Movatterモバイル変換


[0]ホーム

URL:


Bước tới nội dung
WikipediaBách khoa toàn thư mở
Tìm kiếm

Sao chổi lớn năm 1811

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
C/1811 F1
Great Comet of 1811
Sao chổi lớn năm 1811, tranh vẽ củaWilliam Henry Smyth
Phát hiện
Phát hiện bởiHonoré Flaugergues
Ngày phát hiệnngày 25 tháng 3 năm 1811
Tên gọi khác1811 I,
Sao chổi lớn năm 1811
Tính chất quỹ đạoA
Kỷ nguyên2382760.5
Điểm viễn nhật423 AU
Điểm cận nhật1.04 AU
Bán trục chính212.4AU
Độ lệch tâm0.995125
Chu kỳ quỹ đạo~3096năm
Độ nghiêng106.9°
Lần cận nhật gần nhất12/9/1811

Sao chổi lớn năm 1811,[1] tên chính thứcC/1811 F1, là sao chổi có thể nhìn thấy bằng mắt thường trong khoảng 260 ngày, một kỷ lục cho đến khi xuất hiệnsao chổi Hale-Bopp vào năm 1997. Vào tháng 10 năm 1811, lúc sáng nhất của nó, nó cóđộ sáng biểu kiến là 0, với mộtđầu sao chổi dễ nhìn thấy.

Khám phá

[sửa |sửa mã nguồn]

Sao chổi đượcHonoré Flaugergues phát hiện vào ngày 25 tháng 3 năm 1811 ở khoảng cách 2,7 AU so với Mặt Trời trong chòm sao Argo Navis (hiện tại không còn hoạt động). Sau khi bị ánh trăng che khuất trong nhiều ngày, cuối cùng nó cũng đượcJean-Louis Pons tìm thấy vào ngày 11 tháng 4, trong khiFranz Xaver, Baron Von Zach đã có thể xác nhận khám phá của Flaugergues trong cùng đêm đó.[2]

Quỹ đạo tạm thời đầu tiên của sao chổi này đượcJohann Karl Burckhardt tính toán vào tháng 6. Dựa trên những tính toán này, Heinrich Wilhelm Matthäus Olbers đã dự đoán rằng sao chổi sẽ trở nên cực kỳ sáng chói vào cuối năm đó.

Quan sát

[sửa |sửa mã nguồn]

Từ tháng 5 đến tháng 8, vị trí của sao chổi làm cho nó khó phát hiện vì độ cao của nó thấp và hoàng hôn vào buổi tối. Cả Flaugergues và Olbers đều thấy lại nó trong chòm saoTiểu Sư trong tháng 8, Olbers chú ý đến nó với một cái đuôi nhỏ nhưng khác biệt, bao gồm hai tia hình thành một parabol, khi nhìn qua một kính viễn vọng chuyên tìm sao chổi.[2] Vào tháng 9, tại vị trí chòm saoĐại Hùng, nó đã trở thành một vật thể dễ thấy trên bầu trời buổi tối khi nó đi tớiđiểm cận nhật:William Herschel ghi chú rằng một cái đuôi dài 25° đã phát triển vào ngày 6 tháng 10.

Đến tháng 1 năm 1812, độ sáng của sao chổi đã nhạt dần. Một số nhà thiên văn học tiếp tục quan sát bằng kính thiên văn trong vài tháng, lần cuối cùng là do Vincent Wisniewski tại Novocherkassk, người đã ghi chú độ sáng biểu kiến của nó là 11 trước ngày 12 tháng 8.[2]

Sao chổi lớn năm 1811 được cho là đã có mộtđầu sao chổi đặc biệt lớn, có lẽ đạt hơn 1 triệu dặm- to gấp rưỡi đường kính Mặt Trời.[3] Nhân của sao chổi sau đó được ước tính có đường kính 30–40 km[4] và chu kỳ quỹ đạo được tính toán là 3,757 năm (sau đó được điều chỉnh thành 3,065 năm). Theo nhiều cách sao chổi này tỏ ra khá giống vớisao chổi Comet Hale – Bopp: nó trở nên sáng rõ mà không đi qua đặc biệt gần Trái Đất hoặc Mặt Trời, nhưng lại có một hạt nhân cực kỳ lớn và đang hoạt động.

Các nhà thiên văn học cũng coi sao chổi này là một cảnh tượng đáng nhớ. William Henry Smyth, so sánh hồi ức của ông về Sao chổi lớn năm 1811 với Sao chổi Donati, nói rằng "chỉ là một đối tượng quan sát, cái đuôi rẽ nhánh thì đáng xem hơn, hạt nhân với 'xoáy đầu' rõ ràng hơn, và tính lưỡng cực của nó là một điều may mắn cho những người thích quan sát".[5]

Sao chổi này có thể nhìn thấy một cách rõ ràng trong các trận động đất ở New Madrid vào tháng 12 năm 1811. Một báo cáo về tàu hơi nước đầu tiên hạ thủy tại sông Ohio khi nó đi đến hợp lưu sông Mississippi đã viết chi tiết, "ngày 18 tháng 12 năm 1811. — Kỷ niệm ngày này Người dân Cairo và vùng phụ cận của nó không bao giờ quên, đó là sự xuất hiện của chiếc thuyền hơi nước đầu tiên đến Cairo, bây giờ là New Orleans, với Thuyền trưởng Roosevelt chỉ huy. Đó là ngày nghiêm trọng nhất trong trận động đất lớn ở New Madrid; đồng thời có một sao chổi bốc lửa đang chạy ngang đường chân trời ".[6]

Tham khảo

[sửa |sửa mã nguồn]
  1. ^Jean-Michel Faidit, "La comète impériale de 1811", Les Presses du Midi, 2012;Friedrich Wilhelm Argelander,Ueber die Bahn des grossen cometen von 1811, (Tr. Table of the path of the great comet of 1811) 4, Konigsberg, 1822.
  2. ^abcKronk, G. W.,Cometography—C/1811 F1 (Great Comet), truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2008.
  3. ^Burnham, Robert & Levy, David H. (2000),Great Comets, New York:Cambridge University Press, tr. 53,ISBN 0-521-64600-6.
  4. ^Gary W. Kronk."The Comet Primer". Cometography.com. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2011.
  5. ^Smyth (2003), Kronk, G. W. (biên tập),Cometography: A Catalog of Comets, quyển II, Cambridge University Press, tr. 27,ISBN 0-521-58505-8.
  6. ^Bradsby (1883), Perrin, William Henry (biên tập),History of Alexander, Union and Pulaski Counties, Illinois, Chicago: O.L. Baskin & Co., tr. 16.
Đặc điểm
Sao chổi C/1996 B2 (Hyakutake)
Phân loại
Liên quan
Khám phá
Mới nhất
Văn hóa và
nghiên cứu
Sao chổi
định kỳ
Đến năm
1985
(tất cả)
Sau năm
1985
(Đáng chú ý)
Tiểu hành tinh
giống
sao chổi
Thất lạc
Phục hồi
Bị phá hủy
Không tìm thấy
Được
ghé thăm
bởi tàu
vũ trụ
Quỹ đạo
gần giống
parabol
(Đáng chú ý)
Đến năm
1990
Sau năm
1990
Sau năm
1910
(theo tên)
Lấy từ “https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Sao_chổi_lớn_năm_1811&oldid=72778795
Thể loại:

[8]ページ先頭

©2009-2026 Movatter.jp