Movatterモバイル変換


[0]ホーム

URL:


Bước tới nội dung
WikipediaBách khoa toàn thư mở
Tìm kiếm

Tây Lương Minh Đế

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bài này có liệt kê cácnguồn tham khảo và/hoặcliên kết ngoài, nhưng nội dung trong thân bài cần đượcdẫn nguồn đầy đủ bằng cácchú thích trong hàng để người khác có thể kiểm chứng. Bạn hãycải thiện bài này bằng cáchthêm các chú thích.(tháng 2/2026) (Tìm hiểu cách thức và thời điểm xóa thông báo này)
Tây Lương Minh Đế
西梁明帝
Hoàng đếTrung Hoa
Hoàng đếTây Lương
Tại vị562585
Tiền nhiệmTây Lương Tuyên Đế
Kế nhiệmTây Lương Tĩnh Đế
Thông tin chung
Sinh542
Mất585
An tángHiển lăng (顯陵)
Tên đầy đủ
Tiêu Khuy (蕭巋)
Niên hiệu
Thiên Bảo (天保) 562-585
Thụy hiệu
Hiếu Minh Hoàng Đế (孝明皇帝)
Miếu hiệu
Thế Tông (世宗)
Triều đạiNhà Lương
Thân phụTây Lương Tuyên Đế Tiêu Sát
Thân mẫuTào quý tần

Tây Lương Minh Đế (西梁明帝,542585), tên húyTiêu Khuy (giản thể:萧岿;phồn thể:蕭巋;bính âm:Xiāo Kuī),tên tựNhân Viễn (仁遠), là một hoàng đế của chính quyềnTây Lương tronglịch sử Trung Quốc. Cũng như phụ hoàngTuyên Đế, ông chỉ kiểm soát được một lãnh thổ nhỏ bé và phải dựa vào trợ giúp quân sự từBắc Chu và sau đó là triều đạiTùy.

Bối cảnh

[sửa |sửa mã nguồn]

Tiêu Khuy sinh năm 542, trong thời gian trị vì của cụ nộiLương Vũ Đế. Cha của ông là hoàng tôn của Lương Vũ Đế - Nhạc Dương quận vươngTiêu Sát, mẹ của ông là một người thiếp của Tiêu Sát và mang họ Tào. Ông nội của Tiêu Khuy làTiêu Thống - thái tử của Lương Vũ Đế song đã qua đời vào năm 530, ngôi vị thái tử được chuyển giao choTiêu Cương. Tiêu Sát bất mãn trước việc này, và đã chuẩn bị cho một cuộc tranh giành hoàng vị vào sau này. Nước Lương rơi vào cảnh hỗn loạn sau khi phản tướngHầu Cảnhcông chiếm kinh đôKiến Khang vào năm 549, giữ Lương Vũ Đế và Thái tử Tiêu Cương làm con tin. Do lo sợ sẽ bị người chúTiêu Dịch loại bỏ, Tiêu Sát đã đầu hàng Tây Ngụy, xin Tây Ngụy bảo hộ. Tiêu Dịch xưng đế vào năm 552 sau khi đánh bại Hầu Cảnh, song bản thân ông ta lại bị quân Tây Ngụy đánh bại và giết chết vào năm 554.

Tây Ngụy tuyên bố Tiêu Sát là hoàng đế triều Lương, tức Tây Lương Tuyên Đế, và chính quyền của Tiêu Sát trở thành một chư hầu của Tây Ngụy. Do thế tửTiêu Liêu (蕭嶚) mất sớm, Tuyên Đế đã lập Tiêu Khuy làmthái tử. Tuy nhiên, Tuyên Đế đã không được thứ sử các châu khác công nhận là quân chủ và chỉ có thể kiểm soát một lãnh địa nhỏ quanh kinh đô Giang Lăng (江陵, nay thuộcKinh Châu,Hồ Bắc). Tuyên Đế qua đời trong buồn rầu vào năm 562, Tiêu Khuy lên ngôi kế vị, tức Minh Đế, tiếp tục là một chư hầu của Bắc Chu.

Trị vì

[sửa |sửa mã nguồn]

Dưới thời Bắc Chu

[sửa |sửa mã nguồn]

Minh Đế đã tôn bà nộiCung thị làm thái hoàng thái hậu, tôn vợ chính của Tuyên Đế -Vương hoàng hậu làmthái hậu, và tôn mẹ đẻ của mình làm thái phi. Sử sách không ghi nhận việc Minh Đế lập hoàng hậu, và vào một thời điểm, ông đã lập người conTiêu Tông làm thái tử. Ông được đánh giá là một quân chủ có học thức, đã viết 14 quyển khác nhau như "Hiếu kinh", "Chu dịch nghĩa ký", "đại tiểu thừa u vi", song ông được cho là người khá mê tín. Ông cũng được đánh giá là hiếu thảo và ân cần, và cũng là một nhà cai trị có tài, có thể để cho các thần dân của minh nghỉ ngơi và hồi phục sau khi đã mệt mỏi vì chiến loạn.

Sau khiTrần Văn Đế qua đời vào năm 566, vàTrần Phế Đế lên ngôi kế vị, các đại thần của triều Trần bị thu hút vào một cuộc tranh giành quyền lực. Năm 567, hoàng thúc của Phế Đế là An Thành vươngTrần Húc đã giết chết Lưu Sư Chi (劉師之),Đáo Trọng Cử (到仲舉) và đoạt lấy quyền lực. Do lo sợ Trần Húc, tướngHoa Kiểu (華皎)- thứ sử của Tương châu (湘州, nay tương ứng vớiTrường Sa,Hồ Nam) đã bí mật khuất phục Tây Lương và Bắc Chu, thỉnh cầu cứu viện từ hai triều đình này.Bắc Chu Vũ Đế và người nhiếp chính làVũ Văn Hộ đã phái Tần vươngVũ Văn Trực (宇文直) đem quân đi cứu viện, Minh Đế cũng tập trung binh lính của mình, giao choVương Thao (王操) đi giúp Hoa Kiểu. Quân Trần dưới quyền chỉ huy củaThuần Vu Lượng (淳于量) vàNgô Minh Triệt (吳明徹) đã đánh bại liên quân tại Độn Khẩu (沌口, nay thuộcVũ Hán,Hồ Bắc), cả Hoa Kiểu và Vũ Văn Trực đều phải chạy về Giang Lăng. TướngNguyên Định (元定) của Bắc Chu và tướng Lý Quảng (李廣) của Tây Lương bị bắt. Ngô Minh Triệt nhân cơ hội này đã đoạt lấy Hà Đông quận (河東, nay thuộc Kinh Châu) của Lương. Vũ Văn Trực đổ nguyên nhân thất bại cho tướng Ân Lượng (殷亮) của Lương, Minh Đế mặc dù biết Ân Lượng không có lỗi, song vì không muốn phản đối Vũ Văn Trực nên bất đắc dĩ phải hành quyết Ân Lượng.

Vào mùa xuân năm 568, Ngô Minh Triệt tiến hành bao vây Giang Lăng và điều hướng dòng nước để cố làm ngập lụt thành. Minh Đế được Giang Lăng tổng quảnĐiền Hoằng (田弘) của Bắc Chu hộ tống chạy đến thành Kỉ Nam (紀南) ở gần đó. Giang Lăng phó tổng quản Cao Lâm (高琳) và Vương Thao vẫn ở lại Giang Lăng và thủ thành trong hơn 100 ngày. Đến khi các tướng Mã Vũ (馬武) và Cát Triệt (吉徹) của Tây Lương phản công và đánh bại Ngô Minh Triệt, buộc quân Trần phải rút lui, Minh Đế lại trở về Giang Lăng.

Vào thu năm 570, tướngChương Chiêu Đạt (章昭達) tiến hành bao vây Giang Lăng, trong khi chiếm thành An Thục (安蜀, gầnTam Hiệp). Giang Lăng gần như thất thủ, và chỉ thoát hiểm sau khi Vũ Văn Trực pháiLý Thiên Triết (李遷哲) đến giải vây, khiến Chương Chiêu Đạt phải rút lui.

Hoa Kiểu trở thành một hạ thần của Minh Đế từ sau khi bị thua trận vào năm 567, đến năm 571, Hoa Kiểu đã đến kinh đôTrường An của Bắc Chu. Trên đường đi, Hoa Kiểu gặp Vũ Văn Trực tại Tương Dương (襄陽, nay thuộcTương Phàn,Hồ Bắc). Hoa Kiểu nói với Vũ Văn Trực rằng chính quyền Tây Lương đã mất nhiều lãnh thổ đến mức trở nên bần cùng và không thể lo nổi cho bản thân, Bắc Chu nên cho Tây Lương mượn một vài châu. Vũ Văn Trực chấp thuận và đề xuất việc này lên Bắc Chu Vũ Đế, đáp lại, Bắc Chu Vũ Đế đã trao ba châu: Cơ (基), Bình (平), và Nhược (鄀) (hợp thànhKinh MônNghi Xương thuộcHồ Bắc ngày nay) cho Tây Lương.

Năm 577, sau khi Bắc Chu Vũ Đế đánh bại và thôn tính lãnh thổBắc Tề, Minh Đế đã đến cố đôNghiệp thành của Bắc Tề để hoan nghênh Bắc Chu Vũ Đế. Ban đầu, Bắc Chu Vũ Đế đối đãi với Minh Đế theo lễ nghi tôn trọng, song không xem Minh Đế là một chư hầu quan trọng. Minh Đế cảm nhận được điều này, và trong một buổi tiệc, Minh Đế đã bàn luận về việc phụ hoàng của mình đã mắc nợ phụ hoàng của Vũ Đế và thượng trụVũ Văn Thái nhiều như thế nào, xúc động đến nỗi than khóc thảm thiết. Bắc Chu Vũ Đế đã rất cảm kích, và đối đãi với Minh Đế tôn trọng hơn nữa. Minh Đế cũng dành nhiều công sức để tâng bốc Bắc Chu Vũ Đế, bao gồm cả việc so sánh Bắc Chu Vũ Đế vớiNghiêuThuấn. Bắc Chu Vũ Đế hãnh diện và đã ban thưởng nhiều châu báu cho Minh Đế, cũng như một số phi tần củaBắc Tề Hậu Chủ.

Năm 578, Bắc Chu Vũ Đế qua đời,Bắc Chu Tuyên Đế- một người thất thường và hung ác- đăng cơ kế vị. Năm 580, Bắc Chu Tuyên Đế cũng qua đời, nhạc phụ của Tuyên Đế làDương Kiên trở thành người nhiếp chính cho ấu chúaBắc Chu Tĩnh Đế. Do nghi ngờ mục đích của Dương Kiên, tướng Bắc ChuUất Trì Huýnh đã nổi dậy tại Nghiệp thành. Hầu hết các tướng của Tây Lương đều khuyên Minh Đế liên kết với Uất Trì Huýnh, biện luận rằng nếu như Uất Trì Huýnh thành công, ông sẽ được ban thưởng vì trung thành với hoàng tộc Vũ Văn, còn nếu Uất Trì Huýnh thất bại, ông vẫn có thể nhân cơ hội này mà đoạt thêm một số lãnh địa. Tuy nhiên, khi Minh Đế pháiLiễu Trang (柳莊) đến Trường Ân để quan sát tình hình, Dương Kiên đã nó rằng mình từng là khách của Minh Đế khi là tướng đóng quân tại Giang Lăng (mặc dù sử sách không viết là khi nào), cầu sự trung thành của Tây Lương. Liễu Trang tin rằng Uất Trì Huýnh sẽ không thể thành công, nên khi trở về Giang Lăng đã khuyên Minh Đế về phe Dương Kiên. Minh Đế chấp thuận, và ngay sau đó, khi Dương Kiên đánh bại Uất Trì Huỳnh, Minh Đế đã bình với Liễu: "Nếu quả nhân nghe lời những kẻ khác, quốc gia ắt sẽ diệt vong."

Dưới thời Tùy

[sửa |sửa mã nguồn]

Vào mùa xuân năm 581, Dương Kiên đã buộc Bắc Chu Tĩnh Đế phảinhường ngôi cho mình, tức Văn Đế, lập ratriều Tùy. Ngay sau đó, Minh Đế đã phái em trai là An Bình vươngTiêu Nham (蕭巖) đến Trường An để chúc mừng Tùy Văn Đế và để cam kết trung thành.

Năm 582, nhằm tiếp tục tôn vinh Minh Đế, Tùy Văn Đế đã lệnh cho Minh Đế gả một con gái sang làm vợ chính cho người con trai được mình yêu mến là Tấn vươngDương Quảng. Sau khi bói toán vận mệnh, Minh Đế đã xác định rằng tất cả các con gái của ông đều không thích hợp. Tuy nhiên, sau đó Minh Đế nhớ rằng ông cómột con gái sinh vào tháng hai, mà theo tục Giang Nam cho rằng đứa bé có điềm xấu, ông đã trao đứa bé cho cữu phụ Trương Kha (張軻) nuôi dưỡng. Ông triệu cô bé năm đó 17 tuổi quay trở lại hoàng cung, các thầy bói phán rằng cô bé là người phù hợp. Minh Đế đã đưacon gái đến kết hôn với Dương Quảng - năm đó 14 tuổi. (Tùy Văn Đế cũng muốn gả con gái là Lan Lăng công chúa cho con trai của Minh Đế là Nghĩa An vương Tiêu Sướng, song không rõ vì sao đã không làm như vậy). Do mối quan hệ thông gia này, Tùy Văn Đế đã quyết định triệt thoái Giang Lăng tổng quản (tướng của Tùy) khỏi Giang Lăng. Do đó, trong một thời gian ngắn, Minh Đế đã có thể cai trị quốc gia của mình trong tình hình Tùy ít có sự can thiệp. Năm 583, khi Tùy rời đô từ cố thành Trường An đến Đại Hưng thành gần đó, Minh Đế đã phái Thái tử Tiêu Tông đi chúc hạ Tùy Văn Đế. Vào mùa xuân năm 584, Minh Đế đích thân đến Đại Hưng thành để tỏ lòng tôn kính đối với Tùy Văn Đế, và cả hai đều mặc long bào, song Minh Đế mặc y phục ít ấn tượng hơn để thể hiện vị thế chư hầu của mình.

Vào mùa hè năm 585, Minh Đế qua đời, Tiêu Thống lên ngôi kế vị, tức là Lương Tĩnh Đế.

Gia đình

[sửa |sửa mã nguồn]
  • Hậu phi:Trương hoàng hậu (張皇后), con gáiTrương Toản (張纘) vớiPhú Dương công chúa (富阳公主) - con gáiLương Vũ Đế.
  • Hậu duệ:
    • Kính ĐếTiêu Tông (萧琮)
    • Nghĩa Hưng vươngTiêu Hoàn (蕭瓛, 569 - 589), nổi loạn chống lạinhà Tùy và bịVũ Văn Thuật xử tử.
    • Tấn Lăng vươngTiêu Triện (蕭瑑)
      • Tiêu Khâm (蕭欽), thời Đường thụ Bối Châu Thứ sử.
    • Lâm Hải vươngTiêu Cảnh (蕭璟, ? - 638), thời Tùy phongLan Lăng Huyện công (蘭陵縣公), thời Đường tặngKhang công (康公).
      • Tiêu Giám (蕭鑒, ? - 653), thế tập tước vị, nhậm Triều nghị lang, Hữu vệ phủ trường sử. Vợ là Ngu Tú Diêu (虞秀姚, 611 - 664), con gáiNgu Thế Nam.
        • Tiêu Âm (蕭愔), thế tập tước vị, nhậm Kí Thị Huyện lệnh.
      • Tiêu mỗ, pháp hiệuTrí Chưng (智证), xuất gia.
    • Nam Hải vươngTiêu Tuần (蕭珣), thời Tùy phong Thiên Châu Thứ sử, tướcLương quốc công (梁國公).
      • Tiêu Cự (萧钜, ? - 618), thế tập tước vị, bịVũ Văn Hóa Cập giết.
        • Tiêu Tự Nghiệp (萧嗣业), danh tướng thời Đường, tướcLang Tà Quận công (琅邪郡公).
      • Tiêu Quân (蕭鈞), thụ Gián nghị đại phu, Văn Quán học sĩ, Sùng Hiền quân Học sĩ.
        • Tiêu Quán (蕭灌, 626 - 682), nhậm Du Châu Trường sử, sau tặng Lại bộ Thượng thư. Vợ là Kinh Triệu Vi thị (京兆韦氏, 639 - 692), cháu gái Phù Dương quận côngVi Văn Khởi (韋雲起).
          • Tiêu Trọng Dự (蕭仲豫), nhậm Vệ úy thiếu khanh, Giang Châu Thứ sử.
          • Tiêu Tung (蕭嵩, 660 - 749),Tể tướng dưới thờiĐường Huyền Tông, khi mất tặng Khai phủ nghi đồng tam tư. Vợ là Hạ Duệ (贺睿), con gái Vạn Niên Huyện úy Hạ Hối (贺晦).
            • Tiêu Hoa (蕭華, ? - 760),Tể tướng dưới thờiĐường Túc Tông.
              • Tiêu Hằng (萧恒, 740 - 796), nhậm Điện trung thị ngự sử, Hà Đông Huyện lệnh, Thượng trụ quốc, tướcTừ quốc công (徐國公). Vợ là Vi thị (韦氏), con gái Lâm Nhữ Thái thúVi Bân (韦斌).
                • Tiêu Phủ (蕭俛, ? - 842),Tể tướng dưới thờiĐường Mục Tông, qua đời tặng Thái tử Thái sư, tướcTừ quốc công (徐国公).
                • Tiêu Thục (蕭俶), nhậm Triều thỉnh đại phu, Hình bộ Thượng thư, Hoa Châu Thứ sử, Thượng trụ quốc, tướcTán huyện nam (酂县男), thực ấp ba vạn hộ.
                • Tiêu Dân (蕭儹, 781 - 856), thụ Quang lộc khanh. Vợ là Trịnh thị, con gái Khố bộ Lang trung, Cù Châu Thứ sử Trịnh Quần (郑群).
                • Tiêu Tá (蕭佐)
                • Tiêu Kiệt (蕭傑, ? - 835), nhậm Thông bộ Lang trung.
                • Tiêu thị, lấy Minh Châu Thứ sử Vi Bành Thọ (韦彭寿).
              • Tiêu Ngộ (萧悟), nhậm Đại lý tự trực.
                • Tiêu Phỏng (蕭倣, 796 - 875),Tể tướng dưới thờiĐường Hy Tông, tướcLan Lăng Quận hầu (蘭陵郡侯).
                  • Tiêu Lẫm (蕭廩, ? - 900), nhậm Lan Lăng huyện lệnh, Cấp sự trung.
                  • Tiêu Trưng (蕭徵), nhậm Bí thư giám.
                    • Tiêu Ích (萧益), nhậm Thái tử Xá nhân.
            • Tiêu Hành (萧衡, ? - 747), thụ Thái bộc khanh, lấyTân Xương công chúa (新昌公主), con gáiĐường Huyền Tông.
              • Tiêu Kham (萧戡), thụ Tử Châu Biệt giá.
              • Tiêu Phục (萧复, 732 - 788),Tể tướng dưới thờiĐường Đức Tông, tướcPhong huyện công (丰县公), khi mất tặngTừ quốc công (徐国公).
              • Tiêu Thăng (萧升), thụ Thái phó khanh, lấyCáo Quốc công chúa (郜國公主), con gáiĐường Túc Tông.
              • Tiêu Đỉnh (蕭鼎), thụ Thái trung đại phu, Thái thường thiếu khanh, Thục Châu biệt giá, sau bị đày đếnLĩnh Biểu. Vợ là Đậu thị (竇氏), con gái Bí thư giám Đậu Ngạc (竇鍔) vàXương Nhạc công chúa (昌乐公主), con gáiĐường Huyền Tông.
              • Trưởng nữ, lấy Giám sát Ngự sử Lý Thiên (李錪).
              • Nhị nữ, lấy Kiêm Ngô Đại tướng quân Lý Nhược Băng (李若冰).
      • Thứ tử không rõ tên, lấy con gái của Tần vươngDương Tuấn (杨俊).
    • Nghĩa An vươngTiêu Sướng (蕭瑒, 573 - 612), thời Tùy nhậm Vệ úy khanh, Bí thư giám, tướcĐạo Khâu hầu (陶丘侯), khi mất tặng Tả quang lộc đại phu, thụyGiản (简).
    • Tân An vươngTiêu Vũ (蕭瑀)
    • Trưởng nữ (558 - 614), sơ phongKiến Xương Huyện chúa (建昌县主), sau thăngTấn An quận Trưởng công chúa (晋安郡长公主), lấy Kinh Châu Trường sử, Hoàng môn lang Vương Cổn (王衮) - hậu duệVương Đạo. Thời Tùy, phongNhậm Thành phu nhân (任城夫人).
    • Nhị nữ, lấy Diên An Tĩnh côngĐậu Uy (窦威) - em họ củaĐậu Hoàng hậu.
    • Tam nữ,Tiêu hoàng hậu củaTùy Dạng Đế.
    • Thất nữ (? - 640), phongLan Lăng Huyện quân (兰陵县君), lấy Ninh Viễn tướng quân, Khinh xa đô úyHầu Mạc Trần Nghị (侯莫陈毅).

Tham khảo

[sửa |sửa mã nguồn]
Tước hiệu
Tiền nhiệm:
Tây Lương Tuyên Đế
Hoàng đế triều Lương
562–585
Kế nhiệm:
Tây Lương Tĩnh Đế
Lương (502 -557)
Tây Lương (555 -587)
Lấy từ “https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Tây_Lương_Minh_Đế&oldid=74752794
Thể loại:
Thể loại ẩn:

[8]ページ先頭

©2009-2026 Movatter.jp