblatt, Leah (ngày 27 tháng 12 năm 2010)."Avril Lavigne talks about her new album, (sort of) working with Rihanna, and where she'll be New Years Eve: An EW Q&A" [Avril Lavigne nói về album mới của cô ấy, chuyện hợp tác đôi chút với Rihanna và cô ấy sẽ đi đâu vào đêm giao thừa: Phỏng vấn của EW].Entertainment Weekly (bằng tiếng Anh).Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  7. ^Avril Lavigne (2011).Goodbye Lullaby (Expanded Edition) (Ghi chú album 2×LP) (bằng tiếng Anh).RCA Records;Sony Music. 8-719262-002555.Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  8. ^Vena, Jocelyn (ngày 8 tháng 3 năm 2011)."Avril Lavigne Describes The 'Magic' Of Working With Max Martin" [Avril Lavigne miêu tả 'phép màu' khi làm việc với Max Martin] (bằng tiếng Anh).MTV.Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  9. ^abcdMoeslein, Anna (ngày 25 tháng 2 năm 2022)."For Avril Lavigne, It's Never Been That Complicated" [Đối với Avril Lavigne, mọi thứ chưa bao giờ là complicated].Glamour (bằng tiếng Anh).Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2025.
  10. ^abcAvril Lavigne (2011).What the Hell (Ghi chú đĩa đơn CD) (bằng tiếng Anh).RCA Records;Sony Music. 8-8697-83152-2.
  11. ^abcLanghoff, Josh (ngày 16 tháng 3 năm 2011)."Avril Lavigne: Goodbye Lullaby" [Avril Lavigne: Goodbye Lullaby].PopMatters (bằng tiếng Anh).Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  12. ^abcDinh, James (ngày 10 tháng 11 năm 2010)."Avril Lavigne Explains Album's Delay In Letter To Fans" [Avril Lavigne giải thích việc cô chậm trễ ra mắt album trong bức thư gửi người hâm mộ] (bằng tiếng Anh).MTV.Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  13. ^Wilkes, Neil (ngày 22 tháng 2 năm 2011)."Interview: Avril Lavigne" [Phỏng vấn: Avril Lavigne] (bằng tiếng Anh).Digital Spy.Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  14. ^Snapes, Laura (ngày 14 tháng 1 năm 2019)."The G2 interview: Still complicated: Avril Lavigne: 'I've had to fight people on this journey'" [Bài phỏng vấn trên G2: Vẫn là Complicated: Avril Lavigne: 'Tôi đã phải chiến đấu với nhiều người xuyên suốt hành trình này'].The Guardian (bằng tiếng Anh).Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2025.
  15. ^Lipshutz, Jason (ngày 8 tháng 3 năm 2011)."Avril Lavigne Battles Her Label, Works with Ex-Husband on 'Goodbye Lullaby'" [Avril Lavigne đấu tranh với hãng đĩa, làm việc với chồng cũ trong album 'Goodbye Lullaby'].Billboard (bằng tiếng Anh).Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2025.
  16. ^Rizvi, Shahryar (ngày 20 tháng 1 năm 2011)."The Problem With... Avril Lavigne's "What the Hell"" [Vấn đề nằm ở... "What the Hell" của Avril Lavigne].Dallas Observer (bằng tiếng Anh).Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2025.
  17. ^abcdefghRosen, Jody (ngày 29 tháng 12 năm 2010)."Avril Lavigne "What the Hell"" [Avril Lavigne "What the Hell"].Rolling Stone (bằng tiếng Anh).Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  18. ^abcdPearlman, Mischa (ngày 9 tháng 3 năm 2011)."Avril Lavigne - 'Goodbye Lullaby'" [Avril Lavigne - 'Goodbye Lullaby'] (bằng tiếng Anh).Yahoo! Music.Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  19. ^abcHughes, Breanna (ngày 5 tháng 1 năm 2011)."On The Download: Avril Lavigne's 'What The Hell'" [Bàn về tải nhạc: 'What The Hell' của Avril Lavigne].Access Hollywood (bằng tiếng Anh).Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  20. ^abPerpetua, Matthew (ngày 24 tháng 1 năm 2010)."Avril Lavigne Cuts Loose in 'What the Hell'" [Avril Lavigne xõa hết mình trong 'What the Hell'].Rolling Stone (bằng tiếng Anh).Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  21. ^Lipshutz, Jason (ngày 8 tháng 1 năm 2011)."Singles Reviews: Avril Lavigne: What the Hell (3:39)" [Đánh giá đĩa đơn: Avril Lavigne: What the Hell (3:39)].Billboard (bằng tiếng Anh). Quyển 123 số 1. tr. 49.ISSN 0006-2510. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025 – quaGoogle Books.
  22. ^Chau, Thomas (ngày 1 tháng 1 năm 2011)."Avril Lavigne, 'What the Hell' -- New Song" [Avril Lavigne, 'What the Hell' -- Bài hát mới] (bằng tiếng Anh).AOL Radio Blog. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  23. ^Rodman, Sarah (ngày 8 tháng 3 năm 2011)."Avril Lavigne: "Goodbye Lullaby"" [Avril Lavigne: "Goodbye Lullaby"].The Boston Globe (bằng tiếng Anh).Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  24. ^Shafer, Ellise (ngày 25 tháng 2 năm 2022)."Avril Lavigne's Musical Evolution, From 'Sk8er Boi' to 'Bite Me'" [Quá trình tiến hóa âm nhạc của Avril Lavigne, từ 'Sk8er Boi' đến 'Bite Me'].Variety (bằng tiếng Anh).Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  25. ^abPareles, Jon;Ratliff, Ben;Caramanica, Jon (ngày 7 tháng 3 năm 2011)."Critics' Choice: New CDs" [Lựa chọn của nhà phê bình: CD mới].The New York Times (bằng tiếng Anh).Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  26. ^abcFox, Al (ngày 25 tháng 2 năm 2011)."Avril Lavigne Goodbye Lullaby Review" [Đánh giá Goodbye Lullaby của Avril Lavigne] (bằng tiếng Anh).BBC.Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  27. ^abcdLevine, Nick (ngày 12 tháng 1 năm 2011)."Avril Lavigne: 'What The Hell'" [Avril Lavigne: 'What The Hell'] (bằng tiếng Anh).Digital Spy.Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  28. ^abStewart, Allison (ngày 7 tháng 3 năm 2011)."Album review: Avril Lavigne's 'Goodbye Lullaby'" [Đánh giá album: 'Goodbye Lullaby' của Avril Lavigne].The Washington Post (bằng tiếng Anh).Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  29. ^"Avril Lavigne Raises "What The Hell" On New Year's Eve" [Avril Lavigne hát "What The Hell" vào đêm giao thừa].Idolator (bằng tiếng Anh). ngày 1 tháng 1 năm 2011.Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  30. ^abcdefKaufman, Gil (ngày 3 tháng 1 năm 2011)."Avril Lavigne Says 'What The Hell' With Infectious New Single" [Avril Lavigne thốt lên 'What The Hell' qua đĩa đơn mới đầy lôi cuốn] (bằng tiếng Anh).MTV.Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  31. ^abcGreenwald, Andy (ngày 2 tháng 3 năm 2011)."Music Review: Goodbye Lullaby" [Đánh giá âm nhạc: Goodbye Lullaby].Entertainment Weekly (bằng tiếng Anh).Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  32. ^Wood, Mikael (ngày 8 tháng 3 năm 2011)."Avril Lavigne, 'Goodbye Lullaby' (RCA)" [Avril Lavigne, 'Goodbye Lullaby' (RCA)].Spin (bằng tiếng Anh).Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  33. ^Petridis, Alexis (ngày 20 tháng 6 năm 2024)."It's complicated: Avril Lavigne's 20 best songs – ranked!" [Thật phức tạp: 20 bài hát hay nhất của Avril Lavigne – được xếp hạng!].The Guardian (bằng tiếng Anh).Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  34. ^Rosen, Jody (ngày 8 tháng 3 năm 2011)."Goodbye Lullaby by Avril Lavigne" [Goodbye Lullaby của Avril Lavigne].Rolling Stone (bằng tiếng Anh).Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  35. ^Montgomery, James (ngày 22 tháng 11 năm 2010)."Avril Lavigne Says Her New Album 'Is A Departure'" [Avril Lavigne cho biết album mới của cô 'là một sự khởi đầu mới'] (bằng tiếng Anh).MTV.Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  36. ^abcdWeiss, Dan (ngày 9 tháng 3 năm 2011)."The Lost Youth of Avril Lavigne" [Tuổi trẻ đã mất của Avril Lavigne].The Village Voice (bằng tiếng Anh).Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  37. ^abHolz, Adam R."Album Review: Goodbye Lullaby" [Đánh giá album: Goodbye Lullaby].Plugged In (bằng tiếng Anh).Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  38. ^abBrocklehurst, Harrison (ngày 11 tháng 11 năm 2021)."Attention rock chicks! Every Avril Lavigne single ranked from worst to best" [Xin chào các cô nàng nhạc rock! Mỗi đĩa đơn của Avril Lavigne được xếp hạng từ tệ nhất đến hay nhất].The Tab (bằng tiếng Anh).Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  39. ^abcDinh, James (ngày 28 tháng 12 năm 2010)."Avril Lavigne Offers Free Download Of 'What The Hell'" [Avril Lavigne cho tải xuống miễn phí 'What The Hell'] (bằng tiếng Anh).MTV.Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  40. ^"What The Hell" (bằng tiếng Anh).Amazon.Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  41. ^abc"What the Hell – Single (US)" (bằng tiếng Anh).iTunes Store.Apple Inc.Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  42. ^ab"What the Hell" (bằng tiếng Anh).RCA Records;Sony Music.Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025 – qua MyPlay Direct.
  43. ^ab"Hot/Modern/AC Future Releases" [Phát hành Hot/Modern/AC tương lai] (bằng tiếng Anh). All Access Music Group.Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  44. ^Paul, Larisha (ngày 10 tháng 5 năm 2024)."Avril Lavigne's Greatest Hits Album Will Celebrate 'the Best Damn Thing' and Her Best Damn Songs" [Album Greatest Hits của Avril Lavigne sẽ ăn mừng 'The Best Damn Thing' và những bài hát hay nhất của cô ấy].Rolling Stone (bằng tiếng Anh).Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  45. ^Trust, Gary (ngày 19 tháng 1 năm 2011)."Britney Spears' 'Hold It Against Me' Debuts Atop Hot 100" ['Hold It Against Me' của Britney Spears ra mắt ở vị trí đầu bảng Hot 100].Billboard (bằng tiếng Anh).Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  46. ^ab"Avril Lavigne Chart History (Hot 100)".Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  47. ^ab"Avril Lavigne Chart History (Pop Songs)".Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  48. ^ab"Avril Lavigne Chart History (Adult Pop Songs)".Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  49. ^ab"Chứng nhận đĩa đơn Hoa Kỳ – Avril Lavigne – What the Hell" (bằng tiếng Anh).Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  50. ^ab"Avril Lavigne Chart History (Canadian Hot 100)".Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  51. ^ab"Chứng nhận đĩa đơn Canada – Avril Lavigne – What The Hell" (bằng tiếng Anh).Music Canada. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  52. ^ab"Official Singles Chart Top 100" (bằng tiếng Anh).Official Charts Company. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  53. ^ab"Chứng nhận đĩa đơn Anh Quốc – Avril Lavigne – What the Hell" (bằng tiếng Anh).British Phonographic Industry. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  54. ^ab"Australian-charts.com – Avril Lavigne – What the Hell" (bằng tiếng Anh).ARIA Top 50 Singles. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  55. ^ab"ARIA Charts – Accreditations – 2011 Singles"(PDF) (bằng tiếng Anh).Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  56. ^ab"Charts.nz – Avril Lavigne – What the Hell" (bằng tiếng Anh).Top 40 Singles. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  57. ^ab"Chứng nhận đĩa đơn New Zealand – Avril Lavigne – What The Hell" (bằng tiếng Anh). Radioscope. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.NhậpWhat The Hell trong mục "Search:".
  58. ^ab2011년 4주차 International Digital Chart (bằng tiếng Hàn).Gaon Chart.Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  59. ^abBillboard Japan Hot 100 – 2011年 1月 24日 公開.Billboard Japan (bằng tiếng Nhật).Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  60. ^ab"Archívum – Slágerlisták – MAHASZ" (bằng tiếng Hungary).Rádiós Top 40 játszási lista. Magyar Hanglemezkiadók Szövetsége. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  61. ^ab"ČNS IFPI" (bằng tiếng Slovakia). Hitparáda – Radio Top 100 Oficiálna. IFPI Cộng hòa Séc.Ghi chú: Chọn 07. týden 2011 trong mục ngày. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  62. ^Sheffield, Rob (ngày 21 tháng 12 năm 2011)."The Top 25 Songs of 2011" [25 bài hát xuất sắc nhất năm 2011].Rolling Stone (bằng tiếng Anh).Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  63. ^Wappler, Margaret (ngày 8 tháng 3 năm 2011)."Album review: Avril Lavigne's 'Goodbye Lullaby'" [Đánh giá album: 'Goodbye Lullaby' của Avril Lavigne].Los Angeles Times (bằng tiếng Anh).Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  64. ^Keefe, Jonathan (ngày 6 tháng 3 năm 2011)."Review: Avril Lavigne, Goodbye Lullaby" [Đánh giá: Avril Lavigne, Goodbye Lullaby].Slant Magazine (bằng tiếng Anh).Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  65. ^Nelson, Michael (ngày 26 tháng 3 năm 2015)."30 Essential Max Martin Songs" [30 bài hát hay nhất của Max Martin].Stereogum (bằng tiếng Anh).Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  66. ^Coachman, Kirsten (ngày 14 tháng 1 năm 2011)."Music Review: Avril Lavigne – "What The Hell"" [Đánh giá âm nhạc: Avril Lavigne – "What The Hell"] (bằng tiếng Anh).Blogcritics.Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  67. ^Graff, Gary (ngày 3 tháng 3 năm 2011)."Avril Lavigne, "Goodbye Lullaby"" [Avril Lavigne, "Goodbye Lullaby"].Billboard (bằng tiếng Anh).Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  68. ^Gilmer, Marcus (ngày 8 tháng 3 năm 2011)."Goodbye Lullaby" [Goodbye Lullaby].The A.V. Club (bằng tiếng Anh).Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  69. ^Copsey, Robert (ngày 7 tháng 3 năm 2011)."Avril Lavigne: 'Goodbye Lullaby'" [Avril Lavigne: 'Goodbye Lullaby'] (bằng tiếng Anh).Digital Spy.Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  70. ^Erlewine, Stephen Thomas."Goodbye Lullaby - Avril Lavigne" [Goodbye Lullaby - Avril Lavigne] (bằng tiếng Anh).AllMusic.Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  71. ^Vaziri, Aidin (ngày 6 tháng 3 năm 2011)."Avril Lavigne, 'Goodbye Lullaby' review: sales aid" [Avril Lavigne, đánh giá 'Goodbye Lullaby': thúc đẩy doanh số].San Francisco Chronicle (bằng tiếng Anh).Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  72. ^Grischow, Chad (ngày 14 tháng 3 năm 2011)."Avril Lavigne: Goodbye Lullaby Review" [Avril Lavigne: Đánh giá Goodbye Lullaby].IGN (bằng tiếng Anh).Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  73. ^Farber, Jim (ngày 8 tháng 3 năm 2011)."Avril Lavigne's 'Goodbye Lullaby' is a musical bait & switch that doesn't stray far from past albums" ['Goodbye Lullaby' của Avril Lavigne là một trò treo đầu dê bán thịt chó của âm nhạc, thực tế lại không khác gì nhiều so với những album trước].New York Daily News (bằng tiếng Anh).Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  74. ^abcWhat the Hell (Hậu trường) (bằng tiếng Anh).RCA Records;Sony Music.Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025 – quaYouTube.
  75. ^abc"Q&A;: Jerry Steele on Posting Avril Lavigne in Stereo" [Hỏi đáp;: Jerry Steele bàn về việc đăng hình ảnh Avril Lavigne với hiệu ứng stereo].Studio Daily (bằng tiếng Anh). ngày 4 tháng 3 năm 2011.Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  76. ^abVena, Jocelyn (ngày 19 tháng 1 năm 2011)."Avril Lavigne 'Really Excited To Be Back' With 'What The Hell'" [Avril Lavigne 'thực sự hào hứng khi trở lại' với 'What The Hell'] (bằng tiếng Anh).MTV.Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  77. ^Ziegbe, Mawuse (ngày 23 tháng 1 năm 2011)."Avril Lavigne Plays Hard To Get In 'What The Hell' Video" [Avril Lavigne đùa giỡn khó gần trong video 'What The Hell'] (bằng tiếng Anh).MTV.Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  78. ^"Avril Lavigne's new video is heavy on product placement" [Video mới của Avril Lavigne lồng ghép nhiều sản phẩm] (Thông cáo báo chí) (bằng tiếng Anh).Pressparty. ngày 26 tháng 1 năm 2011.Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  79. ^abRio, Chris (ngày 22 tháng 10 năm 2016)."5 Bizarrely Specific Things Musicians Keep Singing About" [5 chủ đề kỳ lạ mà các nhạc sĩ vẫn hát về] (bằng tiếng Anh).Cracked.com.Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  80. ^Collins, Leah (ngày 10 tháng 1 năm 2011)."Preview Avril Lavigne's New 3-D Video" [Xem trước video 3D mới của Avril Lavigne].Dose (bằng tiếng Anh).Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  81. ^"WTH Fan 3D Experience" [Buổi trải nghiệm xem WTH 3D cùng người hâm mộ] (bằng tiếng Anh).RCA Records;Sony Music. ngày 18 tháng 3 năm 2011.Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2025 – quaYouTube.
  82. ^Caulfield, Keith (ngày 3 tháng 2 năm 2011)."Avril Lavigne Gives 'Em 'Hell' with Social 50 Leap" [Avril Lavigne gây nên chuyện 'quái quỷ' với cú nhảy vọt trên bảng xếp hạng Social 50].Billboard (bằng tiếng Anh).Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  83. ^Newman, Melinda (ngày 24 tháng 1 năm 2011)."Watch: Avril Lavigne's video for 'What the Hell'" [Xem: Video 'What the Hell' của Avril Lavigne].Uproxx (bằng tiếng Anh).Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  84. ^Daybreak (bằng tiếng Anh). ngày 15 tháng 2 năm 2011. 150 phút.ITV.
  85. ^"Avril Lavigne does Walmart Soundcheck" [Avril Lavigne biểu diễn cho Walmart Soundcheck] (Thông cáo báo chí) (bằng tiếng Anh).Pressparty. ngày 4 tháng 3 năm 2011.Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  86. ^"Avril Lavigne - What The Hell, in Radio 1's Live Lounge" [Avril Lavigne - What The Hell, tại Live Lounge của Radio 1] (bằng tiếng Anh).BBC Radio 1. ngày 8 tháng 3 năm 2011.Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  87. ^The View (bằng tiếng Anh). ngày 9 tháng 3 năm 2011. 60 phút.ABC.
  88. ^Today. Mùa 61. Tập 67 (bằng tiếng Anh). ngày 8 tháng 3 năm 2011. 165 phút.NBC.
  89. ^Avril Lavigne;Chris Matthews;Jane Lynch (ngày 14 tháng 3 năm 2011).The Tonight Show with Jay Leno. Mùa 19. Tập 46 (bằng tiếng Anh). 45 phút.NBC.
  90. ^"Avril Lavigne's Live Z100 Concert" [Sân khấu Z100 trực tiếp của Avril Lavigne] (bằng tiếng Anh).Z100 New York.Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  91. ^Avril Lavigne;Jane Lynch;David Boreanaz (ngày 15 tháng 3 năm 2011).Jimmy Kimmel Live!. Mùa 9. Tập 37 (bằng tiếng Anh). 45 phút.ABC.
  92. ^Hensel, Amanda (ngày 29 tháng 7 năm 2011)."Avril Lavigne Reveals That She's Actually Pretty Shy" [Avril Lavigne tiết lộ rằng thật ra cô khá nhút nhát].PopCrush (bằng tiếng Anh).Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  93. ^Sciarretto, Amy (ngày 19 tháng 6 năm 2011)."Avril Lavigne Drops 'F' Bomb During MuchMusic Awards Performance of 'What the Hell'" [Avril Lavigne buông lời chửi thề trong màn trình diễn 'What the Hell' Tại MuchMusic Awards].PopCrush (bằng tiếng Anh).Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  94. ^Avril Lavigne;Tony Bennett;Jason Schwartzman (ngày 23 tháng 11 năm 2011).Big Morning Buzz Live. Mùa 1. Tập 228 (bằng tiếng Anh). 48 phút.VH1.
  95. ^Colombo, Patrícia (ngày 28 tháng 7 năm 2011)."Avril Lavigne mistura hits e novas faixas em show em São Paulo" [Avril Lavigne pha trộn các bản hit và ca khúc mới trong buổi biểu diễn tại São Paulo].Rolling Stone Brasil (bằng tiếng Bồ Đào Nha).Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  96. ^Ruiz, Paula; Jasso, Alejandro (ngày 14 tháng 5 năm 2014)."Encanta Avril Lavigne en Monterrey" [Avril Lavigne làm say mê khán giả ở Monterrey].Reforma (bằng tiếng Tây Ban Nha).Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  97. ^Darus, Alex (ngày 16 tháng 9 năm 2019)."Avril Lavigne kicks off first tour in five years with career-spanning setlist" [Avril Lavigne khởi động chuyến lưu diễn đầu tiên sau 5 năm với danh sách bài hát trải dài cả sự nghiệp].Alternative Press (bằng tiếng Anh).Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  98. ^Kelly, Hana (ngày 7 tháng 5 năm 2023)."Review: Pop punk royalty Avril Lavigne brought nostalgia to the O2 Apollo this coronation weekend" [Đánh giá: Ngôi sao nhạc pop punk Avril Lavigne đã mang nỗi nhớ về O2 Apollo vào cuối tuần lễ đăng quang này].Manchester Evening News (bằng tiếng Anh).Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  99. ^"See the setlist from the first night of Avril Lavigne's Greatest Hits tour" [Xem danh sách tiết mục trong đêm đầu tiên của chuyến lưu diễn Greatest Hits của Avril Lavigne].Alternative Press (bằng tiếng Anh). ngày 23 tháng 5 năm 2024.Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  100. ^Kurisu Pepura; Yashio Keiko (ngày 3 tháng 3 năm 2012)."Billboard JAPAN Music Awards 2011 Special TV Program" [Chương trình truyền hình đặc biệt Billboard JAPAN Music Awards] (bằng tiếng Nhật).TV Osaka.Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  101. ^"MMVA 2011 Nominees" [Đề cử MMVA 2011] (bằng tiếng Anh).Giải Video MuchMusic.Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  102. ^"Carole King Named BMI Icon at 60th Annual BMI Pop Awards" [Carole King được vinh danh là Biểu tượng BMI tại Giải BMI Pop thường niên lần thứ 60] (bằng tiếng Anh).Broadcast Music, Inc. ngày 16 tháng 5 năm 2012.Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  103. ^""Rolling in the Deep" Rolls Away With Bài hát của năm at 2012 BMI London Awards" ["Rolling in the Deep" giành giải Bài hát của năm tại Lễ trao giải BMI Luân Đôn năm 2012] (bằng tiếng Anh).Broadcast Music, Inc. ngày 9 tháng 10 năm 2012.Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  104. ^abAvril Lavigne (2011).What the Hell (Ghi chú đĩa đơn CD Nhật Bản) (bằng tiếng Anh và Nhật).RCA Records;Sony Music Japan.ASIN B004GBLG5C. SICP-2777.Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025 – qua CDJournal.
  105. ^"Austriancharts.at – Avril Lavigne – What the Hell" (bằng tiếng Đức).Ö3 Austria Top 40. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  106. ^"Ultratop.be – Avril Lavigne – What the Hell" (bằng tiếng Hà Lan).Ultratop 50. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  107. ^"Ultratop.be – Avril Lavigne – What the Hell" (bằng tiếng Pháp).Ultratop 50. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  108. ^"Avril Lavigne Chart History (Canada CHR/Top 40)".Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  109. ^"Avril Lavigne Chart History (Canada Hot AC)".Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  110. ^"ČNS IFPI" (bằng tiếng Séc). Hitparáda – Radio Top 100 Oficiální. IFPI Cộng hòa Séc.Ghi chú: Chọn 13. týden 2011. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  111. ^"Euro Digital Song Sales – Week of March 19, 2011".Billboard (bằng tiếng Anh).Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  112. ^"Lescharts.com – Avril Lavigne – What the Hell" (bằng tiếng Pháp).Les classement single. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  113. ^"Musicline.de – Avril Lavigne Single-Chartverfolgung" (bằng tiếng Đức).Media Control Charts. PhonoNet GmbH. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  114. ^"The Irish Charts – Search Results – What the Hell" (bằng tiếng Anh).Irish Singles Chart. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  115. ^"Italiancharts.com – Avril Lavigne – What the Hell" (bằng tiếng Anh).Top Digital Download. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  116. ^Billboard Japan Adult Contemporary Airplay – 2011年 1月 24日 公開.Billboard Japan (bằng tiếng Nhật).Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  117. ^What the Hell – Oricon (bằng tiếng Nhật).Oricon News. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  118. ^"Nederlandse Top 40 – Avril Lavigne" (bằng tiếng Hà Lan).Dutch Top 40. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  119. ^"Dutchcharts.nl – Avril Lavigne – What The Hell" (bằng tiếng Hà Lan).Single Top 100. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  120. ^"Official Scottish Singles Sales Chart Top 100" (bằng tiếng Anh).Official Charts Company.
  121. ^"Swedishcharts.com – Avril Lavigne – What the Hell" (bằng tiếng Anh).Singles Top 100. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  122. ^"Swisscharts.com – Avril Lavigne – What the Hell" (bằng tiếng Đức).Swiss Singles Chart. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  123. ^"ARIA Charts - End Of Year Charts - Top 100 Singles 2011"(PDF) (bằng tiếng Anh).Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc.Bản gốc(PDF) lưu trữ ngày 14 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  124. ^"Jaaroverzichten 2011" (bằng tiếng Hà Lan).Ultratop. 2011. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  125. ^"Canadian Hot 100 – Year End 2011".Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  126. ^"MAHASZ Rádiós TOP 100 2011" (bằng tiếng Hungary). Mahasz.Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  127. ^Japan Hot 100 Year-End – 2011年.Billboard Japan (bằng tiếng Nhật).Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  128. ^"Lebanese NRJ TOP 100 of 2011" (bằng tiếng Anh). NRJ.Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  129. ^2011년 International Digital Chart (bằng tiếng Hàn).Gaon Chart.Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  130. ^"End Of Year Charts: 2011"(PDF) (bằng tiếng Anh).Official Charts Company.Lưu trữ(PDF) bản gốc ngày 2 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  131. ^"Billboard Hot 100 Songs – Year-End 2011".Billboard (bằng tiếng Anh).Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  132. ^"Billboard Pop Songs – Year-End 2011".Billboard (bằng tiếng Anh).Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  133. ^"Billboard Adult Pop Songs – Year-End 2011".Billboard (bằng tiếng Anh).Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  134. ^"Chứng nhận đĩa đơn Ý – Avril Lavigne – What The Hell" (bằng tiếng Ý).Federazione Industria Musicale Italiana. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  135. ^"Chứng nhận đĩa đơn kỹ thuật số Nhật Bản – Avril Lavigne – What The Hell" (bằng tiếng Nhật).Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Nhật Bản. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.Chọn 2014年1月ở menu thả xuống
  136. ^"Certificaciones" (bằng tiếng Tây Ban Nha).Asociación Mexicana de Productores de Fonogramas y Videogramas. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.NhậpAvril Lavigne ở khúc dưới tiêu đề cộtARTISTA  vàWhat The Hell ở chỗ điền dưới cột tiêu đềTÍTULO'.
  137. ^2011년 International Download Chart (bằng tiếng Hàn).Gaon Chart.Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  138. ^"What the Hell – Single (BE)" (bằng tiếng Pháp).iTunes Store.Apple Inc.Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2025.
  139. ^"What the Hell – Single (CA)" (bằng tiếng Anh).iTunes Store.Apple Inc.Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2025.
  140. ^"What the Hell – Single (GR)" (bằng tiếng Hy Lạp).iTunes Store.Apple Inc.Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2025.
  141. ^"What the Hell – Single (IT)" (bằng tiếng Ý).iTunes Store.Apple Inc.Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2025.
  142. ^"What the Hell – Single (LU)" (bằng tiếng Pháp).iTunes Store.Apple Inc.Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2025.
  143. ^"What the Hell – Single (MX)" (bằng tiếng Tây Ban Nha).iTunes Store.Apple Inc.Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2025.
  144. ^"What the Hell – Single (NO)" (bằng tiếng Na Uy).iTunes Store.Apple Inc.Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2025.
  145. ^"What the Hell – Single (SE)" (bằng tiếng Thụy Điển).iTunes Store.Apple Inc.Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2025.
  146. ^"What the Hell – Single (CH)" (bằng tiếng Đức).iTunes Store.Apple Inc.Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2025.
  147. ^"What the Hell – Single (AU)" (bằng tiếng Anh).iTunes Store.Apple Inc.Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2025.
  148. ^"What the Hell – Single (DK)" (bằng tiếng Đan Mạch).iTunes Store.Apple Inc.Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2025.
  149. ^"What the Hell – Single (FI)" (bằng tiếng Phần Lan).iTunes Store.Apple Inc.Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2025.
  150. ^"What the Hell – Single (FR)" (bằng tiếng Pháp).iTunes Store.Apple Inc.Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2025.
  151. ^"What the Hell – Single (IE)" (bằng tiếng Anh).iTunes Store.Apple Inc.Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2025.
  152. ^"What the Hell – Single (NL)" (bằng tiếng Hà Lan).iTunes Store.Apple Inc.Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2025.
  153. ^"What the Hell – Single (NZ)" (bằng tiếng Anh).iTunes Store.Apple Inc.Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2025.
  154. ^"What the Hell – Single (PT)" (bằng tiếng Bồ Đào Nha).iTunes Store.Apple Inc.Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2025.
  155. ^"What the Hell – Single (ES)" (bằng tiếng Tây Ban Nha).iTunes Store.Apple Inc.Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2025.
  156. ^"What The Hell" (bằng tiếng Anh).Amazon.co.uk.Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2025.
  157. ^"What The Hell (Instrumental)" (bằng tiếng Anh).Amazon.co.uk.Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2025.
  158. ^"What The Hell (CD 3-track)" (bằng tiếng Anh).Amazon.Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2025.
  159. ^"[CD] Avril Lavigne - What The Hell [Single]" (bằng tiếng Hàn). YES24.Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2025.
  160. ^"What the Hell – Single (DE)" (bằng tiếng Đức).iTunes Store.Apple Inc.Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2025.
  161. ^"What The Hell" (bằng tiếng Đức).Amazon.de.Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2025.
  162. ^"What The Hell (CD 2-track)" (bằng tiếng Anh).Amazon.Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2025.
  163. ^"Goodbye Lullaby (Deluxe Edition) – Album (US)" (bằng tiếng Anh).iTunes Store.Apple Inc.Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2025.

Sách

[sửa |sửa mã nguồn]
Đĩa đơn
Đĩa đơn hợp tác
Đĩa đơn quảng bá
Bài hát khác
Cơ sở dữ liệu tiêu đề chuẩnSửa dữ liệu tại Wikidata

Bài viết chọn lọc"What the Hell" là mộtbài viết chọn lọc của Wikipedia tiếng Việt.
Mời bạn xemphiên bản đã được bình chọn vào ngày 12 tháng 1 năm 2026 và so sánhsự khác biệt với phiên bản hiện tại.
Lấy từ “https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=What_the_Hell&oldid=74741565
Thể loại:
Thể loại ẩn:

[8]ページ先頭

©2009-2026 Movatter.jp