Số phức làsố có thể viết dưới dạng, trong đóa vàb là cácsố thực, làđơn vị ảo, với hay.[1] Trong biểu thức này, sốa gọi là phần thực,b gọi là phần ảo của số phức. Số phức có thể được biểu diễn trênmặt phẳng phức vớitrục hoành là trục số thực vàtrục tung là trục số ảo, do đó một số phức được xác định bằng một điểm có tọa độ(a,b). Một số phức nếu có phần thực bằng không thì gọi là số thuần ảo (số ảo), nếu có phần ảo bằng không thì trở thành số thực R. Việc mở rộng trường số phức để giải nhữngbài toán mà không thể giải trong trường số thực.
Số phức cho phép giải mộtphương trình nhất định mà không giải được trong trườngsố thực. Ví dụ, phương trình
không có nghiệm thực, vìbình phương của một số thực không thể âm. Các số phức cho phépgiải phương trình này. Ý tưởng là mở rộng trường số thực sangđơn vị ảo với, vì vậy phương trình trên được giải. Trong trường hợp này các nghiệm là−1 + 3i và−1 − 3i, có thể kiểm tra lại nghiệm khi thế vào phương trình và với:
Số phức được biểu diễn dưới dạng, vớia vàb là cácsố thực và làđơn vị ảo, thỏa mãn điều kiện. Ví dụ là một số phức.
Số thựca được gọi làphần thực của; số thựcb được gọi làphần ảo của. Theo đó, phần ảo không có chứa đơn vị ảo: do đób, không phảibi, là phần ảo.[3][4] Phần thực của số phứcz được ký hiệu làRe(z) hayℜ(z); phần ảo của phứcz được ký hiệu làIm(z) hayℑ(z). Ví dụ:
Do đó, nếu xét theo phần thực và phần ảo, một số phứcz sẽ được viết là. Biểu thức này đôi khi được gọi là dạng Cartesi củaz.
Một số thựca có thể được biểu diễn ở dạng phức là với phần ảo là 0. Số thuần ảo là một số phức được viết là với phần thực bằng 0. Ngoài ra, khi phần ảo âm, nó được viết là với thay vì, ví dụ thay vì.
Tập hợp tất cả các số phức hay trường số phức được ký hiệu làℂ, hay. Có nhiều phương pháp xây dựng trường số phức một cách chặt chẽ bằngphương pháp tiên đề.
Gọi là trường số thực. Ký hiệu là tập hợp các cặp (a,b) với.
Ta có thể lập mộtđơn ánh từ tập số thực vào bằng cách cho mỗi số thực a ứng với cặp. Khi đó... Nhờphép nhúng, tađồng nhất tập các số thực với tập con các số phức dạng, khi đó tập các số thực làtập con của tập các số phức và được xem là một mở rộng của.
Ký hiệu là cặp (0,1). Ta có
.
Tất cả các số phức dạng được gọi là các số thuần ảo.
Trong trường số phức, tính chất củađơn vị ảo đặc trưng bởi biểu thức
Mỗi số phứcz đều được biểu diễn duy nhất dưới dạng:
trong đóa,b là các số thực. Dạng biểu diễn này được gọi là dạng đại số của số phứcz.
Với cách biểu diễn dưới dạng đại số, phép cộng và nhân các số phức được thực hiện như phép cộng và nhân cácnhị thức bậc nhất với lưu ý rằng. Như vậy, ta có:
Ứng dụng của số phức tronghình học phẳng: phép quay 90độ cóbình phương bằng -1. Quay hai lần 90 độ thì bằng quay 180 độ, mà quay 180 độ có nghĩa là lấy điểm ngược lại, cũng có nghĩa là nhân với -1. Vậy ta có thể nói rằngsố ảo đại diện cho sự quay, sự chuyển hướng 90 độ. Chính vì " chẳng qua là quay 90 độ" nên số phức rất hiệu nghiệm trong hình học phẳng và tronglượng giác. Nhiều vấn đề củahình học phẳng rất phức tạp, hay nhiềucông thức lượng giác phức tạp, trở nên đơn giản hơn hẳn khi sử dụng số phức để giải quyết.
Trongvật lý ngày nay, số phức xuất hiện rất nhiều. Bởi vì vật lý liên quan đếnhình học, có nhiềuđại lượng không chỉ có độ lớn mà còn cóhướng. Mà đã nói đến hướng là dễ đụng đến số phức, vì số ảo thể hiện sự quay 90 độ. Ví dụ như để mô tả dòngđiện xoay chiều (là thứđiện ta dùng chủ yếu ngày nay) hay một số thứ trong mạng điện nói chung, người ta có thể dùng số phức.
^Complex Variables (2nd Edition), M.R. Spiegel, S. Lipschutz, J.J. Schiller, D. Spellman, Schaum's Outline Series, Mc Graw Hill (USA),ISBN 978-0-07-161569-3