Movatterモバイル変換


[0]ホーム

URL:


Bước tới nội dung
WikipediaBách khoa toàn thư mở
Tìm kiếm

USSMarcus Island (CVE-77)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Tàu sân bay hộ tống USSMarcus Island (CVE-77)
Lịch sử
Hoa Kỳ
Tên gọiUSSMarcus Island (CVE-77)
Đặt tên theođảoMarcus
Xưởng đóng tàuKaiser Shipyards,Vancouver, Washington
Đặt lườn15 tháng 9 năm1943
Hạ thủy16 tháng 12 năm1943
Người đỡ đầubà S. L. La Hache
Nhập biên chế26 tháng 1 năm1944
Xuất biên chế12 tháng 12 năm1946
Danh hiệu và phong tặng4 ×Ngôi sao Chiến trận
Số phậnBán để tháo dỡ,29 tháng 2 năm1960
Đặc điểm khái quát
Lớp tàuLớp tàu sân bay hộ tốngCasablanca
Trọng tải choán nước
  • 7.800 tấn Anh (7.900 t) (tiêu chuẩn)
  • 10.902 tấn Anh (11.077 t) (đầy tải)
Chiều dài512 ft 4 in (156,16 m) (chung)
Sườn ngang
  • 65 ft 3 in (19,89 m) (mực nước)
  • 108 ft 1 in (32,94 m) (chung)
Mớn nước22 ft 6 in (6,86 m)
Động cơ đẩy
  • 2 ×động cơ hơi nước Skinner Uniflow, năm buồng bành trướng đặt dọc;
  • 4 × nồi hơi, áp lực 285 psi (1.970 kPa);
  • 2 × trục;
  • công suất 9.000 shp (6.700 kW)
Tốc độ20hải lý trên giờ (37 km/h; 23 mph)
Tầm xa10.240 nmi (18.960 km; 11.780 mi) ở tốc độ 15 hải lý trên giờ (28 km/h; 17 mph)
Thủy thủ đoàn tối đa
  • 860 sĩ quan và thủy thủ,
  • đội bay 56 sĩ quan và thủy thủ
Vũ khí
Máy bay mang theo28 máy bay

USSMarcus Island (CVE-77) là mộttàu sân bay hộ tốnglớpCasablanca đượcHải quân Hoa Kỳ chế tạo trongChiến tranh Thế giới thứ hai. Tên nó được đặt theođảo Marcus (Minami Tori-Shima), nơi tranh chấp giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản trong cuộc chiến tranh. Nó đã hoạt động cho đến hết Thế Chiến II, xuất biên chế năm1946 và bị bán để tháo dỡ năm1960.Marcus Island được tặng thưởng bốnNgôi sao Chiến trận do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II.

Thiết kế và chế tạo

[sửa |sửa mã nguồn]
Bài chi tiết:Casablanca (lớp tàu sân bay hộ tống)

Con tàu được đặt lườn như là chiếcKanalku Bay tại Xưởng tàu Vancouver của hãngKaiser Company, Inc.Vancouver, Washington vào ngày15 tháng 9 năm1943. Nó được đổi tên thànhMarcus Island vào ngày6 tháng 11 năm1943 trước khi được hạ thủy vào ngày16 tháng 12 năm1943; được đỡ đầu bởi bà S. L. La Hache; được Hải quân sở hữu và nhập biên chế tạiAstoria, Oregon vào ngày26 tháng 1 năm1944 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng,Đại tá Hải quân Charles F. Greber.

Lịch sử hoạt động

[sửa |sửa mã nguồn]

Sau khi chạy thử máy và huấn luyện dọc theo vùng bờ Tây,Marcus Island thực hiện một chuyến đi khứ hồi vận chuyển máy bay đến các căn cứ tại Nam Thái Bình Dương từ ngày19 tháng 5 đến ngày1 tháng 7. Nó nhận lên tàu Liên đội Hỗn hợp VC-21, rồi khởi hành từSan Diego vào ngày20 tháng 7, đi đếnTulagi thuộcquần đảo Solomon vào ngày24 tháng 8, thực hiện những chuẩn bị cuối cùng cho cuộc tấn công đổ bộ lênquần đảo Palau. Trong vai tròsoái hạm củaChuẩn đô đốcW. D. Sample, Tư lệnh đội tàu sân bay 27, nó bắt đầu các cuộc không kích chuẩn bị lênPeleliuAngaur vào ngày12 tháng 9, rồi tiếp tục hỗ trợ trên không khi lực lượng bắt đầu đổ bộ lên bờ vào ngày15 tháng 9, hỗ trợ cho cuộc chiến căng thẳng tranh chấp hòn đảo này cho đến ngày2 tháng 10.

Marcus Island đi đếnManus thuộcquần đảo Admiralty vào ngày4 tháng 10, và sau khi hoàn tất việc thực tập và tổng dượt để tấn công lênPhilippines, nó lên đường cùng Đội đặc nhiệm 77.4 vào ngày12 tháng 10 để điLeyte, trong thành phần Đơn vị Đặc nhiệm 77.4.2 (được biết đến qua mã gọi vô tuyến như là "Taffy 2"). Từ ngày18 tháng 10, nó tung ra các cuộc không kích xuống các vị trí đối phương, và trong một tuần lễ tiếp theo đã thực hiện 261 phi vụ tấn công và bảo vệ trên không.

TrongTrận chiến ngoài khơi Samar vào ngày25 tháng 10, một phần của cuộcHải chiến vịnh Leyte, khi Đơn vị Đặc nhiệm 77.4.3 ("Taffy 3") hứng chịu sự tấn công củathiết giáp hạmtàu tuần dương thuộc Lực lượng Trung tâm Nhật Bản,máy bay tiêm kíchmáy bay ném bom củaMarcus Island đã tấn công các con tàu dưới quyềnPhó đô đốcTakeo Kurita, liên tục bắn phá, phóngngư lôi, ném bom mảnh thông thường và thậm chímìn sâu vào đối phương bất chấp hỏa lực phòng không dày đặc. Một chiếcGrumman TBF Avenger đã phóng trúng ngư lôi vào phía đuôi mạn trái mộttàu tuần dương hạng nặng, có thể là chiếcChikuma; góp phần đẩy lùi lực lượng đối phương hùng mạnh có ưu thế áp đảo hơn hẳn. Đến xế trưa, nó còn tung ra hai đợt tấn công vào hạm đội đối phương đang rút lui; phi công của nó tự nhận đã đánh trúng 14 phát xuống tàu đối phương, kể cả một quả ngư lôi và sáu quả bom vào một tàu tuần dươnglớpAgano, có thể là chiếcNoshiro. Ngoài ra máy bay tiêm kích của nó cũng bắn rơi năm máy bay đối phương.

Sang ngày26 tháng 10,Marcus Island tung ra 12 máy bay ném bom và máy bay tiêm kích đếnbiển Visayan, nơi họ góp phần đánh chìm tàu tuần dương hạng nhẹKinu và tàu khu trụcUranami bằng bom, rocket và súng máy. Con tàu rời Philippines vào ngày30 tháng 10, nhưng nhanh chóng quay trở lại không đầy hai tuần sau đó trong thành phần hộ tống cho đội tấn công lênMindoro. RờiKossol Roads vào ngày10 tháng 12, nó băng quaeo biển Surigao vào ngày13 tháng 12, và sang ngày hôm sau máy bay tuần tra của nó đã bắn rơi một máy bay tiêm kích đối phương, rồi thêm ba chiếc khác trong ngày15 tháng 12. Ngoài khơi Mindoro, chiếc tàu sân bay chịu đựng nhiều cuộc không kích của đối phương, và chỉ trong thời gian từ 08 giờ 10 phút đến 09 giờ 30 phút, ba đợt tấn công cảm tử và một đợt ném bom đã nhắm vào con tàu. Mọi kẻ tấn công đều bị bắn rơi hay đánh đuổi bởi hỏa lực phòng không dày đặc, nhưng hai chiếc máy bay tấn công tự sátKamikaze đã đâm xuống sát con tàu phía mũi bên mạn trái và mạn phải, gây hư hại nhẹ và nhiều thương vong.

Từ ngày16 đến ngày23 tháng 12,Marcus Island quay trở lại quần đảo Admiralty, để rồi lại lên đường hướng sang phía Tây Philippines vào ngày29 tháng 12 cùng Lực lượng tấn côngLuzon, để hoạt động tạivịnh Lingayen. Đang khi băng quabiển Mindanao vào ngày5 tháng 1 năm1945, một máy bay của nó đã ném bom vàmìn sâu vào mộttàu ngầm bỏ túi Nhật Bản, mà sau cùng bị tàu khu trụcTaylor (DD-468) húc đánh chìm. Máy bay của nó lại bắn rơi bốn máy bay đối phương trong một cuộc không chiến ba ngày sau đó; và đến ngày đổ bộ9 tháng 1, chiếc tàu sân bay tung ra các phi vụ hỗ trợ gần mặt đất và bắn phá các bãi đổ bộ tại Lingayen, cũng như tấn công đánh chìm hai tàu tuần duyên nhỏ về phía Bắc vịnh Lingayen dọc bờ biển Luzon cùng ngày hôm đó. Con tàu tiếp tục hỗ trợ cho các hoạt động tại Lingayen cho đến khi nó đi dọc bờ biển Luzon vào ngày17 tháng 1. Đến ngày29 tháng 1, nó hỗ trợ cho cuộc đổ bộ không gặp sự kháng cự lênZambales, Luzon trước khi rút lui về Ulithi, đến nơi vào ngày5 tháng 2.

Chuẩn đô đốc Sample chuyển cờ hiệu của mình khỏi tàu vào ngày6 tháng 2, và đến ngày8 tháng 2,Marcus Island trở thành soái hạm cho Chuẩn đô đốcFelix Stump, Tư lệnh Đội tàu sân bay 24. Nó cũng thay phiên Liên đội hỗn hợp VC-21 bằng Liên đội hỗn hợp VC-87 vào ngày14 tháng 2, và sau khi hoàn tất việc hhuấn luyện ngoài khơi Ulithi, nó lên đường đivịnh Leyte từ ngày4 tháng 4 đến ngày7 tháng 3, nơi tiến hành các cuộc tổng dượt cho chiến dịch đổ bộ tiếp theo lênquần đảo Ryūkyū.

Marcus Island khởi hành vào ngày21 tháng 3, đi đến phía NamKerama Retto vào ngày26 tháng 3, nơi nó bắt đầu tung ra các cuộc không kích chuẩn bị. Chiếc tàu sân bay đã hỗ trợ mặt đất và bảo vệ trên không trongTrận Okinawa; chủ yếu hoạt động về phía Nam và Đông NamOkinawa từ ngày26 tháng 3 đến ngày29 tháng 4, tung ra các phi vụ tấn công và trinh sát pháo binh. Liên đội Trinh sát Hỗn hợp VCO-1 thay phiên cho Liên đội hỗn hợp VC-87 vào ngày5 tháng 4; cả hai đã thực hiện tổng cộng 1.085 phi vụ trong giai đoạn này, tấn công sân bay đối phương, vị trí pháo binh, kho dự trữ và điểm tập trung quân. Các phi công đã bắn rơi 11 máy bay đối phương và tiêu diệt thêm 13 chiếc khác trên mặt đất.

Marcus Island rời Okinawa vào ngày29 tháng 4, và sau khi chất lên tàu những máy bay bị hư hại cần sửa chữa tạiGuam, nó tiếp tục hành trình vào ngày5 tháng 5 để quay trở về Hoa Kỳ, về đến San Diego vào ngày22 tháng 5, Nó lại lên đường vào ngày10 tháng 7 để đi sang phía Tây, vận chuyển nhân sự và máy bay thay thế đến Trân Châu Cảng và Guam trước khi quay trở vềAlameda, California vào ngày2 tháng 9. Lại lên đường một lần nữa, đi ngang Trân Châu Cảng và Guam, nó đi đến Okinawa vào ngày28 tháng 9, đón lên tàu những cựu quân nhân hồi hương, và về đến San Francisco vào ngày24 tháng 10. Cho đến đầutháng 1 năm1946, con tàu hoàn tất thêm những chuyến điMagic Carpet khác đến Guam và Trân Châu Cảng.

Khởi hành San Diego từ vào ngày12 tháng 1,Marcus Island đi ngang quakênh đào PanamaNorfolk, Virginia để đếnBoston, Massachusetts vào ngày2 tháng 2. Nó được cho xuất biên chế tại Boston vào ngày12 tháng 12 năm1946, và được đưa về Hạm đội Dự bị Đại Tây Dương. Đang khi vẫn nằm trong thành phần dự bị, nó được xếp lại lớp thànhCVHE-77 vào ngày12 tháng 6 năm1955, rồi thànhAKV-27 vào ngày7 tháng 5 năm1959. Con tàu bị bán cho hãng Comarket, Inc. tại Boston để tháo dỡ vào ngày29 tháng 2 năm1960.

Phần thưởng

[sửa |sửa mã nguồn]

Marcus Island được tặng thưởng bốnNgôi sao Chiến trận do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II.

Tham khảo

[sửa |sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài

[sửa |sửa mã nguồn]
Cổng thông tin:
Lấy từ “https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=USS_Marcus_Island_(CVE-77)&oldid=67009109
Thể loại:

[8]ページ先頭

©2009-2026 Movatter.jp