Movatterモバイル変換


[0]ホーム

URL:


Bước tới nội dung
WikipediaBách khoa toàn thư mở
Tìm kiếm

Tiếng Anh

Đây là một bài viết cơ bản. Nhấn vào đây để biết thêm thông tin.
Trang hạn chế sửa đổi (bán khóa)
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Tiếng Anh
English
Phát âm/ˈɪŋɡlɪʃ/[1]
Tổng số người nói360 – 400 triệu
Số người nói L2: 750 triệu;
với tư cáchngoại ngữ: 600–700 triệu[2]
Dân tộcNgười Anh (xem thêmvùng văn hóa Anh ngữ)
Phân loạiẤn-Âu
Ngôn ngữ tiền thân
Hệ chữ viết
Tiếng Anh mã hóa thủ công
(nhiều hệ thống)
Địa vị chính thức
Ngôn ngữ chính thức tại
Ngôn ngữ thiểu số được công nhận tại
Toàn cầu, đặc biệt tại
Mã ngôn ngữ
ISO 639-1en
ISO 639-2eng
ISO 639-3eng
Glottologstan1293[3]
Linguasphere52-ABA
  Những vùng tiếng Anh là ngôn ngữ bản xứ chiếm đa số
  Những vùng tiếng Anh được công nhận chính thức hoặc được nói bởi đa số người, song không phải ngôn ngữ bản xứ chính
Bài viết này có chứa ký tự ngữ âmIPA. Nếu không thích hợphỗ trợ dựng hình, bạn có thể sẽ nhìn thấy dấu chấm hỏi, hộp, hoặc ký hiệu khác thay vì kí tựUnicode. Để biết hướng dẫn giới thiệu về các ký hiệu IPA, xemTrợ giúp:IPA.

Tiếng Anh hayAnh ngữ (English/ˈɪŋɡlɪʃ/ ) là mộtngôn ngữ Giécmanh Tây thuộcngữ hệ Ấn-Âu.Dạng thức cổ nhất của ngôn ngữ này được nói bởi những cư dân trên mảnh đất Anh thờisơ kỳ trung cổ.[4][5][6] Tên bản ngữ của thứ tiếng này bắt nguồn từtộc danh của một trong nhữngbộ lạc Giécmanh di cư sang đảo Anh trước kia, gọi làtộc Angle. Xét về phả hệngôn ngữ học, tiếng Anh có mối quan hệ gần gũi vớitiếng Frisiatiếng Saxon Hạ; tuy vậy qua hàng ngàn năm lịch sử, vốn từ tiếng Anh đã chịu ảnh hưởng rất lớn từ cácphương ngữ cổ của tiếng Pháp (khoảng29% từ vựng tiếng Anh hiện đại) vàtiếng Latinh (cũng khoảng 29%), thêm nữa là các ảnh hưởng sâu sắc củatiếng Bắc Âu cổ (mộtngôn ngữ Giécmanh Bắc) lênngữ pháptừ vựng cốt lõi của nó.[7][8][9]

Các dạng tiếng Anh thuở sớm, gọi chung làtiếng Anh cổ, phát sinh từ các phương ngữ cổ xưa thuộcnhóm ngôn ngữ Giécmanh Biển Bắc. Những phương ngữ ấy vốn là tiếng mẹ đẻ củangười Anglo-Saxon di cư sang Đảo Anh vào thế kỷ thứ 5, rồi tiếp tục biến đổi suốt thế kỷ thứ 8 và thứ 9 do tiếp xúc dai dẳng vớitiếng Bắc Âu cổ củadi dân Viking. Giai đoạntiếng Anh trung đại bắt đầu vào cuối thế kỷ 11, ngay saucuộc xâm lược Anh của người Norman, với những ảnh hưởng đáng kể đến từ các phương ngữ Pháp cổ (đặc biệt làtiếng Norman cổ) và tiếngLatinh suốt khoảng 300 năm ròng.[10][11] Đến cuối thế kỷ 15, tiếng Anh bước vàogiai đoạn cận đại sau khi trải quaquá trình biến đổi nguyên âm quy mô lớn và xu thế vay mượn từ ngữ tiếng Hy-La thờiPhục hưng, đồng thời với sự ra đời củamáy in ép tạiLuân Đôn. Thông qua đó mà văn học Anh ngữ bấy giờ đã đạt đến đỉnh cao, nổi bật với các chứng tích như bản dịch tiếng Anh củaKinh Thánh đời vuaJames I và các vở kịch kinh điển của đại văn hàoWilliam Shakespeare.[12][13]

Ngữ pháp tiếng Anh hiện đại là kết quả của quá trình biến đổi dần dần từ kiểudependant-marking điển hình củahệ Ấn-Âu, đặc trưng với sựbiến đổihình thái phong phú vàtrật tự từ tương đối tự do, sang kiểuphân tích, đặc trưng với hình thái ít biến đổi cùng trật tựchủ-động-tân thiếu linh động.[14] Tiếng Anh hiện đại dựa phần lớn vàotrợ động từ và trật tự từ để biểu đạt cácthì (tense),thức (mood) vàthể (aspect) phức tạp, cũng nhưcác cấu trúc bị động,nghi vấn và một sốdạng phủ định.

Tiếng Anh hiện đại lan rộng khắp thế giới kể từ thế kỷ 17 nhờ tầm ảnh hưởng toàn cầu củaĐế quốc AnhHoa Kỳ. Thông qua các loại hình in ấn và phương tiện truyền thông đại chúng của những quốc gia này, vị thế tiếng Anh đã được nâng lên hàng đầu trongdiễn ngôn quốc tế, giúp nó trở thànhlingua franca tại nhiều khu vực trên thế giới và trong nhiều bối cảnh chuyên môn như khoa học, hàng hải và luật pháp.[4] Tiếng Anh là ngôn ngữ có số lượng người nói đông đảo nhất trên thế giới,[15] và có số lượng người nói bản ngữ nhiều thứ ba trên thế giới, chỉ sautiếng Trung Quốc chuẩntiếng Tây Ban Nha.[16] Tiếng Anh làngoại ngữ được nhiều người học nhất và là ngôn ngữ chính thức hoặc đồng chính thức của 59 quốc gia trên thế giới. Hiện nay số người biết nói tiếng Anh như một ngoại ngữ đã áp đảo hơn số người nói tiếng Anh bản ngữ. Tính đến năm 2005, lượng người nói tiếng Anh đã cán mốc xấp xỉ 2 tỷ.[17] Tiếng Anh là bản ngữ đa số tạiVương quốc Anh, Hoa Kỳ,Canada,Úc,New Zealand (xemvùng văn hóa tiếng Anh) vàCộng hòa Ireland. Nó được sử dụng phổ biến ở một số vùng thuộcvùng Caribe,Châu Phi,Nam Á,Đông Nam Á, vàChâu Đại Dương.[18] Tiếng Anh làngôn ngữ đồng chính thức của Liên Hợp Quốc,Liên minh châu Âu, cùng nhiều tổ chức quốc tế và khu vực. Ngoài ra nó cũng làngôn ngữ Giécmanh được sử dụng rộng rãi nhất, với lượng người nói chiếm ít nhất 70% tổng số người nói các ngôn ngữ thuộc nhánh Ấn-Âu này.

Phân loại

Nhóm Anglic
  Tiếng Anh
Nhóm Anh‑Frisia
Nhóm Anglic vàNhóm Giécmanh Biển Bắc
Nhóm Anh-Frisia vàNhóm Giécmanh Tây
Nhóm Giécmanh Biển Bắc và ......Tiếng Đức (Cao địa): ......Tiếng Yiddish
Phả hệnhóm ngôn ngữ German Tây

Tiếng Anh là mộtngôn ngữ Ấn–Âu, cụ thể hơn là ngôn ngữ thuộcnhánh Tây củangữ tộc Giécmanh.[19] Dạng cổ của tiếng Anh –Tiếng Anh cổ – bắt nguồn từdãy phương ngữ được nói bởi các dân tộc Giécmanh sinh sống dọc bờBiển Bắc xứFrisia (nay thuộcHà Lan). Các phương ngữ Giécmanh ấy đã phát sinhnhóm ngôn ngữ Anglic trên Đảo Anh, cũng nhưtiếng Frisiatiếng Đức Hạ/Saxon Hạ trên lục địa châu Âu. Tiếng Frisia do vậy có quan hệ rất gần với tiếng Anh, và cũng chính vì vậy nên giới ngôn ngữ học mới gộp chúng vàonhóm Anh-Frisia. Ngoài ra, tiếng Đức Hạ/Saxon Hạ cũng có quan hệ gần gũi với tiếng Anh, song phân loại gộp ba thứ tiếng trên thành một nhóm duy nhất (gọi lànhóm Giécmanh Biển Bắc) hiện còn bị nhiều người phản bác.[8] Tiếng Anh cổ đã dần diễn tiến thànhtiếng Anh trung đại, rồi tiếp tục phát triển thành tiếng Anh đương đại.[20] Đồng thời, các phương ngữ tiếng Anh cổ và tiếng Anh trung đại cũng đã biến đổi thành các ngôn ngữ mới; chẳng hạntiếng Scotland,[21] cũng như các ngôn ngữ đã thất truyền nhưtiếng Fingaltiếng Yola ở Ireland.[22]

Tiếng Anh – giống nhưtiếng Icelandtiếng Faroe, vốn đều là các ngôn ngữ được sử dụng trên các đảo cô lập và do vậy chúng được cách ly khỏi các ảnh hưởng ngôn ngữ trên đất liền – đã phân kỳ đáng kể khỏi các nhánh chị em. Không tồn tại sự thông hiểu lẫn nhau giữa tiếng Anh với bất kỳ thứ tiếng Giécmanh lục địa nào, sở dĩ bởi sự khác biệttừ vựng,cú phápâm vị. Dù vậy khi xem xét kỹ hơn,tiếng Hà Lantiếng Frisia vẫn lưu giữ nhiều nét tương đồng với tiếng Anh, đặc biệt là nếu ta đem so sánh với các giai đoạn cổ hơn của tiếng Anh.[23]

Tuy nhiên, không giốngtiếng Icelandtiếng Faroe vốn bị cô lập ở mức độ cao hơn, tiếng Anh vẫn chịu ảnh hưởng từ một số ngôn ngữ đại lục được du nhập vào đảo Anh kèm theo các cuộc xâm lược và di dân trong quá khứ (đặc biệt làtiếng Pháp Normantiếng Bắc Âu cổ). Những sự biến ấy đã hằn in vào vốn từ và ngữ pháp tiếng Anh những dấu ấn rất sâu sắc, cũng là ngọn nguồn của các nét tương đồng giữa tiếng Anh hiện đại với một số ngôn ngữ ngoạingành – song chúng hoàn toàn không có tính thông hiểu lẫn nhau. Dựa vào đó, một số học giả đã đề xuấtgiả thuyết tiếng Anh trung đại lai căng (Middle English creole hypothesis), theo đó thì họ cho rằng tiếng Anh thực chất là mộtngôn ngữ pha trộn (mixed language) hoặc mộtngôn ngữ lai căng (creole language) chứ không thuần Giécmanh. Tuy đúng là các định đề của giả thuyết này được thừa nhận rộng rãi, song phần lớn giới chuyên gia ngày nay không hề coi tiếng Anh là ngôn ngữ pha trộn.[24][25]

Tiếng Anh được phân loại là một ngôn ngữ Giécmanh vì nó có nhiều điểmđổi mới giống các ngôn ngữ nhưtiếng Hà Lan,tiếng Đứctiếng Thụy Điển.[26] Điều này chứng tỏ các ngôn ngữ ấy chắc hẳn đã phát sinh từ cùng một ngôn ngữ tổ tiên mà giới ngôn ngữ học gọi làtiếng Giécmanh nguyên thủy. Một số điểm chung đó bao gồm: sự phân biệt giữa lớp động từ mạnh và yếu, sự vận dụngđộng từ khuyết, cũng như tuân theo các luật biến đổi phụ âm từtiếng Ấn-Âu nguyên thủyluật Grimmluật Verner. Tiếng Anh được nhóm với tiếng Frisia bởi lẽ chúng chia sẻ nhiều điểm độc đáo, không tồn tại ở nhánh nào khác, chẳng hạn sựngạc cứng hóa cácâm ngạc mềm của tiếng Giécmanh nguyên thủy.[27]

Lịch sử

Bài chi tiết:Lịch sử tiếng Anh

Từ tiền ngữ Giécmanh đến tiếng Anh cổ

Bài chi tiết:Tiếng Anh cổ
Phần tựa của sử thiBeowulf tiếng Anh cổ,thủ bút chữnửa ông-xi-an:
Hƿæt ƿē Gārde/na ingēar dagum þēod cyninga / þrym ge frunon...
Dịch tiếng Anh: "Listen! We of the Spear-Danes from days of yore have heard of the glory of the folk-kings..."
Dịch tiếng Việt: "Nghe đây! Bọn ta, thuộc tộc Spear-Dane từ những ngày cổ xưa, đã nghe nói thanh danh của các vị vua-nhân dân

Dạng cổ nhất của tiếng Anh được gọi là tiếng Anh cổ hay tiếng Anglo-Saxon (k. năm 550–1066). Tiếng Anh cổ phát triển từ một tập hợp cácphương ngữ Giécmanh biển Bắc, vốn được nói dọc vùng duyên hảiFrisia,Niedersachsen,Jylland, và NamThụy Điển bởi nhiều bộ lạc Giécmanh khác nhau nhưAngle,Saxon, vàJute.[28][29] Bắt đầu từ thế kỷ thứ 4, người Anglo-Saxondi cư sang đảo Anh đồng thời vớisự suy vong của chính quyền La Mã tại đây. Đến thế kỷ thứ 7, ngôn ngữ của người Anglo-Saxon đã chiếm ưu thế hoàn toàn trên đảo, thay thế các ngôn ngữ củaAnh thuộc La Mã (43–409):tiếng Britton chung, mộtngôn ngữ Celt; vàtiếng Latinh, ngôn ngữ do người La Mã du nhập vào.[30][31][32] Hai cái tênEnglandEnglish (ban đầu làÆnglalandÆnglisc) đều bắt nguồn từ tộc danh "Angle".[33]

Tiếng Anh cổ được phân thành bốn phương ngữ chính: hai phương ngữ Angle (tiếng Merciatiếng Northumbria) và hai phương ngữ Saxon (tiếng Kenttiếng Tây Saxon).[34] Nhờ cải cách giáo dục củaVua Alfred vào thế kỷ thứ 9 cùng các ảnh hưởng củavương quốc Wessex, phương ngữ Tây Saxon đã trở thànhdạng ngôn ngữ viết tiêu chuẩn.[35]Sử thiBeowulf được viết bằng phương ngữ Tây Saxon; còn bài thơ tiếng Anh lâu đời nhất,Cædmon's Hymn, được viết bằng phương ngữ Northumbria.[36] Tiếng Anh hiện đại phát triển chủ yếu từ phương ngữ Mercia, còntiếng Scotland phát triển từ phương ngữ Northumbria. Một vài bản khắc ngắn vào thời tiếng Anh cổ sơ kỳ được viết bằngchữ rune.[37] Đến thế kỷ thứ 6, người đảo Anh tiếp nhậnbảng chữ cái Latinh và viết bằng phông chữnửa ông-xi-an. Bảng chữ thời kì đầu này lưu giữ lại các kí tự rune làwynnƿ⟩ vàthornþ⟩, và có thêm các ký tự Latinh cải biến làethð⟩ vàashæ⟩.[37][38]

Tiếng Anh cổ về cơ bản là một ngôn ngữ khác hẳn tiếng Anh hiện đại. Người nói tiếng Anh thế kỷ 21, nếu không được học, sẽ không tài nào hiểu được tiếng Anh cổ. Ngữ pháp của nó có nét giống tiếng Đức hiện đại: Danh từ, tính từ,đại từ, và động từ có nhiều dạng thù biến hình hơn, và thứ tự câu cũng tự do hơn đáng kể tiếng Anh hiện đại. Tiếng Anh hiện địa có các dạng biến cách của đại từ (ví dụhe,him,his) và một số biến dạng ở động từ (ví dụspeak,speaks,speaking,spoke,spoken); song tiếng Anh cổ có sự biến cách ở danh từ, và động từ thì có nhiều đuôi biểu thị ngôi và số hơn.[39][40][41] Ngay cả vào thế kỷ thứ 9 và 10, khi đảo Anh nằm dưới sự chi phối củaDanelagh và hứng chịu các cuộc xâm lược triền miên củangười Viking, vẫn có bằng chứng cho thấy tiếng Bắc Âu cổ và tiếng Anh cổ thông hiểu nhau ở mức độ tương đối cao.[42] Trên lý thuyết, tới tận những năm 900, thường dân ở Anh quốc vẫn có thể đối thoại với thường dân ở Scandinavia. Hiện nay, các nghiên cứu vẫn đang được tiến hành nhằm tìm hiểu về hàng trăm bộ lạc từng sinh sống trên đảo Anh và Scandinavia, cũng như các tiếp xúc tương giao giữa họ.[42]

Đoạn dịch tiếng Anh sau đây củaPhúc Âm Mátthêu 8:20 vào năm 1000 cho thấy các đuôi biến cách (danh cách số phức, đối cách số phức, thuộc cách số đơn) và một đuôi vị ngữ (thì hiện tại số phức):

  • Foxas habbað holu and heofonan fuglas nest

Fox-as

cáo-NOM.PL

habb-að

có-PRS.PL

hol-u

hố-ACC.PL

and

heofon-an

trời-GEN.SG

fugl-as

chim-NOM.PL

nest-∅

tổ-ACC.PL

Fox-as habb-að hol-u and heofon-an fugl-as nest-∅

cáo-NOM.PL có-PRS.PL hố-ACC.PL và trời-GEN.SG chim-NOM.PL tổ-ACC.PL

"Cáo có hố và chim trời có tổ"[43]

Tiếng Anh trung đại

Bài chi tiết:Tiếng Anh trung đạiẢnh hưởng của tiếng Pháp đối với tiếng Anh
Englischmen þeyz hy hadde fram þe bygynnyng þre manner speche, Souþeron, Northeron, and Myddel speche in þe myddel of þe lond, ... Noþeles by comyxstion and mellyng, furst wiþ Danes, and afterward wiþ Normans, in menye þe contray longage ys asperyed, and som vseþ strange wlaffyng, chyteryng, harryng, and garryng grisbytting.

Dịch nghĩa: Mặc dầu, từ thuở đầu, người Anh có ba tiếng nói, nam, bắc và trung địa ở giữa đất nước, ... Tuy nhiên, thông qua sự trộn lẫn và sự giao hợp, đầu tiên với người Dane và rồi với người Norman, trong số đó mà ngôn ngữ đất nước đã trỗi dậy, còn một số thì sử dụng tiếng lắp bắp kì lạ, tiếng lạch cạch, tiếng cằn nhằn, và tiếng nghiến răng chói tai.

John Trevisa, khoảng năm 1385[44]

Trong thời kỳ thế kỷ VIII-XII, tiếng Anh cổ qua sựtiếp xúc ngôn ngữ đã chuyển thànhtiếng Anh trung đại. Thời tiếng Anh trung đại thường được xem là bắt đầu từcuộc xâm lược nước Anh củaWilliam Kẻ chinh phục năm 1066.

Ban đầu, những làn sóng thực dân hóa của người Norse ở miền bắc quần đảo Anh vào thế kỷ VIII-IX đưa tiếng Anh cổ đến sự tiếp xúc vớitiếng Bắc Âu cổ, mộtngôn ngữ German phía Bắc. Ảnh hưởng của tiếng Bắc Âu cổ mạnh nhất là ở những phương ngữ đông bắc quanh York (khu vực màDanelaw được áp dụng), nơi từng là trung tâm của sự thuộc địa hóa; ngày nay những ảnh hưởng này vẫn hiển hiện trongtiếng Scotlandtiếng Anh bắc Anh.

Với cuộc xâm lược của người Norman năm 1066, thứ tiếng Anh cổ được "Bắc Âu hóa" giờ lại tiếp xúc vớitiếng Norman cổ, mộtngôn ngữ Rôman rất gần vớitiếng Pháp. Tiếng Norman tại Anh cuối cùng phát triển thànhtiếng Anglo-Norman. Vì tiếng Norman được nói chủ yếu bởi quý tộc và tầng lớp cao của xã hội, trong khi thường dân tiếp tục nói tiếng Anglo-Saxon, ảnh hưởng tiếng Norman mang đến một lượng lớn từ ngữ liên quan đến chính trị, luật pháp và sự thống trị.[9] Tiếng Anh trung đại lượt bỏ bớt hệ thống biến tố. Sự khác biệt giữa danh cách và đối cách mất đi (trừ ở đại từ), công cụ cách bị loại bỏ, và chức năng của sở hữu cách bị giới hạn. Hệ thống biến tố "quy tắc hóa" nhiều dạng biến tố bất quy tắc,[45] và dần dần đơn giản hóa hệ thốnghợp, khiến cấu trúc câu kém mềm dẻo đi.[46] TrongKinh Thánh Wycliffe thập niên 1380, đoạn Phúc Âm Mátthêu 8:20 được viết

Foxis han dennes, and briddis of heuene han nestis[47]

Ở đây, hậu tố thì hiện tại số nhiều-n ở động từhan (nguyên mẫu "haven", gốc từha-) hiện diện, nhưng không có cách ngữ pháp nào được thể hiện.

Đến thế kỷ XII, tiếng Anh trung đại phát triển hoàn toàn, dung hợp vào mình cả ảnh hưởng của tiếng Bắc Âu cổ và tiếng Norman; và tiếp tục được nói cho tới khoảng năm 1500 thì trở thành tiếng Anh hiện đại. Nền văn học tiếng Anh trung đại có những tác phẩm nhưTruyện cổ Caunterbury củaGeoffrey Chaucer, vàLe Morte d'Arthur củaMalory.

Tiếng Anh cận đại

Bài chi tiết:Tiếng Anh cận đại
Hình minh họa cuộcGreat Vowel Shift, cho thấy cách phát âm nguyên âm dài dần thay đổi như thế nào, với cácnguyên âm đóng dài i: và u: biến thànhnguyên âm đôi

Thời kỳ tiếp theo là tiếng Anh cận đại (Early Modern English, 1500–1700). Thời kỳ tiếng Anh cận đại nổi bật với cuộcGreat Vowel Shift (1350–1700), tiếp tục đơn giản hóa biến tố, và sự chuẩn hóa ngôn ngữ.

Great Vowel Shift ảnh hưởng lên nhữngnguyên âm dài được nhấn. Đây là một sự "biến đổi dây chuyền", tức là một âm được biến đổi làm tác động lên các âm khác nữa. Nhữngnguyên âm vừanguyên âm mở được nâng lên, vànguyên âm đóng biến thànhnguyên âm đôi. Ví dụ, từbite ban đầu được phát âm giống từbeet ngày nay, nguyên âm thứ hai trong từabout được phát âm giống trong từboot ngày này. Great Vowel Shift gây nên nhiều sự bất tương đồng trong cách viết, vì tiếng Anh hiện đại duy trì phần nhiều cách viết của tiếng Anh trung đại, và cũng giải thích tại sao, các ký tự nguyên âm trong tiếng Anh lại được phát âm rất khác khi so với những ngôn ngữ khác.[48][49]

Tiếng Anh trở thànhngôn ngữ uy tính dưới thờiHenry V. Khoảng năm 1430,Tòa án Chancery tạiWestminster bắt đầu sử dụng tiếng Anh để viết các tài liệu chính thức, và một dạng chuẩn mới, gọi làChancery Standard, được hình thành dựa trên phương ngữ thành Luân Đôn vàEast Midlands. Năm 1476,William Caxton giới thiệumáy in ép tới nước Anh và bắt đầu xuất bản những quyển sách đầu tiên, làm lan rộng sự ảnh hưởng của dạng chuẩn mới.[50] Những tác phẩm củaWilliam Shakespearebản dịch Kinh Thánh được ủy quyền bởiVua James I đại diện cho nền văn học thời kỳ này. Sau cuộc Vowel Shift, tiếng Anh cận đại vẫn có nét khác biệt với tiếng Anh ngày nay: ví dụ, cáccụm phụ âm/knɡnsw/ trongknight,gnat, vàsword vẫn được phát âm đầy đủ. Những đặc điểm mà độc giả của Shakespeare ngày nay có thể thấy kỳ quặc hay lỗi thời thường đại diện cho những nét đặc trưng của tiếng Anh cận đại.[51]

Trong Kinh Thánh Vua James 1611, viết bằng tiếng Anh cận đại, Mátthêu 8:20:

The Foxes haue holes and the birds of the ayre haue nests[43]

Sự lan rộng của tiếng Anh hiện đại

Tới cuối thế kỷ 18,Đế quốc Anh đã truyền bá tiếng Anh tới mọi ngóc ngách của các thuộc địa, cũng như các vùng chịu ảnh hưởng địa chính trị của họ. Thương mại, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, nghệ thuật và giáo dục đều đã góp phần đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ toàn cầu đích thực đầu tiên, đóng vai trò cốt yếu trong giao thiệp quốc tế.[52][4] Do quá trình bành trướng và thuộc địa hóa các vùng đất của Anh quốc, nhiều quy chuẩn tiếng Anh mới đã phát sinh trong diễn ngôn và văn viết. Ngày nay, tiếng Anh được tiếp nhận và sử dụng ở một phần Bắc Mỹ, một phần châu Phi,Úc, và nhiều nơi khác. Thời hậu thuộc địa, một số quốc gia đa sắc tộc sau khi giành được độc lập vẫn giữ tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức, để tránh các phiền toái chính trị xoay quanh việc quá ưu tiên một ngôn ngữ bản địa nhất định nào đó.[53][54][55] Vào thế kỷ 20, tầm ảnh hưởng kinh tế và văn hóa ngày càng lớn của Hoa Kỳ, cũng như vị thếsiêu cường của nó sau khiChiến tranh thế giới thứ hai khép lại, đã đẩy nhanh tốc độ lan truyền của tiếng Anh trên khắp toán cầu.[56][57] Đến thế kỷ 21, tiếng Anh được nói và viết nhiều hơn bất kỳ một thứ tiếng nào trong lịch sử.[58]

Trong quá trình phát triển của tiếng Anh hiện đại, nhiều quy chuẩn sử dụng ngôn ngữ tường minh đã được đề xuất và phát hành, lan truyền thông qua các phương tiện như giáo dục phổ cập và các ấn bản tài trợ bởi nhà nước. Năm 1755,Samuel Johnson xuất bản cuốnA Dictionary of the English Language, trong đó giới thiệu các quy tắc đánh vần và phương thức sử dụng chuẩn chỉ tiếng Anh. Năm 1828,Noah Webster cho ra mắt từ điểnAmerican Dictionary of the English language nhằm hướng đến một sự quy chuẩn đối với khẩu ngữ và văn ngữ của tiếng Anh Mỹ, độc lập khỏi tiếng Anh Anh. Ở Anh quốc, các đặc điểm phương ngữ phi chuẩn hoặc hạ lưu đã liên tục bị dè bỉu và xem thường, điều mà đã dẫn đến sự lan rộng của các biến thể uy tín trong tầng lớp trung lưu.[59]

Ở tiếng Anh hiện đại, sự tiêu biến cách ngữ pháp đã gần như hoàn thiện (giờ đây đặc điểm này chỉ xuất hiện ở các đại từ, v.d. các cặp nhưhehim,sheher,whowhom), và SVO là thứ tự từ ổn định.[59] Một số biến đổi, chẳng hạn đặc điểmdo-hỗ trợ, đã phổ biến ở mọi phương ngữ. (Tiếng Anh ngày xưa không dùng động từ "do" trong vai trò trợ động từ chung như tiếng Anh hiện đại; đặc điểm này vốn chỉ xuất hiện ở câu hỏi, song cũng không hoàn toàn bắt buộc.[60] Ngày nay, "do-hỗ trợ" cùng động từhave đang ngày càng trở thành chuẩn.) Các dạng tiếp diễn đuôi-ing có vẻ đang lan sang các cấu trúc khác, và các dạng nhưhad been being built đang ngày càng phổ biến. Sự chính quy hóa các dạng bất quy tắc cũng đang tiếp diễn chậm chạp (v.d.dreamed thay vìdreamt), và các lối thay thế mang tính phân tích đối với các dạng biến hình đang càng trở nên thông thường (v.d.more polite thay vìpoliter). Tiếng Anh Anh cũng đang trong quá trình biến đổi do bị ảnh hưởng của tiếng Anh Mỹ, thúc đẩy bởi sự hiện diện tràn lan của tiếng Anh Mỹ trên các phương tiện truyền thông và sự uy tín gắn liền với vị thế siêu cường của Hoa Kỳ.[61][62][63]

Phân bố địa lý

Xem thêm:Danh sách lãnh thổ nơi tiếng Anh là ngôn ngữ chính thứcDanh sách quốc gia theo số người nói tiếng Anh
Phần trăm số người bản ngữ tiếng Anh.

Tính đến năm2016, 400 triệu người cóngôn ngữ mẹ đẻ là tiếng Anh, và 1,1 tỉ người dùng nó làm ngôn ngữ thứ hai hoặcngoại ngữ.[64] Tiếng Anh là ngôn ngữ đứng thứ ba về số người bản ngữ, sautiếng Quan Thoạitiếng Tây Ban Nha.[16] Tuy nhiên, khi kết hợp số người bản ngữ và phi bản ngữ, nó có thể, tùy theo ước tính, là ngôn ngữ phổ biến nhất thế giới.[58][65][66][67] Tiếng Anh được nói bởi các cộng đồng ở mọi nơi và ở hầu khắp cáchòn đảo trên cácđại dương.[68]

Ba vòng tròn quốc gia nói tiếng Anh

Braj Kachru phân biệt các quốc gia nơi tiếng Anh được nói bằng mô hình ba vòng tròn.[69] Trong mô hình này, "vòng trong" là quốc gia với các cộng đồng bản ngữ tiếng Anh lớn, "vòng ngoài" là các quốc gia nơi tiếng Anh chỉ là bản ngữ của số ít nhưng được sử dụng rộng rãi tronggiáo dục,truyền thông và các mục đích khác, và "vòng mở rộng" là các quốc gia nơi nhiều người học tiếng Anh. Ba vòng tròn này thay đổi theo thời gian.[70]

Braj Kachru's Three Circles of English
Ba vòng tròn tiếng Anh của Braj Kachru.

Những quốc gia với các cộng đồng bản ngữ lớn gồmVương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland,Hoa Kỳ,Úc,Canada,Cộng hòa Ireland, vàNew Zealand, những nơi đa phần dân số nói tiếng Anh, và Cộng hòa Nam Phi, nơi một thiểu số đáng kể nói tiếng Anh. Cácquốc gia đông người bản ngữ tiếng Anh nhất làHoa Kỳ (ít nhất 231 triệu),[71]Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland (60 triệu),[72][73][74]Canada (19 triệu),[75]Úc (ít nhất 17 triệu),[76]Cộng hòa Nam Phi (4,8 triệu),[77]Cộng hòa Ireland (4,2 triệu), vàNew Zealand (3,7 triệu).[78] Ở những quốc gia này, con của những người bản ngữ học tiếng Anh từ cha mẹ, còn người bản địa nói ngôn ngữ khác hay người nhập cư thường học tiếng Anh để giao tiếp với mọi người xung quanh.[79]

Âm vị học

Bài chi tiết:Âm vị học tiếng Anh

Ngữ âm và âm vị của tiếng Anh khác nhau giữa từng phương ngữ, nhưng chúng hầu như không ảnh hưởng mấy đến quá trình giao tiếp. Sự biến thiên âm vị ảnh hưởng đến vốn âm vị (tức âm tố phân biệt về ý nghĩa), và sự biến thiên ngữ âm bao hàm sự khác biệt trong cách phát âm của các âm vị.[80] Bài viết này chỉ nói tổng quan về hai dạng phát âm chuẩn được dùng ởVương quốc AnhHoa Kỳ, lần lượt là:Received Pronunciation (RP) vàGeneral American (GA).

Bảng bên dưới sử dụng mẫu tự chuẩn củaBảng mẫu tự ngữ âm quốc tế (IPA).[81][82][83]

Phụ âm

Bài chi tiết:Âm vị học tiếng Anh § Phụ âm

Đa số phương ngữ tiếng Anh sở hữu cùng một bộ 24 phụ âm. Bảng bên dưới thể hiện các phụ âm trongphương ngữ California của tiếng Anh Mỹ[84] và của chuẩn RP.[85]

Phụ âm
MôiRăngLợiSau lợiNgạc cứngNgạc mềmThanh hầu
Mũimnŋ
Tắcpbtdkɡ
Tắc-xát
Xátfvθðszʃʒh
Tiếp cậnlɹ*jw

* Thường được phiên âm là/r/

Ở bảng trên, đối với cácâm ồn (âm tắc, tắc-xát, và xát) đi theo cặp (như/pb/,/tʃdʒ/, và/sz/), thì âm đứng trước trong cặp là âm căng (hay âm mạnh) còn âm sau là âm lơi (hay âm yếu). Để phát các âm ồn căng như/ps/, ta cần căng cơ và hà hơi mạnh hơn so với khi phát các âm ồn lơi như/bz/. Theo đó âm ồn căng luônvô thanh, còn âm ồn lơi hữu thanh một phần khi đứng đầu hoặc cuối ngữ lưu và hữu thanh hoàn toàn khi bị kẹp giữa hai nguyên âm. Các âm tắc căng, như/p/ chẳng hạn, có thêm một số đặc điểm cấu âm khác biệt ở đa số các phương ngữ: nó trở thànhâm bật hơi[pʰ] khi một mình đứng ở đầu một âm tiết được nhấn, trở thành âm không bật hơi ở hầu hết các trường hợp khác, và thường trở thànhâm buông không nghe thấy[p̚] hoặcâm tiền-thanh hầu hóa[ˀp] khi đứng ở cuối âm tiết. Đối với các từ đơn âm tiết, nguyên âm đứng trước âm tắc căng được rút ngắn đi: vậy nên nguyên âm trong từnip ngắn hơn (về mặt ngữ âm, không phải âm vị) khi so với nguyên âm trong từnib.[86]

  • âm tắc lơi:bin[b̥ɪˑn],about[əˈbaʊt],nib[nɪˑb̥]
  • âm tắc căng:pin[ˈpʰɪn],spin[spɪn],happy[ˈhæpi],nip[ˈnɪp̚] hay[ˈnɪˀp]

Trong RP, âm tiếp cận bên/l/ có haitha âm chính, đó là: âm[l] thường hoặc sáng, như trong từlight 'nhẹ, ánh sáng'; và âm[ɫ] ngạc mềm hóa hoặc tối, như trong từfull 'no, đầy'.[87] Âmɫ tối thường xuất hiên trong chuẩn GA.[88]

  • l sáng:light theo RP[laɪt]
  • l tối:full theo RP và GA[fʊɫ],light theo GA[ɫaɪt]

Tất cảâm vang (/l,r/) và âm mũi (/m,n,ŋ/) đều bị phi thanh hóa khi đứng sau một âm ồn vô thanh, và sở hữu âm tiết tính khi đứng sau một phụ âm ở cuối từ.[89]

  • âm vang vô thanh:clay[kl̥eɪ̯];snow RP[sn̥əʊ̯], GA[sn̥oʊ̯]
  • âm vang âm tiết tính:paddle[ˈpad.l̩],button[ˈbʌt.n̩]

Nguyên âm

Nguyên âm biến thiên tùy theo từng vùng miền và là một trong các đặc điểm dễ nhận thấy nhất của giọng người nói. Bảng dưới biểu diễn cácâm vị nguyên âm trong Received Pronunciation (RP) và General American (GA), kèm theo các từ ví dụ. Âm vị được thể hiện bằng ký hiệu IPA và các từ trong cột RP được lấy làm chuẩn trong các từ điển Anh ngữ.[90]

Nguyên âm đơn
RPGATừ
ineed
ɪbid
eɛbed
æback
ɑːɑbra
ɒbox
ɔ,ɑcloth
ɔːpaw
ufood
ʊgood
ʌbut
ɜːɜɹbird
əcomma
Nguyên âm đôi khép
RPGATừ
bay
əʊroad
cry
cow
ɔɪboy
Nguyên âm đôi hướng trung
RPGATừ
ɪəɪɹpeer
ɛɹpair
ʊəʊɹpoor

RP phân biệt độ ngắn dài nguyên âm. Theo đó, nguyên âm dài sẽ có thêm ký hiệu ⟨ː⟩ ở sau; ví dụ, nguyên âm trong từneed[niːd] khác với trong từbid[bɪd]. Trái lại, GA không phân biệt độ ngắn dài nguyên âm.

Nguyên âm theo RP và GA đều rút ngắn về mặt ngữ âm trước các phụ âm căng trong cùng mộtâm tiết, như đối với/tf/, song giữ nguyên độ dài nếu đứng trước các phụ âm lơi như/dv/ hoặc trong các âm tiết mở: vì vậy, các nguyên âm trong từrich[rɪtʃ],neat[nit], vàsafe[seɪ̯f] ngắn hơn rõ ràng khi so với các nguyên âm trong từridge[rɪˑdʒ],need[niˑd], vàsave[seˑɪ̯v], và nguyên âm trong từlight[laɪ̯t] ngắn hơn trong từlie[laˑɪ̯]. Vì các phụ âm lơi thường vô thanh ở cuối một âm tiết, độ dài nguyên âm là một dấu hiệu quan trọng cho thấy phụ âm theo sau là lơi hay căng.[91]

Ngữ pháp

Bài chi tiết:Ngữ pháp tiếng Anh

Khác với nhiềungôn ngữ Ấn-Âu khác, tiếng Anh đã gần như loại bỏ hệ thống biến tố dựa trêncách để thay bằng cấu trúcphân tích.Đại từ nhân xưng duy trì hệ thống cách hoàn chỉnh hơn những lớp từ khác. Tiếng Anh có bảy lớp từ chính: động từ, danh từ, tính từ, trạng từ, hạn định từ (tức mạo từ), giới từ, và liên từ. Có thể tách đại từ khỏi danh từ, và thêm vào thán từ.[92] Tiếng Anh có một tập hợp trợ động từ phong phú, nhưhave (nghĩa đen 'có') vàdo ('làm'). Câu nghi vấn códo-support, vàwh-movement (từ hỏiwh- đứng đầu).

Một vài đặc điểm tiêu biểu của ngữ tộc German vẫn còn ở tiếng Anh, như những thân từ được biến tố "mạnh" thông quaablaut (tức đổi nguyên âm của thân từ, tiêu biểu trongspeak/spokefoot/feet) và thân từ "yếu" biến tố nhờhậu tố (nhưlove/loved,hand/hands). Vết tích của hệ thống cách vàgiống hiện diện trong đại từ (he/him, who/whom) và sự biến tố động từto be.

Trong ví dụ sau, cả bảy lớp từ có mặt:[93]

Thechairmanofthecommitteeandtheloquaciouspoliticianclashedviolentlywhenthemeetingstarted
HĐT.DT.GT.HĐT.DT.LT.HĐT.TiT.DT.ĐT.TrT.LT.HĐT.DT.ĐT.
(Chủ tịch ủy ban và vị chính khách lắm lời va vào nhau dữ dội khi cuộc họp bắt đầu)

Danh từ

Danh từ dùng biến tố để chỉ số và sự sở hữu. Danh từ mới có thể được tạo ra bằng cách ghép từ (gọi là compound noun). Danh từ được chia ra thành danh từ riêng và danh từ chung. Danh từ cũng được chia thành danh từ cụ thể (như "table" - cái bàn) và danh từ trừu tượng (như "sadness" - nỗi buồn), và về mặt ngữ pháp gồm danh từ đếm được và không đếm được.[94]

Đa số danh từ đếm được có thể biến tố để thể hiện số nhiều nhờ hậu tố -s/es, nhưng một số có dạng số nhiều bất quy tắc. Danh từ không đếm được chỉ có thể "số nhiều hóa" nhờ một danh từ có chức năng như phân loại từ (ví dụoneloaf of bread,twoloaves of bread).[95]

Ví dụ:

Cách lập số nhiều thông thường:

Số ít:cat, dog
Số nhiều:cats, dogs

Cách lập số nhiều bất quy tắc:

Số ít:man, woman, foot, fish, ox, knife, mouse
Số nhiều:men, women, feet, fish, oxen, knives, mice

Sự sở hữu được thể hiện bằng (')s (thường gọi là hậu tố sở hữu), hay giới từof. Về lịch sử (')s được dùng cho danh từ chỉ vật sống, cònof dùng cho danh từ chỉ vật không sống. Ngày nay sự khác biệt này ít rõ ràng hơn. Về mặt chính tả, hậu tố -s được tách khỏi gốc danh từ bởi dấuapostrophe.

Cấu trúc sở hữu:

Với -s:The woman's husband's child
Vớiof:The child of the husband of the woman
(Con của chồng của người phụ nữ)

Động từ

Động từ tiếng Anh được chia theothìthể, vàhợp (agreement) với đại từ ngôi số ba số ít. Chỉ động từto be vẫn phải hợp với đại từ ngôi thứ nhất và thứ hai số nhiều.[96] Trợ động từ nhưhavebe đi kèm với động từ ở dạng hoàn thành và tiếp diễn. Trợ động từ khác với động từ thường ở chỗ từnot (chỉ sự phủ định) có thể đi ngay sau chúng (ví dụ,have notdo not), và chúng có thể đứng đầu trong câu nghi vấn.[97][98]

Tham khảo

  1. ^Oxford Learner's Dictionary 2015, Entry:English – Pronunciation.
  2. ^Crystal 2006, tr. 424–426.
  3. ^Nordhoff, Sebastian; Hammarström, Harald; Forkel, Robert; Haspelmath, Martin, biên tập (2013)."English".Glottolog. Leipzig: Max Planck Institute for Evolutionary Anthropology.
  4. ^abcThe Routes of English.
  5. ^Crystal 2003a, tr. 6.
  6. ^Wardhaugh 2010, tr. 55.
  7. ^Finkenstaedt, Thomas; Dieter Wolff (1973).Ordered profusion; studies in dictionaries and the English lexicon. C. Winter.ISBN 978-3-533-02253-4.
  8. ^abBammesberger 1992, tr. 30.
  9. ^abSvartvik & Leech 2006, tr. 39.
  10. ^Ian Short,A Companion to the Anglo-Norman World, "Language and Literature", Boydell & Brewer Ltd, 2007. (tr. 193)
  11. ^Crystal 2003b, tr. 30.
  12. ^"How English evolved into a global language". BBC. ngày 20 tháng 12 năm 2010.Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2015.
  13. ^Crystal, David; Potter, Simeon (biên tập). "English language: Historical background".Encyclopædia Britannica. Tháng 12 năm 2021.
  14. ^König 1994, tr. 539.
  15. ^Bản mẫu:E22
  16. ^abEthnologue 2010.
  17. ^Crystal, David (2008). "Two thousand million?".English Today (bằng tiếng Anh). Quyển 24 số 1. tr. 3–6.doi:10.1017/S0266078408000023.S2CID 145597019.
  18. ^Crystal 2003b, tr. 108–109.
  19. ^Bammesberger 1992, tr. 29–30.
  20. ^Robinson 1992.
  21. ^Romaine 1982, tr. 56–65.
  22. ^Barry 1982, tr. 86–87.
  23. ^Harbert 2007.
  24. ^Thomason & Kaufman 1988, tr. 264–265.
  25. ^Watts 2011, Chapter 4.
  26. ^Durrell 2006.
  27. ^König & van der Auwera 1994.
  28. ^Baugh, Albert (1951). A History of the English Language. London: Routledge & Kegan Paul. pp. 60–83, 110–130
  29. ^Shore, Thomas William (1906),Origin of the Anglo-Saxon Race – A Study of the Settlement of England and the Tribal Origin of the Old English People (ấn bản thứ 1), London, tr. 3, 393{{Chú thích}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết)
  30. ^Collingwood & Myres 1936.
  31. ^Graddol, Leith & Swann et al. 2007.
  32. ^Blench & Spriggs 1999.
  33. ^Bosworth & Toller 1921.
  34. ^Campbell 1959, tr. 4.
  35. ^Toon 1992, Chapter: Old English Dialects.
  36. ^Donoghue 2008.
  37. ^abGneuss 2013, tr. 23.
  38. ^Denison & Hogg 2006, tr. 30–31.
  39. ^Hogg 1992, Chapter 3. Phonology and Morphology.
  40. ^Smith 2009.
  41. ^Trask & Trask 2010.
  42. ^abGay, Eric Martin (2014).Old English and Old Norse: An Inquiry into Intelligibility and Categorization Methodology (MA thesis). University of South Carolina.
  43. ^abLass 2006, tr. 46–47.
  44. ^Hogg 2006, tr. 360–361.
  45. ^Lass 1992.
  46. ^Fischer & van der Wurff 2006, tr. 111–13.
  47. ^Wycliffe, John."Bible"(PDF). Wesley NNU.
  48. ^Lass 2000.
  49. ^Görlach 1991, tr. 66–70.
  50. ^Nevalainen & Tieken-Boon van Ostade 2006, tr. 274–79.
  51. ^Cercignani 1981.
  52. ^How English evolved into a global language 2010.
  53. ^Romaine 2006, tr. 586.
  54. ^Mufwene 2006, tr. 614.
  55. ^Northrup 2013, tr. 81–86.
  56. ^Graddol 2006.
  57. ^Crystal 2003a.
  58. ^abMcCrum, MacNeil & Cran 2003, tr. 9–10.
  59. ^abRomaine 1999, tr. 1–56.
  60. ^Romaine 1999, tr. 2: "Other changes such as the spread and regularisation of do support began in the thirteenth century and were more or less complete in the nineteenth. Although do coexisted with the simple verb forms in negative statements from the early ninth century, obligatoriness was not complete until the nineteenth. The increasing use of do periphrasis coincides with the fixing of SVO word order. Not surprisingly, do is first widely used in interrogatives, where the word order is disrupted, and then later spread to negatives."
  61. ^Leech và đồng nghiệp 2009, tr. 18–19.
  62. ^Mair & Leech 2006.
  63. ^Mair 2006.
  64. ^"Which countries are best at English as a second language?".World Economic Forum. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2016.
  65. ^Crystal 2003a, tr. 69.
  66. ^"English".Ethnologue. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2016.
  67. ^"Chinese, Mandarin".Ethnologue.Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2016.
  68. ^Crystal 2003b, tr. 106.
  69. ^Svartvik & Leech 2006, tr. 2.
  70. ^Kachru 2006, tr. 196.
  71. ^Ryan 2013, Table 1.
  72. ^Office for National Statistics 2013, Key Points.
  73. ^National Records of Scotland 2013.
  74. ^Northern Ireland Statistics and Research Agency 2012, Table KS207NI: Main Language.
  75. ^Statistics Canada 2014.
  76. ^Australian Bureau of Statistics 2013.
  77. ^Statistics South Africa 2012, Table 2.5 Population by first language spoken and province (number).
  78. ^Statistics New Zealand 2014.
  79. ^Bao 2006, tr. 377.
  80. ^Wolfram 2006, tr. 334–335.
  81. ^Carr & Honeybone 2007.
  82. ^Bermúdez-Otero & McMahon 2006.
  83. ^MacMahon 2006.
  84. ^International Phonetic Association 1999, tr. 41–42.
  85. ^König 1994, tr. 534.
  86. ^Collins & Mees 2003, tr. 47–53.
  87. ^Trudgill & Hannah 2008, tr. 13.
  88. ^Trudgill & Hannah 2008, tr. 41.
  89. ^Brinton & Brinton 2010, tr. 56–59.
  90. ^Wells, John C. (ngày 8 tháng 2 năm 2001)."IPA transcription systems for English". University College London.Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2018.
  91. ^Collins & Mees 2003, tr. 46–50.
  92. ^Huddleston & Pullum 2002, tr. 22.
  93. ^Aarts & Haegeman 2006, tr. 118.
  94. ^Payne & Huddleston 2002.
  95. ^Huddleston & Pullum 2002, tr. 56–57.
  96. ^König 1994, tr. 540.
  97. ^Huddleston & Pullum 2002, tr. 51.
  98. ^König 1994, tr. 541.

Thư mục

Liên kết ngoài

Tìm hiểu thêm về
Tiếng Anh
tạicác dự án liên quan
Tìm kiếm WiktionaryTừ điển từ Wiktionary
Tìm kiếm CommonsTập tin phương tiện từ Commons
Tìm kiếm WikiquoteDanh ngôn từ Wikiquote
Tìm kiếm WikibooksTủ sách giáo khoa từ Wikibooks
Tìm kiếm WikiversityTài nguyên học tập từ Wikiversity
Tìm kiếm WikidataDữ liệu từ Wikidata
Tiếng Anh cổ
tiếng Anh Trung đại
Lịch sử
Tiếng Anh Mỹ
Tiếng Anh Anh
Tiếng Anh Canada
Tiếng Anh Úc
Trực tuyến
Dành cho người học/
ESL
Quốc tế
Quốc gia
Khác
Lấy từ “https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Tiếng_Anh&oldid=74417057
Thể loại:
Thể loại ẩn:

[8]ページ先頭

©2009-2026 Movatter.jp