Những vùng tiếng Anh là ngôn ngữ bản xứ chiếm đa số
Những vùng tiếng Anh được công nhận chính thức hoặc được nói bởi đa số người, song không phải ngôn ngữ bản xứ chính
Bài viết này có chứa ký tự ngữ âmIPA. Nếu không thích hợphỗ trợ dựng hình, bạn có thể sẽ nhìn thấy dấu chấm hỏi, hộp, hoặc ký hiệu khác thay vì kí tựUnicode. Để biết hướng dẫn giới thiệu về các ký hiệu IPA, xemTrợ giúp:IPA.
Tiếng Anh hiện đại lan rộng khắp thế giới kể từ thế kỷ 17 nhờ tầm ảnh hưởng toàn cầu củaĐế quốc Anh vàHoa Kỳ. Thông qua các loại hình in ấn và phương tiện truyền thông đại chúng của những quốc gia này, vị thế tiếng Anh đã được nâng lên hàng đầu trongdiễn ngôn quốc tế, giúp nó trở thànhlingua franca tại nhiều khu vực trên thế giới và trong nhiều bối cảnh chuyên môn như khoa học, hàng hải và luật pháp.[4] Tiếng Anh là ngôn ngữ có số lượng người nói đông đảo nhất trên thế giới,[15] và có số lượng người nói bản ngữ nhiều thứ ba trên thế giới, chỉ sautiếng Trung Quốc chuẩn vàtiếng Tây Ban Nha.[16] Tiếng Anh làngoại ngữ được nhiều người học nhất và là ngôn ngữ chính thức hoặc đồng chính thức của 59 quốc gia trên thế giới. Hiện nay số người biết nói tiếng Anh như một ngoại ngữ đã áp đảo hơn số người nói tiếng Anh bản ngữ. Tính đến năm 2005, lượng người nói tiếng Anh đã cán mốc xấp xỉ 2 tỷ.[17] Tiếng Anh là bản ngữ đa số tạiVương quốc Anh, Hoa Kỳ,Canada,Úc,New Zealand (xemvùng văn hóa tiếng Anh) vàCộng hòa Ireland. Nó được sử dụng phổ biến ở một số vùng thuộcvùng Caribe,Châu Phi,Nam Á,Đông Nam Á, vàChâu Đại Dương.[18] Tiếng Anh làngôn ngữ đồng chính thức của Liên Hợp Quốc,Liên minh châu Âu, cùng nhiều tổ chức quốc tế và khu vực. Ngoài ra nó cũng làngôn ngữ Giécmanh được sử dụng rộng rãi nhất, với lượng người nói chiếm ít nhất 70% tổng số người nói các ngôn ngữ thuộc nhánh Ấn-Âu này.
Tiếng Anh là mộtngôn ngữ Ấn–Âu, cụ thể hơn là ngôn ngữ thuộcnhánh Tây củangữ tộc Giécmanh.[19] Dạng cổ của tiếng Anh –Tiếng Anh cổ – bắt nguồn từdãy phương ngữ được nói bởi các dân tộc Giécmanh sinh sống dọc bờBiển Bắc xứFrisia (nay thuộcHà Lan). Các phương ngữ Giécmanh ấy đã phát sinhnhóm ngôn ngữ Anglic trên Đảo Anh, cũng nhưtiếng Frisia vàtiếng Đức Hạ/Saxon Hạ trên lục địa châu Âu. Tiếng Frisia do vậy có quan hệ rất gần với tiếng Anh, và cũng chính vì vậy nên giới ngôn ngữ học mới gộp chúng vàonhóm Anh-Frisia. Ngoài ra, tiếng Đức Hạ/Saxon Hạ cũng có quan hệ gần gũi với tiếng Anh, song phân loại gộp ba thứ tiếng trên thành một nhóm duy nhất (gọi lànhóm Giécmanh Biển Bắc) hiện còn bị nhiều người phản bác.[8] Tiếng Anh cổ đã dần diễn tiến thànhtiếng Anh trung đại, rồi tiếp tục phát triển thành tiếng Anh đương đại.[20] Đồng thời, các phương ngữ tiếng Anh cổ và tiếng Anh trung đại cũng đã biến đổi thành các ngôn ngữ mới; chẳng hạntiếng Scotland,[21] cũng như các ngôn ngữ đã thất truyền nhưtiếng Fingal vàtiếng Yola ở Ireland.[22]
Tiếng Anh – giống nhưtiếng Iceland vàtiếng Faroe, vốn đều là các ngôn ngữ được sử dụng trên các đảo cô lập và do vậy chúng được cách ly khỏi các ảnh hưởng ngôn ngữ trên đất liền – đã phân kỳ đáng kể khỏi các nhánh chị em. Không tồn tại sự thông hiểu lẫn nhau giữa tiếng Anh với bất kỳ thứ tiếng Giécmanh lục địa nào, sở dĩ bởi sự khác biệttừ vựng,cú pháp vàâm vị. Dù vậy khi xem xét kỹ hơn,tiếng Hà Lan vàtiếng Frisia vẫn lưu giữ nhiều nét tương đồng với tiếng Anh, đặc biệt là nếu ta đem so sánh với các giai đoạn cổ hơn của tiếng Anh.[23]
Tuy nhiên, không giốngtiếng Iceland vàtiếng Faroe vốn bị cô lập ở mức độ cao hơn, tiếng Anh vẫn chịu ảnh hưởng từ một số ngôn ngữ đại lục được du nhập vào đảo Anh kèm theo các cuộc xâm lược và di dân trong quá khứ (đặc biệt làtiếng Pháp Norman vàtiếng Bắc Âu cổ). Những sự biến ấy đã hằn in vào vốn từ và ngữ pháp tiếng Anh những dấu ấn rất sâu sắc, cũng là ngọn nguồn của các nét tương đồng giữa tiếng Anh hiện đại với một số ngôn ngữ ngoạingành – song chúng hoàn toàn không có tính thông hiểu lẫn nhau. Dựa vào đó, một số học giả đã đề xuấtgiả thuyết tiếng Anh trung đại lai căng (Middle English creole hypothesis), theo đó thì họ cho rằng tiếng Anh thực chất là mộtngôn ngữ pha trộn (mixed language) hoặc mộtngôn ngữ lai căng (creole language) chứ không thuần Giécmanh. Tuy đúng là các định đề của giả thuyết này được thừa nhận rộng rãi, song phần lớn giới chuyên gia ngày nay không hề coi tiếng Anh là ngôn ngữ pha trộn.[24][25]
Tiếng Anh được phân loại là một ngôn ngữ Giécmanh vì nó có nhiều điểmđổi mới giống các ngôn ngữ nhưtiếng Hà Lan,tiếng Đức vàtiếng Thụy Điển.[26] Điều này chứng tỏ các ngôn ngữ ấy chắc hẳn đã phát sinh từ cùng một ngôn ngữ tổ tiên mà giới ngôn ngữ học gọi làtiếng Giécmanh nguyên thủy. Một số điểm chung đó bao gồm: sự phân biệt giữa lớp động từ mạnh và yếu, sự vận dụngđộng từ khuyết, cũng như tuân theo các luật biến đổi phụ âm từtiếng Ấn-Âu nguyên thủy làluật Grimm vàluật Verner. Tiếng Anh được nhóm với tiếng Frisia bởi lẽ chúng chia sẻ nhiều điểm độc đáo, không tồn tại ở nhánh nào khác, chẳng hạn sựngạc cứng hóa cácâm ngạc mềm của tiếng Giécmanh nguyên thủy.[27]
Phần tựa của sử thiBeowulf tiếng Anh cổ,thủ bút chữnửa ông-xi-an: Hƿæt ƿē Gārde/na ingēar dagum þēod cyninga / þrym ge frunon... Dịch tiếng Anh: "Listen! We of the Spear-Danes from days of yore have heard of the glory of the folk-kings..." Dịch tiếng Việt: "Nghe đây! Bọn ta, thuộc tộc Spear-Dane từ những ngày cổ xưa, đã nghe nói thanh danh của các vị vua-nhân dân
Tiếng Anh cổ về cơ bản là một ngôn ngữ khác hẳn tiếng Anh hiện đại. Người nói tiếng Anh thế kỷ 21, nếu không được học, sẽ không tài nào hiểu được tiếng Anh cổ. Ngữ pháp của nó có nét giống tiếng Đức hiện đại: Danh từ, tính từ,đại từ, và động từ có nhiều dạng thù biến hình hơn, và thứ tự câu cũng tự do hơn đáng kể tiếng Anh hiện đại. Tiếng Anh hiện địa có các dạng biến cách của đại từ (ví dụhe,him,his) và một số biến dạng ở động từ (ví dụspeak,speaks,speaking,spoke,spoken); song tiếng Anh cổ có sự biến cách ở danh từ, và động từ thì có nhiều đuôi biểu thị ngôi và số hơn.[39][40][41] Ngay cả vào thế kỷ thứ 9 và 10, khi đảo Anh nằm dưới sự chi phối củaDanelagh và hứng chịu các cuộc xâm lược triền miên củangười Viking, vẫn có bằng chứng cho thấy tiếng Bắc Âu cổ và tiếng Anh cổ thông hiểu nhau ở mức độ tương đối cao.[42] Trên lý thuyết, tới tận những năm 900, thường dân ở Anh quốc vẫn có thể đối thoại với thường dân ở Scandinavia. Hiện nay, các nghiên cứu vẫn đang được tiến hành nhằm tìm hiểu về hàng trăm bộ lạc từng sinh sống trên đảo Anh và Scandinavia, cũng như các tiếp xúc tương giao giữa họ.[42]
Đoạn dịch tiếng Anh sau đây củaPhúc Âm Mátthêu 8:20 vào năm 1000 cho thấy các đuôi biến cách (danh cách số phức, đối cách số phức, thuộc cách số đơn) và một đuôi vị ngữ (thì hiện tại số phức):
Englischmen þeyz hy hadde fram þe bygynnyng þre manner speche, Souþeron, Northeron, and Myddel speche in þe myddel of þe lond, ... Noþeles by comyxstion and mellyng, furst wiþ Danes, and afterward wiþ Normans, in menye þe contray longage ys asperyed, and som vseþ strange wlaffyng, chyteryng, harryng, and garryng grisbytting.
Dịch nghĩa: Mặc dầu, từ thuở đầu, người Anh có ba tiếng nói, nam, bắc và trung địa ở giữa đất nước, ... Tuy nhiên, thông qua sự trộn lẫn và sự giao hợp, đầu tiên với người Dane và rồi với người Norman, trong số đó mà ngôn ngữ đất nước đã trỗi dậy, còn một số thì sử dụng tiếng lắp bắp kì lạ, tiếng lạch cạch, tiếng cằn nhằn, và tiếng nghiến răng chói tai.
Ban đầu, những làn sóng thực dân hóa của người Norse ở miền bắc quần đảo Anh vào thế kỷ VIII-IX đưa tiếng Anh cổ đến sự tiếp xúc vớitiếng Bắc Âu cổ, mộtngôn ngữ German phía Bắc. Ảnh hưởng của tiếng Bắc Âu cổ mạnh nhất là ở những phương ngữ đông bắc quanh York (khu vực màDanelaw được áp dụng), nơi từng là trung tâm của sự thuộc địa hóa; ngày nay những ảnh hưởng này vẫn hiển hiện trongtiếng Scotland vàtiếng Anh bắc Anh.
Với cuộc xâm lược của người Norman năm 1066, thứ tiếng Anh cổ được "Bắc Âu hóa" giờ lại tiếp xúc vớitiếng Norman cổ, mộtngôn ngữ Rôman rất gần vớitiếng Pháp. Tiếng Norman tại Anh cuối cùng phát triển thànhtiếng Anglo-Norman. Vì tiếng Norman được nói chủ yếu bởi quý tộc và tầng lớp cao của xã hội, trong khi thường dân tiếp tục nói tiếng Anglo-Saxon, ảnh hưởng tiếng Norman mang đến một lượng lớn từ ngữ liên quan đến chính trị, luật pháp và sự thống trị.[9] Tiếng Anh trung đại lượt bỏ bớt hệ thống biến tố. Sự khác biệt giữa danh cách và đối cách mất đi (trừ ở đại từ), công cụ cách bị loại bỏ, và chức năng của sở hữu cách bị giới hạn. Hệ thống biến tố "quy tắc hóa" nhiều dạng biến tố bất quy tắc,[45] và dần dần đơn giản hóa hệ thốnghợp, khiến cấu trúc câu kém mềm dẻo đi.[46] TrongKinh Thánh Wycliffe thập niên 1380, đoạn Phúc Âm Mátthêu 8:20 được viết
Foxis han dennes, and briddis of heuene han nestis[47]
Ở đây, hậu tố thì hiện tại số nhiều-n ở động từhan (nguyên mẫu "haven", gốc từha-) hiện diện, nhưng không có cách ngữ pháp nào được thể hiện.
Đến thế kỷ XII, tiếng Anh trung đại phát triển hoàn toàn, dung hợp vào mình cả ảnh hưởng của tiếng Bắc Âu cổ và tiếng Norman; và tiếp tục được nói cho tới khoảng năm 1500 thì trở thành tiếng Anh hiện đại. Nền văn học tiếng Anh trung đại có những tác phẩm nhưTruyện cổ Caunterbury củaGeoffrey Chaucer, vàLe Morte d'Arthur củaMalory.
Thời kỳ tiếp theo là tiếng Anh cận đại (Early Modern English, 1500–1700). Thời kỳ tiếng Anh cận đại nổi bật với cuộcGreat Vowel Shift (1350–1700), tiếp tục đơn giản hóa biến tố, và sự chuẩn hóa ngôn ngữ.
Great Vowel Shift ảnh hưởng lên nhữngnguyên âm dài được nhấn. Đây là một sự "biến đổi dây chuyền", tức là một âm được biến đổi làm tác động lên các âm khác nữa. Nhữngnguyên âm vừa vànguyên âm mở được nâng lên, vànguyên âm đóng biến thànhnguyên âm đôi. Ví dụ, từbite ban đầu được phát âm giống từbeet ngày nay, nguyên âm thứ hai trong từabout được phát âm giống trong từboot ngày này. Great Vowel Shift gây nên nhiều sự bất tương đồng trong cách viết, vì tiếng Anh hiện đại duy trì phần nhiều cách viết của tiếng Anh trung đại, và cũng giải thích tại sao, các ký tự nguyên âm trong tiếng Anh lại được phát âm rất khác khi so với những ngôn ngữ khác.[48][49]
Tiếng Anh trở thànhngôn ngữ uy tính dưới thờiHenry V. Khoảng năm 1430,Tòa án Chancery tạiWestminster bắt đầu sử dụng tiếng Anh để viết các tài liệu chính thức, và một dạng chuẩn mới, gọi làChancery Standard, được hình thành dựa trên phương ngữ thành Luân Đôn vàEast Midlands. Năm 1476,William Caxton giới thiệumáy in ép tới nước Anh và bắt đầu xuất bản những quyển sách đầu tiên, làm lan rộng sự ảnh hưởng của dạng chuẩn mới.[50] Những tác phẩm củaWilliam Shakespeare vàbản dịch Kinh Thánh được ủy quyền bởiVua James I đại diện cho nền văn học thời kỳ này. Sau cuộc Vowel Shift, tiếng Anh cận đại vẫn có nét khác biệt với tiếng Anh ngày nay: ví dụ, cáccụm phụ âm/knɡnsw/ trongknight,gnat, vàsword vẫn được phát âm đầy đủ. Những đặc điểm mà độc giả của Shakespeare ngày nay có thể thấy kỳ quặc hay lỗi thời thường đại diện cho những nét đặc trưng của tiếng Anh cận đại.[51]
Trong Kinh Thánh Vua James 1611, viết bằng tiếng Anh cận đại, Mátthêu 8:20:
The Foxes haue holes and the birds of the ayre haue nests[43]
Sự lan rộng của tiếng Anh hiện đại
Tới cuối thế kỷ 18,Đế quốc Anh đã truyền bá tiếng Anh tới mọi ngóc ngách của các thuộc địa, cũng như các vùng chịu ảnh hưởng địa chính trị của họ. Thương mại, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, nghệ thuật và giáo dục đều đã góp phần đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ toàn cầu đích thực đầu tiên, đóng vai trò cốt yếu trong giao thiệp quốc tế.[52][4] Do quá trình bành trướng và thuộc địa hóa các vùng đất của Anh quốc, nhiều quy chuẩn tiếng Anh mới đã phát sinh trong diễn ngôn và văn viết. Ngày nay, tiếng Anh được tiếp nhận và sử dụng ở một phần Bắc Mỹ, một phần châu Phi,Úc, và nhiều nơi khác. Thời hậu thuộc địa, một số quốc gia đa sắc tộc sau khi giành được độc lập vẫn giữ tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức, để tránh các phiền toái chính trị xoay quanh việc quá ưu tiên một ngôn ngữ bản địa nhất định nào đó.[53][54][55] Vào thế kỷ 20, tầm ảnh hưởng kinh tế và văn hóa ngày càng lớn của Hoa Kỳ, cũng như vị thếsiêu cường của nó sau khiChiến tranh thế giới thứ hai khép lại, đã đẩy nhanh tốc độ lan truyền của tiếng Anh trên khắp toán cầu.[56][57] Đến thế kỷ 21, tiếng Anh được nói và viết nhiều hơn bất kỳ một thứ tiếng nào trong lịch sử.[58]
Trong quá trình phát triển của tiếng Anh hiện đại, nhiều quy chuẩn sử dụng ngôn ngữ tường minh đã được đề xuất và phát hành, lan truyền thông qua các phương tiện như giáo dục phổ cập và các ấn bản tài trợ bởi nhà nước. Năm 1755,Samuel Johnson xuất bản cuốnA Dictionary of the English Language, trong đó giới thiệu các quy tắc đánh vần và phương thức sử dụng chuẩn chỉ tiếng Anh. Năm 1828,Noah Webster cho ra mắt từ điểnAmerican Dictionary of the English language nhằm hướng đến một sự quy chuẩn đối với khẩu ngữ và văn ngữ của tiếng Anh Mỹ, độc lập khỏi tiếng Anh Anh. Ở Anh quốc, các đặc điểm phương ngữ phi chuẩn hoặc hạ lưu đã liên tục bị dè bỉu và xem thường, điều mà đã dẫn đến sự lan rộng của các biến thể uy tín trong tầng lớp trung lưu.[59]
Ở tiếng Anh hiện đại, sự tiêu biến cách ngữ pháp đã gần như hoàn thiện (giờ đây đặc điểm này chỉ xuất hiện ở các đại từ, v.d. các cặp nhưhe vàhim,she vàher,who vàwhom), và SVO là thứ tự từ ổn định.[59] Một số biến đổi, chẳng hạn đặc điểmdo-hỗ trợ, đã phổ biến ở mọi phương ngữ. (Tiếng Anh ngày xưa không dùng động từ "do" trong vai trò trợ động từ chung như tiếng Anh hiện đại; đặc điểm này vốn chỉ xuất hiện ở câu hỏi, song cũng không hoàn toàn bắt buộc.[60] Ngày nay, "do-hỗ trợ" cùng động từhave đang ngày càng trở thành chuẩn.) Các dạng tiếp diễn đuôi-ing có vẻ đang lan sang các cấu trúc khác, và các dạng nhưhad been being built đang ngày càng phổ biến. Sự chính quy hóa các dạng bất quy tắc cũng đang tiếp diễn chậm chạp (v.d.dreamed thay vìdreamt), và các lối thay thế mang tính phân tích đối với các dạng biến hình đang càng trở nên thông thường (v.d.more polite thay vìpoliter). Tiếng Anh Anh cũng đang trong quá trình biến đổi do bị ảnh hưởng của tiếng Anh Mỹ, thúc đẩy bởi sự hiện diện tràn lan của tiếng Anh Mỹ trên các phương tiện truyền thông và sự uy tín gắn liền với vị thế siêu cường của Hoa Kỳ.[61][62][63]
Tính đến năm2016, 400 triệu người cóngôn ngữ mẹ đẻ là tiếng Anh, và 1,1 tỉ người dùng nó làm ngôn ngữ thứ hai hoặcngoại ngữ.[64] Tiếng Anh là ngôn ngữ đứng thứ ba về số người bản ngữ, sautiếng Quan Thoại vàtiếng Tây Ban Nha.[16] Tuy nhiên, khi kết hợp số người bản ngữ và phi bản ngữ, nó có thể, tùy theo ước tính, là ngôn ngữ phổ biến nhất thế giới.[58][65][66][67] Tiếng Anh được nói bởi các cộng đồng ở mọi nơi và ở hầu khắp cáchòn đảo trên cácđại dương.[68]
Ba vòng tròn quốc gia nói tiếng Anh
Braj Kachru phân biệt các quốc gia nơi tiếng Anh được nói bằng mô hình ba vòng tròn.[69] Trong mô hình này, "vòng trong" là quốc gia với các cộng đồng bản ngữ tiếng Anh lớn, "vòng ngoài" là các quốc gia nơi tiếng Anh chỉ là bản ngữ của số ít nhưng được sử dụng rộng rãi tronggiáo dục,truyền thông và các mục đích khác, và "vòng mở rộng" là các quốc gia nơi nhiều người học tiếng Anh. Ba vòng tròn này thay đổi theo thời gian.[70]
Ngữ âm và âm vị của tiếng Anh khác nhau giữa từng phương ngữ, nhưng chúng hầu như không ảnh hưởng mấy đến quá trình giao tiếp. Sự biến thiên âm vị ảnh hưởng đến vốn âm vị (tức âm tố phân biệt về ý nghĩa), và sự biến thiên ngữ âm bao hàm sự khác biệt trong cách phát âm của các âm vị.[80] Bài viết này chỉ nói tổng quan về hai dạng phát âm chuẩn được dùng ởVương quốc Anh vàHoa Kỳ, lần lượt là:Received Pronunciation (RP) vàGeneral American (GA).
Đa số phương ngữ tiếng Anh sở hữu cùng một bộ 24phụ âm. Bảng bên dưới thể hiện các phụ âm trongphương ngữ California của tiếng Anh Mỹ[84] và của chuẩn RP.[85]
Ở bảng trên, đối với cácâm ồn (âm tắc, tắc-xát, và xát) đi theo cặp (như/pb/,/tʃdʒ/, và/sz/), thì âm đứng trước trong cặp là âm căng (hay âm mạnh) còn âm sau là âm lơi (hay âm yếu). Để phát các âm ồn căng như/ptʃs/, ta cần căng cơ và hà hơi mạnh hơn so với khi phát các âm ồn lơi như/bdʒz/. Theo đó âm ồn căng luônvô thanh, còn âm ồn lơi hữu thanh một phần khi đứng đầu hoặc cuối ngữ lưu và hữu thanh hoàn toàn khi bị kẹp giữa hai nguyên âm. Các âm tắc căng, như/p/ chẳng hạn, có thêm một số đặc điểm cấu âm khác biệt ở đa số các phương ngữ: nó trở thànhâm bật hơi[pʰ] khi một mình đứng ở đầu một âm tiết được nhấn, trở thành âm không bật hơi ở hầu hết các trường hợp khác, và thường trở thànhâm buông không nghe thấy[p̚] hoặcâm tiền-thanh hầu hóa[ˀp] khi đứng ở cuối âm tiết. Đối với các từ đơn âm tiết, nguyên âm đứng trước âm tắc căng được rút ngắn đi: vậy nên nguyên âm trong từnip ngắn hơn (về mặt ngữ âm, không phải âm vị) khi so với nguyên âm trong từnib.[86]
Trong RP, âm tiếp cận bên/l/ có haitha âm chính, đó là: âm[l] thường hoặc sáng, như trong từlight 'nhẹ, ánh sáng'; và âm[ɫ] ngạc mềm hóa hoặc tối, như trong từfull 'no, đầy'.[87] Âmɫ tối thường xuất hiên trong chuẩn GA.[88]
l sáng:light theo RP[laɪt]
l tối:full theo RP và GA[fʊɫ],light theo GA[ɫaɪt]
Tất cảâm vang (/l,r/) và âm mũi (/m,n,ŋ/) đều bị phi thanh hóa khi đứng sau một âm ồn vô thanh, và sở hữu âm tiết tính khi đứng sau một phụ âm ở cuối từ.[89]
Nguyên âm biến thiên tùy theo từng vùng miền và là một trong các đặc điểm dễ nhận thấy nhất của giọng người nói. Bảng dưới biểu diễn cácâm vị nguyên âm trong Received Pronunciation (RP) và General American (GA), kèm theo các từ ví dụ. Âm vị được thể hiện bằng ký hiệu IPA và các từ trong cột RP được lấy làm chuẩn trong các từ điển Anh ngữ.[90]
RP phân biệt độ ngắn dài nguyên âm. Theo đó, nguyên âm dài sẽ có thêm ký hiệu ⟨ː⟩ ở sau; ví dụ, nguyên âm trong từneed[niːd] khác với trong từbid[bɪd]. Trái lại, GA không phân biệt độ ngắn dài nguyên âm.
Nguyên âm theo RP và GA đều rút ngắn về mặt ngữ âm trước các phụ âm căng trong cùng mộtâm tiết, như đối với/ttʃf/, song giữ nguyên độ dài nếu đứng trước các phụ âm lơi như/ddʒv/ hoặc trong các âm tiết mở: vì vậy, các nguyên âm trong từrich[rɪtʃ],neat[nit], vàsafe[seɪ̯f] ngắn hơn rõ ràng khi so với các nguyên âm trong từridge[rɪˑdʒ],need[niˑd], vàsave[seˑɪ̯v], và nguyên âm trong từlight[laɪ̯t] ngắn hơn trong từlie[laˑɪ̯]. Vì các phụ âm lơi thường vô thanh ở cuối một âm tiết, độ dài nguyên âm là một dấu hiệu quan trọng cho thấy phụ âm theo sau là lơi hay căng.[91]
Khác với nhiềungôn ngữ Ấn-Âu khác, tiếng Anh đã gần như loại bỏ hệ thống biến tố dựa trêncách để thay bằng cấu trúcphân tích.Đại từ nhân xưng duy trì hệ thống cách hoàn chỉnh hơn những lớp từ khác. Tiếng Anh có bảy lớp từ chính: động từ, danh từ, tính từ, trạng từ, hạn định từ (tức mạo từ), giới từ, và liên từ. Có thể tách đại từ khỏi danh từ, và thêm vào thán từ.[92] Tiếng Anh có một tập hợp trợ động từ phong phú, nhưhave (nghĩa đen 'có') vàdo ('làm'). Câu nghi vấn códo-support, vàwh-movement (từ hỏiwh- đứng đầu).
Một vài đặc điểm tiêu biểu của ngữ tộc German vẫn còn ở tiếng Anh, như những thân từ được biến tố "mạnh" thông quaablaut (tức đổi nguyên âm của thân từ, tiêu biểu trongspeak/spoke vàfoot/feet) và thân từ "yếu" biến tố nhờhậu tố (nhưlove/loved,hand/hands). Vết tích của hệ thống cách vàgiống hiện diện trong đại từ (he/him, who/whom) và sự biến tố động từto be.
(Chủ tịch ủy ban và vị chính khách lắm lời va vào nhau dữ dội khi cuộc họp bắt đầu)
Danh từ
Danh từ dùng biến tố để chỉ số và sự sở hữu. Danh từ mới có thể được tạo ra bằng cách ghép từ (gọi là compound noun). Danh từ được chia ra thành danh từ riêng và danh từ chung. Danh từ cũng được chia thành danh từ cụ thể (như "table" - cái bàn) và danh từ trừu tượng (như "sadness" - nỗi buồn), và về mặt ngữ pháp gồm danh từ đếm được và không đếm được.[94]
Đa số danh từ đếm được có thể biến tố để thể hiện số nhiều nhờ hậu tố -s/es, nhưng một số có dạng số nhiều bất quy tắc. Danh từ không đếm được chỉ có thể "số nhiều hóa" nhờ một danh từ có chức năng như phân loại từ (ví dụoneloaf of bread,twoloaves of bread).[95]
Ví dụ:
Cách lập số nhiều thông thường:
Số ít:cat, dog
Số nhiều:cats, dogs
Cách lập số nhiều bất quy tắc:
Số ít:man, woman, foot, fish, ox, knife, mouse
Số nhiều:men, women, feet, fish, oxen, knives, mice
Sự sở hữu được thể hiện bằng (')s (thường gọi là hậu tố sở hữu), hay giới từof. Về lịch sử (')s được dùng cho danh từ chỉ vật sống, cònof dùng cho danh từ chỉ vật không sống. Ngày nay sự khác biệt này ít rõ ràng hơn. Về mặt chính tả, hậu tố -s được tách khỏi gốc danh từ bởi dấuapostrophe.
Cấu trúc sở hữu:
Với -s:The woman's husband's child
Vớiof:The child of the husband of the woman
(Con của chồng của người phụ nữ)
Động từ
Động từ tiếng Anh được chia theothì vàthể, vàhợp (agreement) với đại từ ngôi số ba số ít. Chỉ động từto be vẫn phải hợp với đại từ ngôi thứ nhất và thứ hai số nhiều.[96] Trợ động từ nhưhave vàbe đi kèm với động từ ở dạng hoàn thành và tiếp diễn. Trợ động từ khác với động từ thường ở chỗ từnot (chỉ sự phủ định) có thể đi ngay sau chúng (ví dụ,have not vàdo not), và chúng có thể đứng đầu trong câu nghi vấn.[97][98]
^Nordhoff, Sebastian; Hammarström, Harald; Forkel, Robert; Haspelmath, Martin, biên tập (2013)."English".Glottolog. Leipzig: Max Planck Institute for Evolutionary Anthropology.
^Romaine 1999, tr. 2: "Other changes such as the spread and regularisation of do support began in the thirteenth century and were more or less complete in the nineteenth. Although do coexisted with the simple verb forms in negative statements from the early ninth century, obligatoriness was not complete until the nineteenth. The increasing use of do periphrasis coincides with the fixing of SVO word order. Not surprisingly, do is first widely used in interrogatives, where the word order is disrupted, and then later spread to negatives."
Aarts, Bas; Haegeman, Liliane (2006). "6. English Word classes and Phrases". Trong Aarts, Bas; McMahon, April (biên tập).The Handbook of English Linguistics. Blackwell Publishing Ltd.
Aitken, A. J.; McArthur, Tom, biên tập (1979).Languages of Scotland. Occasional paper – Association for Scottish Literary Studies; no. 4. Edinburgh: Chambers.ISBN978-0-550-20261-1.
Algeo, John (1999). "Chapter 2:Vocabulary". Trong Romaine, Suzanne (biên tập).Cambridge History of the English Language. Quyển IV: 1776–1997. Cambridge University Press. tr. 57–91.doi:10.1017/CHOL9780521264778.003.ISBN978-0-521-26477-8.
Ammon, Ulrich (2006). "Language Conflicts in the European Union: On finding a politically acceptable and practicable solution for EU institutions that satisfies diverging interests".International Journal of Applied Linguistics. Quyển 16 số 3. tr. 319–338.doi:10.1111/j.1473-4192.2006.00121.x.S2CID142692741.
Ammon, Ulrich (2008). "Pluricentric and Divided Languages". Trong Ammon, Ulrich N.; Dittmar, Norbert; Mattheier, Klaus J.; và đồng nghiệp (biên tập).Sociolinguistics: An International Handbook of the Science of Language and Society / Soziolinguistik Ein internationales Handbuch zur Wissenschaft vov Sprache and Gesellschaft. Handbooks of Linguistics and Communication Science / Handbücher zur Sprach- und Kommunikationswissenschaft 3/2. Quyển 2 (ấn bản thứ 2). de Gruyter.ISBN978-3-11-019425-8.
Australian Bureau of Statistics (ngày 28 tháng 3 năm 2013)."2011 Census QuickStats: Australia".Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2015.
Bailey, G. (1997). "When did southern American English begin". Trong Edgar W. Schneider (biên tập).Englishes around the world. tr. 255–275.
Bammesberger, Alfred (1992). "Chapter 2: The Place of English in Germanic and Indo-European". Trong Hogg, Richard M. (biên tập).The Cambridge History of the English Language. Quyển 1: The Beginnings to 1066. Cambridge University Press. tr. 26–66.ISBN978-0-521-26474-7.
Barry, Michael V. (1982). "English in Ireland". Trong Bailey, Richard W.; Görlach, Manfred (biên tập).English as a World Language. University of Michigan Press. tr. 84–134.ISBN978-3-12-533872-2.
Bauer, Laurie; Huddleston, Rodney (2002)."Chapter 19: Lexical Word-Formation". Trong Huddleston, Rodney; Pullum, Geoffrey K. (biên tập).The Cambridge Grammar of the English Language. Cambridge: Cambridge University Press. tr. 1621–1721.ISBN978-0-521-43146-0.Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2015.
Boberg, Charles (2010).The English language in Canada: Status, history and comparative analysis. Studies in English Language. Cambridge University Press.ISBN978-1-139-49144-0.
Beau Brock (tháng 7 năm 2011). "The English language in Canada: Status, history and comparative analysis (review)".The Canadian Journal of Linguistics. Quyển 55 số 2. tr. 277–279.doi:10.1353/cjl.2011.0015.S2CID144445944.
Carr, Philip; Honeybone, Patrick (2007). "English phonology and linguistic theory: an introduction to issues, and to 'Issues in English Phonology'".Language Sciences. Quyển 29 số 2. tr. 117–153.doi:10.1016/j.langsci.2006.12.018.Bản mẫu:Subscription or libraries
Cassidy, Frederic G. (1982). "Geographical Variation of English in the United States". Trong Bailey, Richard W.; Görlach, Manfred (biên tập).English as a World Language. University of Michigan Press. tr. 177–210.ISBN978-3-12-533872-2.
Collingwood, Robin George; Myres, J. N. L. (1936). "Chapter XX. The Sources for the period: Angles, Saxons, and Jutes on the Continent".Roman Britain and the English Settlements. Quyển Book V: The English Settlements. Oxford, England: Clarendon Press.JSTOR2143838.LCCN37002621.
Collins, Beverley; Mees, Inger M. (2003) [First published 1981].The Phonetics of English and Dutch (ấn bản thứ 5). Leiden: Brill Publishers.ISBN978-90-04-10340-5.
Denning, Keith; Kessler, Brett; Leben, William Ronald (ngày 17 tháng 2 năm 2007).English Vocabulary Elements. Oxford University Press.ISBN978-0-19-516803-7.Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2015.
Dixon, R. M. W. (1982). "The grammar of English phrasal verbs".Australian Journal of Linguistics. Quyển 2 số 1. tr. 1–42.doi:10.1080/07268608208599280.
Eagleson, Robert D. (1982). "English in Australia and New Zealand". Trong Bailey, Richard W.; Görlach, Manfred (biên tập).English as a World Language. University of Michigan Press. tr. 415–438.ISBN978-3-12-533872-2.
"Summary by language size".Ethnologue: Languages of the World.Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2015.
Fasold, Ralph W.; Connor-Linton, Jeffrey, biên tập (2014).An Introduction to Language and Linguistics . Cambridge University Press.ISBN978-1-316-06185-5.
Graddol, David; Leith, Dick; Swann, Joan; Rhys, Martin; Gillen, Julia, biên tập (2007).Changing English. Routledge.ISBN978-0-415-37679-2.Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2015.
Greenbaum, S.; Nelson, G. (2002).An introduction to English grammar . Longman.ISBN978-0-582-43741-8.
Halliday, M. A. K.; Hasan, Ruqaiya (1976).Cohesion in English. Pearson Education ltd.
Hancock, Ian F.; Angogo, Rachel (1982). "English in East Africa". Trong Bailey, Richard W.; Görlach, Manfred (biên tập).English as a World Language. University of Michigan Press. tr. 415–438.ISBN978-3-12-533872-2.
Hickey, R., biên tập (2005).Legacies of colonial English: Studies in transported dialects. Cambridge University Press.
Hogg, Richard M. (1992). "Chapter 3: Phonology and Morphology". Trong Hogg, Richard M. (biên tập).The Cambridge History of the English Language. Quyển 1: The Beginnings to 1066. Cambridge University Press. tr. 67–168.doi:10.1017/CHOL9780521264747.ISBN978-0-521-26474-7.S2CID161881054.
"How many words are there in the English language?".Oxford Dictionaries Online. Oxford University Press. 2015.Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2015.How many words are there in the English language? There is no single sensible answer to this question. It's impossible to count the number of words in a language, because it's so hard to decide what actually counts as a word.
Hughes, Arthur; Trudgill, Peter (1996).English Accents and Dialects (ấn bản thứ 3). Arnold Publishers.
International Civil Aviation Organization (2011)."Personnel Licensing FAQ". International Civil Aviation Organization – Air Navigation Bureau. In which languages does a licence holder need to demonstrate proficiency?.Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2014.Controllers working on stations serving designated airports and routes used by international air services shall demonstrate language proficiency in English as well as in any other language(s) used by the station on the ground.
König, Ekkehard; van der Auwera, Johan, biên tập (1994).The Germanic Languages. Routledge Language Family Descriptions. Routledge.ISBN978-0-415-28079-2.JSTOR4176538.Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2015. The survey of the Germanic branch languages includes chapters by Winfred P. Lehmann,Ans van Kemenade, John Ole Askedal, Erik Andersson, Neil Jacobs, Silke Van Ness, and Suzanne Romaine.
König, Ekkehard (1994)."17. English". Trong König, Ekkehard; van der Auwera, Johan (biên tập).The Germanic Languages. Routledge Language Family Descriptions. Routledge. tr. 532–562.ISBN978-0-415-28079-2.JSTOR4176538.Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2015.
Labov, W. (1972). "13. The Social Stratification of (R) in New York City Department Stores".Sociolinguistic patterns. University of Pennsylvania Press.
Lanham, L. W. (1982). "English in South Africa". Trong Bailey, Richard W.; Görlach, Manfred (biên tập).English as a World Language. University of Michigan Press. tr. 324–352.ISBN978-3-12-533872-2.
Lass, Roger (1992). "2. Phonology and Morphology". Trong Blake, Norman (biên tập).Cambridge History of the English Language. Quyển II: 1066–1476. Cambridge University Press. tr. 23–154.
Lass, Roger (2000). "Chapter 3: Phonology and Morphology". Trong Lass, Roger (biên tập).The Cambridge History of the English Language, Volume III: 1476–1776. Cambridge: Cambridge University Press. tr. 56–186.
Lass, Roger (2002), "South African English", trong Mesthrie, Rajend (biên tập),Language in South Africa, Cambridge University Press,ISBN978-0-521-79105-2
Lawton, David L. (1982). "English in the Caribbean". Trong Bailey, Richard W.; Görlach, Manfred (biên tập).English as a World Language. University of Michigan Press. tr. 251–280.ISBN978-3-12-533872-2.
Levine, L.; Crockett, H. J. (1966). "Speech Variation in a Piedmont Community: Postvocalic r*".Sociological Inquiry. Quyển 36 số 2. tr. 204–226.doi:10.1111/j.1475-682x.1966.tb00625.x.
Li, David C. S. (2003). "Between English and Esperanto: what does it take to be a world language?".International Journal of the Sociology of Language. Quyển 2003 số 164. tr. 33–63.doi:10.1515/ijsl.2003.055.ISSN0165-2516.
"Macquarie Dictionary".Australia's National Dictionary & Thesaurus Online | Macquarie Dictionary. Macmillan Publishers Group Australia. 2015.Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2015.
Mair, C.; Leech, G. (2006). "14 Current Changes in English Syntax".The handbook of English linguistics.
National Records of Scotland (ngày 26 tháng 9 năm 2013)."Census 2011: Release 2A". Scotland's Census 2011.Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2015.
Nevalainen, Terttu; Tieken-Boon van Ostade, Ingrid (2006). "Chapter 5: Standardization". Trong Denison, David; Hogg, Richard M. (biên tập).A History of the English language. Cambridge University Press.ISBN978-0-521-71799-1.
O'Dwyer, Bernard (2006).Modern English Structures, second edition: Form, Function, and Position. Broadview Press.
Office for National Statistics (ngày 4 tháng 3 năm 2013)."Language in England and Wales, 2011".2011 Census Analysis.Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2014.
Payne, John; Huddleston, Rodney (2002). "5. Nouns and noun phrases". Trong Huddleston, R.; Pullum, G. K. (biên tập).The Cambridge Grammar of English. Cambridge: Cambridge University Press. tr. 323–522.
Richter, Ingo (2012)."Introduction". Trong Richter, Dagmar; Richter, Ingo; Toivanen, Reeta; và đồng nghiệp (biên tập).Language Rights Revisited: The challenge of global migration and communication. BWV Verlag.ISBN978-3-8305-2809-8.Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2015.
Roach, Peter (2009).English Phonetics and Phonology (ấn bản thứ 4). Cambridge.
Romaine, Suzanne (1982). "English in Scotland". Trong Bailey, Richard W.; Görlach, Manfred (biên tập).English as a World Language. University of Michigan Press. tr. 56–83.ISBN978-3-12-533872-2.
Romaine, Suzanne (1999). "Chapter 1: Introduction". Trong Romaine, Suzanne (biên tập).Cambridge History of the English Language. Quyển IV: 1776–1997. Cambridge University Press. tr. 01–56.doi:10.1017/CHOL9780521264778.002.ISBN978-0-521-26477-8.
Ryan, Camille (tháng 8 năm 2013)."Language Use in the United States: 2011"(PDF).American Community Survey Reports. tr. 1.Bản gốc(PDF) lưu trữ ngày 5 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2014.
Sailaja, Pingali (2009).Indian English. Dialects of English. Edinburgh University Press.ISBN978-0-7486-2595-6.Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2015.
Schiffrin, Deborah (1988).Discourse Markers. Studies in Interactional Sociolinguistics. Cambridge University Press.ISBN978-0-521-35718-0.Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2015.
Sheidlower, Jesse (ngày 10 tháng 4 năm 2006)."How many words are there in English?".Slate Magazine.Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2015.The problem with trying to number the words in any language is that it's very hard to agree on the basics. For example, what is a word?
Sweet, Henry (2014) [1892].A New English Grammar. Cambridge University Press.
Thomas, Erik R. (2008). "Rural Southern white accents". Trong Edgar W. Schneider (biên tập).Varieties of English. Quyển 2: The Americas and the Caribbean. de Gruyter. tr. 87–114.doi:10.1515/9783110208405.1.87.ISBN978-3-11-020840-5.
Todd, Loreto (1982). "The English language in West Africa". Trong Bailey, Richard W.; Görlach, Manfred (biên tập).English as a World Language. University of Michigan Press. tr. 281–305.ISBN978-3-12-533872-2.
Toon, Thomas E. (1982). "Variation in Contemporary American English". Trong Bailey, Richard W.; Görlach, Manfred (biên tập).English as a World Language. University of Michigan Press. tr. 210–250.ISBN978-3-12-533872-2.
Toon, Thomas E. (1992). "Old English Dialects". Trong Hogg, Richard M. (biên tập).The Cambridge History of the English Language. Quyển 1: The Beginnings to 1066. Cambridge University Press. tr. 409–451.ISBN978-0-521-26474-7.
Trudgill, Peter; Hannah, Jean (2002).International English: A Guide to the Varieties of Standard English (ấn bản thứ 4). London: Hodder Education.ISBN978-0-340-80834-4.