Movatterモバイル変換


[0]ホーム

URL:


Bước tới nội dung
WikipediaBách khoa toàn thư mở
Tìm kiếm

Séc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Để tra cứu những bài hay chủ đề có cùng tên, hãy xemSéc (định hướng)
Cộng hòa Séc
Tên bản ngữ
Quốc kỳ Cộng hòa Séc
Quốc kỳ

Tiêu ngữ"Pravda vítězí" (Tiếng Séc)
"Chân lý tất thắng"

Quốc caKde domov můj? (Tiếng Séc)
"Quê hương tôi nơi đâu?"

Tổng quan
Thủ đô
và thành phố lớn nhất
Praha
50°05′B14°28′Đ / 50,083°B 14,467°Đ /50.083; 14.467
Ngôn ngữ khácBulgaria,BelarusCroatia,Đức,Hy Lạp,Hungary,Ba Lan,Romania,Nga,Rusyn,SerbiaUkrainatiếng Việt[1]
Sắc tộc
(2021[2])[2]
  • 57.9%người Séc
  • 31.1% không xác định
  • 3.4% người Moravia
  • 0.9% người Slovak
  • 0.7% người Ukraina
  • 4.0% Hai quốc tịch
Tôn giáo
(2021)[3]
Tên dân cưNgười Séc
Chính trị
Chính phủCộng hòa đại nghị
Petr Pavel
Andrej Babiš
Lập phápQuốc hội
Thượng viện
Hạ viện
Lịch sử
Quá trình hình thành
Thế kỷ IX
• Độc lập (từÁo-Hung)
28 tháng 10 năm1918
• Cộng hòa Séc vàSlovakia tách ra từTiệp Khắc
1 tháng 1 năm1993
• Ngày gia nhập EU
1 tháng 5 năm2004
Địa lý
Diện tích 
• Tổng cộng
78,866 km2 (hạng 116)
30,452 mi2
• Mặt nước (%)
2,14[5]
Dân số 
• Ước lượng 2024
10,900,555[4] (hạng 85)
• Điều tra 2021
10,524,167
133/km2 (hạng 91)
345/mi2
Kinh tế
GDP  (PPP)Ước lượng 2024
• Tổng số
Tăng 619.881 tỷ đô la Mỹ[6] (hạng 46)
Tăng 56,686 đô la Mỹ[6] (hạng 38)
GDP  (danh nghĩa)Ước lượng 2024
• Tổng số
Giảm 342.992 tỷ đô la Mỹ[6] (hạng 47)
• Bình quân đầu người
Giảm 31,365 đô la Mỹ[6] (hạng 38)
Thông tin khác
Gini? (2023)Giảm theo hướng tích cực 24.4[7]
thấp
HDI? (2023)Tăng 0.915[8]
rất cao · hạng 29
Múi giờUTC+1 (CET)
• Mùa hè (DST)
UTC+2 (CEST)
Giao thông bênphải
Mã điện thoại+4204
Mã ISO 3166CZ
Tên miền Internet.cz³

Séc (tiếng Séc:Česko), tên chính thức làCộng hòa Séc (tiếng Séc:Česká republikaphát âm), làquốc gia nội lục thuộc khu vựcTrung Âu và giápBa Lan,Đức,ÁoSlovakia. Thủ đô và thành phố lớn nhất của quốc gia làPraha với hơn 1,3 triệu dân. Cộng hòa Séc là quốc giađa đảng theo chế độcộng hòa đại nghị. Tổng thống là người đứng đầu nhà nước, còn thủ tướng làngười đứng đầu chính phủ. Quốc hội có hai viện gồmthượng việnhạ viện. Cộng hòa Séc gia nhậpNATO vào năm1999 và trở thành thành viên củaLiên minh châu Âu từ năm 2004. Ngày 21 tháng 12 năm 2007, Cộng hòa Séc đã thông quaHiệp ước Schengen, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc đi lại vàdu lịch vào nước này. Ngoài ra, Cộng hòa Séc là thành viên của các tổ chứcOECD,OSCE,Ủy hội châu ÂuNhóm Visegrád.

Lãnh thổ Cộng hòa Séc bao gồm các vùng đất đã từng tồn tại trong lịch sử làBohemia,Morava và 1 phầnSilesia. Séc trở thành bộ phận củaĐế quốc ÁoĐế quốc Áo-Hung trong hàng thế kỉ cho đến năm 1918 khi Séc cùng vớiSlovakia tuyên bố thành lập nướcTiệp Khắc. TrongChiến tranh thế giới thứ hai,Tiệp Khắc bịphát xít Đức chiếm đóng. Sau đó, nước này trở thành quốc giaxã hội chủ nghĩa cho đến năm 1989 khi cuộcCách mạng Nhung diễn ra đưa đất nước trở về tiến trình dân chủ. Ngày 1 tháng 1 năm 1993, một cuộc ly khai đã diễn ra, Tiệp Khắc lại tách thành 2 quốc gia độc lập là Séc và Slovakia.

Tên gọi

[sửa |sửa mã nguồn]
Bài chi tiết:Tên gọi Cộng hòa Séc

Tên gọi cũ trong tiếng Anh của Cộng hòa Séc là "Bohemia" biến đổi từtiếng Latinh "Boiohaemum" có nghĩa là "quê hương của người Boii". Tên gọi Séc hiện tại lấy từ tênČechy chuyển hóa từ cách phát âmCžechy của Ba Lan.[9]

Sau khiTiệp Khắc (Československo trongtiếng Séc hayCzechoslovakia trongtiếng Anh), liên bang bao gồm Séc và Slovakia giải thể thành hai quốc gia riêng biệt, Séc không có tên gọi chính thức trong tiếng Anh. Năm 1993, Bộ Ngoại giao Cộng hòa Séc đề nghị tênCzechia như là tên thay thế chính thức cho tất cả trường hợp không phải là các văn bản chính thức và tên gọi của cơ quan chính quyền nhưng tên gọi này không sử dụng rộng rãi trong các văn bản tiếng Anh như làCzech Republic. Tháng 4 năm 2016 chính phủ Séc dự định sẽ đề nghị lênLiên Hợp Quốc về việc coiCzechia là một trong những tên gọi chính trong cơ sở dữ liệu địa lý.[10][11]

Tên "Séc" trong tiếng Việt là phiên âm của từ "tchèque" trongRépublique tchèque ("Cộng hòa Séc") từtiếng Pháp (nếu không dùng kèm từRépublique - "Cộng hòa" thì nước này trong tiếng Pháp gọi làTchéquie, đọc phiên âm như là "Séc-ki"). Hiện tại trong tiếng Trung, Séc vẫn được gọi làTiệp Khắc (捷克) lấy chữ Hán có âmQuan thoại gần giống (Jiékè) để phiên âm từ quốc hiệu "Česko". Tuy nhiên "Tiệp Khắc" hay "Tiệp" trong tiếng Việt hiện dùng để chỉ nhà nước liên bang cũ của Séc vàSlovakia hoặc các chính thể tương tự.

Lịch sử

[sửa |sửa mã nguồn]
Bài chi tiết:Lịch sử Séc

Tiền sử

[sửa |sửa mã nguồn]

Các nhàkhảo cổ học đã tìm thấy bằng chứng của người tiền sử sinh sống tại vùng đất ngày nay là Cộng hòa Séc. Từ thế kỷ thứ IIItrước Công nguyên, các bộ tộcCelt,Boii đã đến Séc định cư. Đếnthế kỷ I, các bộ tộcMarcomanniQuani tại vùng đất thuộcĐức ngày nay cũng đến sinh sống tại vùng đất này. Trong suốtGiai đoạn Di cư tại châu Âu vàothế kỷ 5, các bộ lạc thuộc Đức đã rời khỏi vùng đất Séc và di tản ra các vùng đất ở phía Đông và phía Tây.

Người Slav từ vùngBiển Đen-Karpat định cư tại đây (do các cuộc tấn công từ vùngSiberia và các bộ lạc Đông Âu:Hung, Avar, Bulgar và Magyar). Vàothế kỷ 6 họ di cư tới các vùng đất tại phía Nam như Bohemia, Moravia và 1 số vùng đất mà ngày nay thuộc về lãnh thổÁo. Trong suốtthế kỷ VII, thương gia Samo đến từ vùngFrancia đã lãnh đạo và ủng hộ cuộc khởi nghĩa của người Slav để chống lại tộc người Avar năm 623, trở thành người thống trị của Vương quốc Slav đầu tiên. Đây là tổ chức chính quyền đầu tiên của người Slav nhưng thực tế đây là 1 liên minh của 1 số bộ lạc chứ không thực sự là 1 quốc gia quân chủ chuyên chế.

Đại Moravia

[sửa |sửa mã nguồn]
Moravia mở rộng nhất dưới thời vua Svatopluk I

Sau khi Đế chế của vua Samo tan rã, người Moravia và Nitra đã thành lập các công quốc mới. Năm 833,Mojmir I của Moravia đã tấn công và sáp nhập công quốc Nitra, lập ra 1 công quốc duy nhất làĐại Moravia (Velká Morava).

Năm 846, Mojmir I nhường ngôi cho người cháu của mình làRastislav (846-870). Dưới thời Rastislav, 1 cuộc cải cách văn hóa đã diễn ra khi 2 nhà truyền giáoKyrillô và Mêthôđiô bị người này mời đến Đại Moravia để truyền báđạo Thiên chúa vào đất nước này. Họ cũng góp công trong việc xây dựng bảng chữ cái của người Slav tức bảngký tự Cyril.

Dưới thời vuaSvatopluk I, Đại Moravia đạt tới sự mở rộng lớn nhất về diện tích. Lãnh thổ của nó trải dài trên các vùng đất ngày nay làHungary,Ba Lan,Áo,Đức,Serbia,Slovenia,CroatiaUkraina. Về sau, những cuộc chiến tranh vớiĐế chế Frank đã làm cho Đại Moravia suy yếu và những người Hungary xâm lược đã khiến đất nước tan rã vào đầuthế kỷ 10.

Thời kỳ Trung cổ

[sửa |sửa mã nguồn]

Năm 995, công quốc Bohemia thành lập dưới sự lãnh đạo của vương triều Premyslid, thành viên của 1 bộ tộc tên là Séc. Vương triều Premyslid đã thống nhất các vương triều Séc khác và thành lập 1 chính quyền trung ương.

Đầuthế kỷ XI, công quốc Bohemia đã chinh phục nước Đại Moravia. Tuy Moravia vẫn là 1 lãnh địa tách biệt của Bohemia song nước này lại bị cai trị bởi 1 trong những người con trai của vua Bohemia.

Vào năm 1306, dòng họ Premyslid không có người kế vị. Sau những cuộc chiến giành quyền lực, dòng họ Luxemburg đã đoạt được ngôi vua Bohemia. Vị vua thứ 2 của triều đại Luxemburg làKarel IV (1342-1378,Charles trongtiếng Anhtiếng Pháp,Karl trongtiếng Đức) đã thay đổi đất nước Bohemia. Năm 1344, người này nâng chức Giám mục của thành phốPraha lên thành tổng Giám mục đồng thời kiềm chế quyền lực của các quý tộc Séc và đưa Bohemia, Moravia trở thành các quận hành chính và đưaBrandenburg (tới năm 1415), Lusatia (tới năm 1635),Silesia (tới năm 1742) vào quyền kiểm soát của Séc. Karel IV cũng tạo ra các công trình xây dựng nhưlâu đài Prahacầu Karl. Karel IV cũng thành lậpĐại học Karl ở Praha (Univerzita Karlova) năm 1348 với mong muốn biến Praha thành 1 trung tâm học vấn của châu Âu.

Vàothế kỷ XV, 1 cuộcchiến tranh tôn giáo đã diễn ra tại Séc, lịch sử gọi là cuộcChiến tranh Hussite. Séc suy yếu và đến năm 1526 đã bị sáp nhập vào đế chếHabsburg.

Thời kỳ thuộc triều đại Habsburg

[sửa |sửa mã nguồn]

Sau khi bị sáp nhập vào Đế chếHabsburg, người Séc bắt đầu bị đồng hóa.Tiếng Séc bị cấm sử dụng vàtiếng Đức trở thành ngôn ngữ chính thức ở Séc.

Năm 1618, người Bohemia đã nổi dậy chống lại triều đình Habsburg. Họ đã chọn 1 người theo đường lối củaJean Calvin là Frederick của Palatinate (Fridrich Falcký) lên ngôi. Nhưng đến ngày 6 tháng 11 năm 1620, quân đội Séc bị đánh bại tại Trận Núi Trắng (Bitva na Bílé hoře).Chiến tranh Ba mươi năm (1618-1648) đã phá hủy phần lớn những làng mạc, thành phố của Bohemia.

Đến thời nữ hoàngMaria Theresa và con trai, vua Joseph II, những người chịu ảnh hưởng củaThời đại Khai sáng, tình hình Bohemia bắt đầu có những chuyển biến. Tuy chính sách đồng hóa vẫn không thay đổi nhưng tình hình xã hội, giáo dục đã cải thiện cho người Séc. Vàothế kỷ XIX, chủ nghĩa bành trướng củaPháp dưới thời vuaNapoleon I đã kích thích tinh thần phục hưng dân tộc của người Séc. Tầng lớp trí thức mới hơn đã đóng vai trò nhất định trong việc phục hưng và phát triển ngôn ngữ dân tộc. Tháng 2 năm 1848, cuộc Cách mạng tháng 2 ở Pháp đã làm bùng nổ cao trào cách mạng tư sản lan khắpchâu Âu. Vào ngày 12 tháng 6 năm 1848, khởi nghĩa của những người dân chủ cấp tiến và sự hưởng ứng của nhân dân đã bùng nổ tạiPraha và đến ngày 17 tháng 6, cuộc khởi nghĩa bị dập tắt.

Năm 1867, nhà nước quân chủ lưỡng hợp Áo-Hung ra đời trong đó Séc nằm trong tầm ảnh hưởng củaÁo. Vào những năm ở nửa sau của đế chế Áo-Hung, tình hình giữa người Séc và người Đức ở Bohemia trở nên căng thẳng hơn. Mối quan hệ xấu đi giữa các dân tộc trong đế chế đã đẩy nhanh hơn sự sụp đổ của quốc gia này. Năm 1900,Tomáš Garrigue Masaryk người sau này trở thànhtổng thốngTiệp Khắc đã thành lập Đảng Tiến bộ Séc. Ý tưởng về quốc gia kết hợp giữa hai dân tộc Séc vàSlovakia bắt đầu hình thành.[12]

Tiệp Khắc (1918-1993)

[sửa |sửa mã nguồn]
Bản đồ Tiệp Khắc năm1928

Sau khiChiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc cùng với sự sụp đổ của Đế chế Áo-Hung, ngày 28 tháng 10 năm 1918,Cộng hòa Tiệp Khắc (bao gồm Séc vàSlovakia ngày nay) tuyên bố độc lập.Hiệp ước St. Germain ký kết vào tháng 9 năm 1919 đã chính thức công nhận nền cộng hòa mới của Tiệp Khắc. Sau đó,Ruthenia cũng sáp nhập vào Tiệp Khắc vào tháng 6 năm 1920. Quốc gia Tiệp Khắc mới thành lập có dân số khoảng 13,5 triệu người, thừa hưởng 70-80% các cơ sở công nghiệp của Áo-Hung. Lúc đó Tiệp Khắc nằm trong 10 nước công nghiệp hóa nhất thế giới.

Trướcchiến tranh thế giới thứ hai, chính quyềnphát xítĐức bắt đầu đe dọa tiến hành xâm lược Trung Âu. Sau khi sáp nhập nướcÁo vào lãnh thổ Đức, Tiệp Khắc trở thành mục tiêu tiếp theo của phát xít Đức. Tháng 4 năm 1938, Đức nêu yêu sách đòi vùng đấtSudetenland của Tiệp Khắc. Ngày 29 tháng 9 năm 1938,Hiệp ước München ký kết.Anh,Pháp vì không muốn chiến tranh với Đức đã quyết định bỏ liên minh quân sự với Tiệp Khắc. Và hậu quả là đến ngày 16 tháng 3 năm 1939, toàn bộ lãnh thổ Tiệp Khắc đã bị Đức chiếm đóng. Trong những năm Chiến tranh thế giới thứ hai, khoảng 390.000 người dân thành thị trong đó có 83.000người Do Thái đã bị giết hại hoặc bị hành quyết. Hàng trăm ngàn người đã bị đưa vào các nhà tù và các trại tập trung để làm việc. Chiến tranh kết thúc vào ngày9 tháng 5 năm 1945 với việc cuộc khởi nghĩa Praha lật đổ ách thống trị của phát xít Đức thành công và quân độiLiên XôHoa Kỳ tiến vào Tiệp Khắc.

Biểu tình trong cuộc Cách mạng Nhung lụa 1989

Từ năm 1945-1946, đa phần người Đức thiểu số (khoảng 2,7 triệu người) đã bị trục xuất khỏi Tiệp Khắc sang Đức và Áo. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai,Đảng Cộng sản Tiệp Khắc phát triển nhanh hơn do sự thất vọng của người Tiệp Khắc đối với phương Tây vì đã bỏ rơi họ trong Hiệp ước München và do ảnh hưởng ngày càng mạnh của Liên Xô. Trong cuộc bầu cử năm 1946, Đảng Cộng sản đã giành tỉ lệ phiếu 38%, trở thành chính đảng lớn nhất và chính thức cầm quyền từ tháng 2 năm 1948. Sau đó, Đảng Cộng sản Tiệp Khắc đã xây dựng 1 chính quyền toàncộng sản.

Sau khi nắm quyền, Đảng Cộng sản Tiệp Khắc đã quốc hữu hóa các ngành kinh tế, xây dựng nềnkinh tế kế hoạch. Kinh tế tăng trưởng nhanh hơn trongthập niên 1950thập niên 1960 sau đó bắt đầu giảm sút từthập niên 1970 và rơi vào khủng hoảng hơn. Chính quyền cộng sản trở nên thiếu dân chủ hơn. Năm1968, phong tràoMùa Xuân Praha bùng nổ đòi mở rộng tự do dân chủ và thực hiện đa nguyên chính trị nhưng sau đó bị quân đội Liên Xô đàn áp và dập tắt.

Tháng 11 năm 1989, cuộcCách mạng Nhung lụa đưa Tiệp Khắc trở lại quá trình dân chủ. Ngày 1 tháng 1 năm 1993, Tiệp Khắc diễn ra cuộc "chia li trong hòa bình". 2 dân tộc Séc và Slovakia tách ra thành lập 2 quốc gia mới là Cộng hòa Séc và Cộng hòa Slovakia.

Cộng hòa Séc (từ 1993)

[sửa |sửa mã nguồn]

Sau khi trở thành 1 quốc gia độc lập vào năm1993, quốc hội Cộng hòa Séc đã quyết định giữ nguyên lá cờ của Liên bang Tiệp Khắc cũ làm lá cờ của Cộng hòa Séc. Cùng năm đó, nước này gia nhậpLiên Hợp Quốc. Đến năm 1995, Cộng hòa Séc trở thành thành viên củaTổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) vàTổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Ngày 12 tháng 3 năm 1999, Cộng hòa Séc gia nhậpNATO. Vào năm 2004, cùng với 9 quốc gia Đông Âu và Nam Âu khác, Cộng hòa Séc đã trở thành thành viên củaLiên minh châu Âu.[13] Kinh tế Cộng hòa Séc đi theo nền kinh tế thị trường và trên đà phát triển song vẫn đối mặt với nhiều thách thức.

Địa lý

[sửa |sửa mã nguồn]
Bài chi tiết:Địa lý Cộng hòa Séc

Địa hình

[sửa |sửa mã nguồn]
Một vùng nông thôn ở Séc

Về mặtđịa lý, Cộng hòa Séc nằm ở khu vựcTrung Âu còn theo phân loại củaLiên Hợp Quốc thì nước này thuộc khu vựcĐông Âu. Về mặt lịch sử và văn hóa, Cộng hòa Séc bị xem là có liên hệ gần gũi hơn với các nước Đông Âu đặc biệt là trong thời kỳChiến tranh Lạnh.

Diện tích Cộng hòa Séc xếp hàng thứ 115 thế giới (xemDanh sách quốc gia theo diện tích). Tổng diện tích của nước này là 78.886 km², trong đó phần đất chiếm 77.276 km² và phần nước chiếm 1.590 km². Do bị bao quanh bởi các quốc gia khác nên Cộng hòa Séc không giáp biển. Nước này có chung đường biên giới 1.881 km với các nướcĐức về phía tây,Ba Lan về phía đông bắc,Slovakia về phía đông nam vàÁo về phía nam.

Về mặt lịch sử, lãnh thổ Cộng hòa Séc có thể chia làm 3 vùng lịch sử:Bohemia,MoraviaSilesia. Silesia chỉ có 1 phần lãnh thổ ở Cộng hòa Séc.

Địa hình nước này có thể chia thành 2 miền chính: Bohemia ở phía tây và Moravia ở phía đông. Địa hình Bohemia có cấu trúc như 1 bồn địa gồm những đồng bằng và cao nguyên bao bọc xung quanh bởi những dãy núi như dãy Karkonosze và dãy Sudeten. Đỉnh núiSnezka tại Bohemia và ngọn núi cao nhất Cộng hòa Séc (1602 m). Trong khi địa hình Bohemia bằng phẳng hơn thì ngược lại, địa hình Moravia chủ yếu là đồi núi. Cộng hòa Séc là nơi bắt nguồn củasông Elbe,sông Vltava ở xứ Bohemia vàsông Morava ở xứ Moravia. Các con sông của nước này chảy vào các biển khác nhau như:biển Bắc,biển Balticbiển Đen.

Về khoáng sản, Cộng hòa Séc có 1 số tài nguyên nhưthan đá,than chì, cao lanh,đất sét,gỗ xây dựng...

Khí hậu

[sửa |sửa mã nguồn]

Cộng hòa Séc nằm trong khu vực khí hậuôn hòa. Do nằm sâu trong lục địa và không còn chịu các tác động củabiển nên Cộng hòa Séc có khí hậu ôn đới lục địa, 1 nguyên nhân gây ra sự chênh lệch giữa thời tiết mùa hạ và mùa đông tại nước này. Sự đa dạng của địa hình cũng góp phần làm nên sự đa dạng của các kiểu khí hậu khác nhau tại Cộng hòa Séc.

Nhìn chung trên toàn lãnh thổ Cộng hòa Séc, khí hậu vềmùa đông không khắc nghiệt như 1 số nước. Nhiệt độ trung bình thấp nhất tại nước này vào tháng 1, tháng lạnh nhất trong năm là -5,4 °C.Tuyết thường rơi nhiều hơn tại 1 số vùng núi nhưng tan nhanh hơn tại các vùng thấp hơn của Cộng hòa Séc khiến cho mùa đông ở nước này ẩm hơn. Khi mùa đông kết thúc, băng tuyết tan chảy làm mực nước các con sông dâng lên và thỉnh thoảng có thể gây lũ.Mùa hè tại Cộng hòa Séc có nhiệt độ trung bình cao nhất vào tháng 7, tháng nóng nhất tại Cộng hòa Séc là 23,3 °C.[14] Mùa hè tại nước này có nhiềumưa hơn 1 số nước. Những trận bão từ Đại Tây Dương có thể tràn vào nước này cũng mang theo 1 lượng mưa bổ sung.Nhiệt độlượng mưa giảm dần vềmùa thu và các rừng cây bắt đầu rụng lá.

Chính trị

[sửa |sửa mã nguồn]
Bài chi tiết:Chính trị Cộng hòa Séc

Hệ thống chính trị

[sửa |sửa mã nguồn]

Séc là một nướccộng hòa đại nghị theohệ thống đa đảng.Quốc hội là cơ quan lập pháp lưỡng viện, gồmHạ viện (tiếng Séc:Poslanecká sněmovna) vàThượng viện (tiếng Séc:Senát).[15] Hạ viện gồm 200 hạ nghị sĩ được bầu theo hệ thốngđại diện tỷ lệ với ngưỡng bầu cử 5% từ 14 đơn vị bầu cử tương ứng với các vùng của Séc. Nhiệm kỳ của Hạ viện là bốn năm. Thượng viện gồm 81 thượng nghị sĩ được bầu theo hệ thống bầu cử hai vòng từ các đơn vị bầu cử một thành viên. Nhiệm kỳ của Thượng viện là sáu năm, cứ hai năm bầu lại một phần ba số thượng nghị sĩ.

Tổng thốngnguyên thủ quốc gia mang tính nghi lễ. Từ năm 2013, tổng thống được bầu trực tiếp với nhiệm kỳ năm năm,[16] trước đó tổng thống do Quốc hội bầu. Tổng thống bổ nhiệm thủ tướng và thành viên nội các theo đề nghị của thủ tướng. Một số nhà bình luận nhận định rằng kể từ khi bầu trực tiếp tổng thống, hệ thống chính trị của Séc đang chuyển đổi từ thể chế đại nghị thành bán tổng thống.[17] Thủ tướng làngười đứng đầu chính phủ và lãnh đạoChính phủ.[18] Chính phủ thực hiện quyền hành pháp và chịu trách nhiệm trước Hạ viện.[19]

Tòa án Hiến pháp (hay Tòa án Lập pháp) của Cộng hòa Séc gồm có 15 thành viên và có nhiệm kỳ 10 năm. Các thành viên của Tòa án Hiến pháp do tổng thống chỉ định và thông qua bởi thượng viện.

Là quốc gia đa đảng, chính trường Cộng hòa Séc có sự tham gia của các đảng phái. Chẳng hạn trong kỳ bầu cử vào Hạ viện Quốc hội Séc tiến hành ngày 28 và 29 tháng 5 năm 2010 đã có 27 đảng phái và tổ chức chính trị đăng ký tham gia. 2 đảng có ảnh hưởng lớn nhất ở Cộng hòa Séc làĐảng Dân chủ Công dân (Občanská demokratická strana) vàĐảng Xã hội Dân chủ Séc (Česká strana sociálně demokratická).

Đối ngoại

[sửa |sửa mã nguồn]
Quốc gia miễn thị thực nhập cảnh cho công dân Séc (xanh lá), Liên minh châu Âu (xanh dương)

Séc là một thành viênLiên Hợp Quốc,Liên minh châu Âu,NATO,Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế,Ủy hội châu Âu và là một quan sát viênTổ chức các quốc gia châu Mỹ.[20] Séc có một trong nhữngChỉ số hòa bình toàn cầu cao nhất trong những thập kỷ gần đây.[21]

Quân đội

[sửa |sửa mã nguồn]

Quân đội Séc gồm có lục quân, không quân và lực lượng hậu cần đặc biệt. Quân đội Séc là 1 phần của Quân đội Tiệp Khắc trước kia vốn là 1 trụ cột củaHiệp ước Warsaw cho đến năm1989. Từ khi gia nhậpNATO vào ngày12 tháng 3 năm1999, lực lượng quân đội Séc đã có những sự thay đổi đa phương diện. Tuy số lượng binh lính giảm xuống còn khoảng 67.000 nhưng về mặt chất lượng lại nâng cao và trình độ tổ chức chuyên nghiệp hơn. Năm 2004, chế độ nghĩa vụ quân sự bắt buộc bị giải thể.[22]

Lực lượng quân đội Séc ngoài nhiệm vụ phòng thủ, bảo vệ đất nước còn tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình củaLiên Hợp Quốc tạiIraq,Afghanistan,Bosna và Hercegovina,Kosovo. Năm 2005, ngân sách quốc phòng của Cộng hòa Séc đạt khoảng hơn 2 tỉ USD chiếm 1,81% GDP.[23]

Phân cấp hành chính

[sửa |sửa mã nguồn]
Bài chi tiết:Phân cấp hành chính Cộng hòa Séc
Bản đồ các khu vực của Cộng hòa Séc

Bắt đầu từ năm 2000, Cộng hòa Séc chia thành 13 khu vực (kraje hoặckraj) và 1thủ đô. Mỗi khu vực có 1 Hội đồng Địa phương (krajské zastupitelstvo) bầu chọn qua bầu cử và người lãnh đạo riêng (hejtman). Ở Praha, quyền lực do Hội đồng Thành phố và thị trưởng của Praha thi hành.

Ký hiệuKhu vựcThủ phủDân số (năm2004)Dân số(năm2007)
AThủ đôPraha (Hlavní město Praha)1.170.5711.194.407
SVùng Trung Bohemia (Středočeský kraj)văn phòng đặt tại Praha1.144.0711.181.374
CVùng Nam Bohemia (Jihočeský kraj)České Budějovice625.712630.487
PVùng Plzeň (Plzeňský kraj)Plzeň549.618555.491
KVùng Karlovy Vary (Karlovarský kraj)Karlovy Vary304.588305.348
UVùng Ústí nad Labem (Ústecký kraj)Ústí nad Labem822.133824.490
LVùng Liberec (Liberecký kraj)Liberec427.563431.523
HVùng Hradec Králové (Královéhradecký kraj)Hradec Králové547.296550.168
EVùng Pardubice (Pardubický kraj)Pardubice505.285508.250
MVùng Olomouc (Olomoucký kraj)Olomouc635.126640.248
TVùng Moravia-Silesia (Moravskoslezský kraj)Ostrava1.257.5541.249.337
BVùng Nam Moravia (Jihomoravský kraj)Brno1.123.2011.133.636
ZVùng Zlín (Zlínský kraj)Zlín590.706589.897
JVùng Vysočina (Vysočina kraj)Jihlava517.153512.053

Mỗi khu vực nói trên của Cộng hòa Séc bị coi là 1 vùng cấp 3 của Liên minh châu Âu. Trong khi đó, toàn bộ lãnh thổ Cộng hòa Séc bị coi là 1 vùng cấp 2 của Liên minh châu Âu. (XemCác vùng của Liên minh châu Âu).

Kinh tế

[sửa |sửa mã nguồn]
Bài chi tiết:Kinh tế Cộng hòa Séc
GDP bình quân đầu người của Séc từ năm 1973 đến năm 2018
Séc tham giaThị trường đơn nhất châu Âu (xanh đậm) vàKhối Schengen (xanh nhạt).

Séc có một nềnkinh tế thị trường xã hộiphát triển,[24]thu nhập cao[25]định hướng xuất khẩu dựa trên dịch vụ, sản xuất và đổi mới sáng tạo với mộtnhà nước phúc lợi theomô hình xã hội châu Âu.[26] Séc tham gia Thị trường đơn nhất châu Âu với tư cách là thành viênLiên minh châu Âu, nhưng sử dụngkoruna Séc thay vìeuro. GDP bình quân đầu người của Séc đạt 91% trung bình của Liên minh châu Âu.[27]Ngân hàng Quốc gia Séc điều hành chính sách tiền tệ một cách độc lập theoHiến pháp Séc. Séc cóchỉ số phát triển con người có điều chỉnh về bất bình đẳng cao thứ 12,Chỉ số Vốn con người cao thứ 24 và được tờ báoThe Guardian mô tả là "một trong những nền kinh tế hưng thịnh nhất của châu Âu".[28]

Những năm gần đây, Cộng hòa Séc đang trở thành một trong những quốc gia có nềnkinh tế phát triển mạnh tại khu vựcĐông Âu. Theo số liệu của Quỹ tiền tệ Quốc tế, năm2016,GDP danh nghĩa của Cộng hòa Séc là 193.535 tỷUSD (GDP theosức mua tương đương: 34,768 tỷ USD), thu nhập bình quân đầu người đạt 17,570 USD,[29] cao hơn so với nhiều nước Đông Âu khác nhưBa Lan,Hungary,Slovakia tuy nhiên vẫn còn thấp hơn mức trung bình củaLiên minh châu Âu. Nền kinh tế nước này được đánh giá là tăng trưởng nhanh và ổn định. Năm 2007, tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước này đạt 5,7%.[30] Cộng hòa Séc là thành viên của nhiều tổ chức kinh tế lớn nhưLiên minh châu Âu,WTOOECD.

Các ngành kinh tế

[sửa |sửa mã nguồn]
Quang cảnh Pháo đài Praha, Cộng hòa Séc
Quanh cảnh cầu Karl ở thủ đô Praha

Nông nghiệp của Cộng hòa Séc không có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển. Các loại cây trồng chủ yếu của nước này làlúa mì,khoai tây,củ cải đường,cây hublông... Trong cơ cấu kinh tế, nông nghiệp chiếm 3,4% GDP của Cộng hòa Séc.

Vốn là một nước có sẵn những cơ sởcông nghiệp từthế kỷ XIX, nềncông nghiệp của Cộng hòa Séc có nhiều điều kiện thuận lợi phát triển. Các ngành công nghiệp chính của nước này làluyện kim, sản xuất máy móc, thiết bịđiện tử, phương tiện giao thông, dệt may,chất hóa học,dược phẩm, chế biếnlương thực thực phẩm... Bên cạnh đó, Cộng hòa Séc rất với ngành công nghiệp sản xuất đồ gốm sứ vàpha lê. Công nghiệp chiếm tỷ trọng 39,3% trong nền kinh tế. Về phương tiện giao thông, cộng hòa Séc nổi tiếng với ngành chế tạo ô tô cùng thương hiệu ô tôSkoda - được sáng lập năm 1895 bởi Václav Klement và Václav Laurin.

Dịch vụ là lĩnh vực đóng góp nhiều nhất trong nền kinh tế, chiếm 57,3% GDP. Các ngànhngân hàng,công nghệ thông tin,viễn thông là những động lực năng động của nền kinh tế Séc và thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài.Thương mại là một hoạt động kinh tế quan trọng với các đối tác thương mại chủ yếu làCộng hòa Liên bang Đức,Slovakia,Áo,Ba Lan...Du lịch cũng là một thế mạnh của Cộng hòa Séc. Năm 2001, doanh thu từ du lịch mang về cho nước này khoảng 118 tỉ koruna, đóng góp tới 5,5%GNP của nước này.Thủ đôPraha thường là lựa chọn hàng đầu của du khách với rất nhiều các công trình văn hóa, lịch sử nổi tiếng. Những khu du lịch spa nhưKarlovy Vary thường là điểm đến được yêu thích vào các kỳ nghỉ. Những lễ hộiâm nhạc haybia của Cộng hòa Séc cũng góp phần làm đất nước này trở thành một địa điểm du lịch hấp dẫn.

Tiền tệ

[sửa |sửa mã nguồn]

Đồng tiền chính thức hiện nay của Cộng hòa Séc là đồngkoruna. Trongtiếng Séc, từkoruna có nghĩa là "vương miện". Đồng tiền này chính thức được sử dụng từ ngày18 tháng 2 năm1993 sau khi Cộng hòa Séc vàSlovakia tách khỏiTiệp Khắc. Ký hiệu trong giao dịch quốc tế của đồng koruna Séc theoISO 4217CZK.

Đồng tiền koruna của Cộng hòa Séc bắt đầu tham gia các tỷ giá hối đoái từ năm1995 và được thả nổi kể từ năm1999. Trong năm 2007, chỉ số lạm phát của đồng tiền này là 2,4% và đã được duy trì ổn định trong suốt nhiều năm qua. Cộng hòa Séc có kế hoạch gia nhậpkhu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu (euro) vào năm 2012 nhưng sau đó đã tuyên bố hoãn lại. Đầu năm 2008, Ngân hàng Quốc gia Séc tuyên bố sẽ lùi thời hạn gia nhập khu vực đồng tiền chung đến năm 2019.[31]

Cơ sở hạ tầng

[sửa |sửa mã nguồn]
  • Năng lượng: Cộng hòa Séc nhìn chung nghèo tài nguyên vềnăng lượng, ngoại trừ một ítdầu mỏkhí gas ở miền nam Moravia. Hiện nay nước này đang hạn chế dần việc sử dụng than làm chất đốt vì vì sản sinh ra nhiều khí nhà kính gâyô nhiễm môi trường.Năng lượng nguyên tử chiếm 30% tổng nhu cầu năng lượng hiện nay ở Cộng hòa Séc, và dự kiến có thể tăng lên 40% trong những năm tới. Khí gas tự nhiên được nhập khẩu từ nước ngoài và là một khoản chi tiêu lớn của Cộng hòa Séc. Gas được nhập từ tập đoànGazprom củaNga qua các đường ống trung chuyển ởUkraina và nhập từ các công ty củaNa Uy, được vận chuyển qua Đức. Sản lượng điện năm 2005 đạt 77,38 tỷ Kwh và ngoài đáp ứng tiêu thụ trong nước, Cộng hòa Séc xuất khẩu gần 25 tỷ KWh điện năng.
  • Giao thông: là trái tim của châu Âu nên Cộng hòa Séc có mạng lưới giao thông dày đặc và khá phát triển. Đường sắt có tổngchiều dài 16.053 km (năm 2005) và mật độ đường sắt cao nhất trongLiên minh châu Âu: 120 km trên 1.000 km vuông.[32] Hàng năm đường sắt nước này chuyên chở khoảng 178 triệu hành khách và 100 triệu mét khối hàng hóa. Công ty "Đường sắt Séc" chiếm 99% tổng hành khách vận chuyển bằng đường sắt. Đường bộ của Cộng hòa Séc có trên 6.174 km đường quốc lộ cao tốc hạng nhất (giới hạn tốc độ 130 km/h) nối thủ đô và các thành phố chính nhưBrno,Plzeň,Příbram... và hòa vào hệ thống đường cao tốc châu Âu tạo thành xương sống của hệ thống đường bộ nước này.[33] Đường bộ cấp thấp hơn có tổngchiều dài 48.778 km.[34] Về đường hàng không, Cộng hòa Séc có khoảng 60 sân bay công cộng trong đó lớn nhất làSân bay quốc tế Pragua hàng năm đón khoảng 11 triệu lượt khách.[35] Hãng hàng không quốc gia làCzech Airlines có đường bay đến những thành phố lớn ởchâu Âu,Bắc Mỹ,Châu Á,Trung ĐôngBắc Phi. Đường sông chủ yếu tập trung ở ba con sông chính là Labe, Vltava và Berounka với tổngchiều dài khoảng 300 km. Vận tải thủy chiếm từ 2 đến 5% lượng hàng hóa xuất nhập khẩu và có vai trò quan trọng trong thương mại vớiĐức,BỉHà Lan, ngoài ra nó cũng phục vụ cho du lịch.[36] Giao thông công cộng ở các thành phố lớn cũng khá thuận tiện với các phương tiện chủ yếu là xe bus, tàu điện, ngoài ra thủ đôPrague bắt đầu cótàu điện ngầm từ ngày9 tháng 5 năm1974,chiều dài đường tàu điện ngầm khoảng 54 km.[37]
  • Thông tin và truyền thông: Cộng hòa Séc có trên 3,2 triệu thuê bao cố định (2005) và trên 12 triệu thuê bao di động (2006). Số người sử dụng điện thoại di động tăng mạnh từ giữathập niên 1990 và đến nay đạt 120 thuê bao trên 100 người. Hệ thống thông tin nội địa đã được nâng cấp thiết bịADSL để tạo điều kiện thuận lợi cho sử dụngInternet và 93% dung lượng trao đổi dưới dạng kỹ thuật số. Để phục vụ viễn thông quốc tế, Cộng hòa Séc có 6 vệ tinh: 2 Intersputnik, 1 Intelsat, 1 Eutelsat, 1 Inmarsat và 1 Globalstar.[38] Cộng hòa Séc có 4 đài truyền hình ở phạm vi toàn quốc và trên 20 đài khu vực trong đó Czech Television, TV Nova và Prima TV là những hãng lớn nhất. Cộng hòa Séc là nướcĐông Âu đầu tiên cho phép tư nhân phát sóng truyền hình năm1994.[39] Nước này cũng có 7 đài phát thanh toàn quốc, 76 đài phát thanh địa phương. Internet khá phát triển với những nhà cung cấp dịch vụ chính là Seznam, Centrum, Atlas, iDnes, Volny và Tiscali.

Nhân khẩu

[sửa |sửa mã nguồn]
Dân số các vùng của người Séc
NămTổng cộngThay đổiNămTổng cộngThay đổi
18577.016.531193010.674.3866.6%201310.513.300
18697.617.2308.6%19508.896.133-16.7%
18808.222.0137.9%19619.571.5317.6%
18908.665.4215.4%19709.807.6972.5%
19009.372.2148.2%198010.291.9274.9%
191010.078.6377.5%199110.302.2150.1%
192110.009.587-0.7%200110.230.060-0.7%

Dân số Cộng hòa Séc từng rơi vào khoảng 10,3 triệu người. Dân số tại đây đã có những biến động. Số liệu thống kê năm 1857 cho thấy dân số của vùng đất Séc lúc đó là khoảng 7 triệu người. Sau đó con số này tăng dần qua các năm và đến đầuthế kỷ 20 thì đạt xấp xỉ 9,4 triệu dân. Sang năm 1910, dân số của Séc vượt qua ngưỡng 10 triệu. Các cuộcChiến tranh thế giới thứ nhấtChiến tranh thế giới thứ hai đã khiến cho dân số của nước này giảm sút. Sau chiến tranh, số lượng nhân khẩu của nước này tiếp tục phục hồi. Hiện nay dân số Cộng hòa Séc lại có chiều hướng giảm xuống tuy phần nào đỡ hơn 1 số nướcĐông Âu khác. Theo báo cáo dân số năm 2006 củaLiên Hợp Quốc, tốc độ tăng dân số của Cộng hòa Séc là -0,03%.[40] Nguyên nhân là do tỉ lệ sinh của nước này giảm cùng với việc Cộng hòa Séc gia nhậpEU năm2004 làm xuất hiện dòng người nhập cư sang các nước phát triển hơn ởTây Âu kiếm sống.

Đô thị

[sửa |sửa mã nguồn]
 
20 thành phố hoặc thị xã lớn nhất tại Séc
HạngVùngDân sốHạngVùngDân số
Prague
Prague
Brno
Brno
1PraguePrague1,397,88011ZlínZlín74,684Ostrava
Ostrava
Plzeň
Plzeň
2BrnoSouth Moravian402,73912KladnoTrung Bohemia69,664
3OstravaMoravian-Silesian283,18713HavířovMoravian-Silesian68,674
4PlzeňPlzeň187,92814MostÚstí nad Labem63,474
5LiberecLiberec108,09015OpavaMoravian-Silesian55,109
6OlomoucOlomouc103,06316JihlavaVysočina54,624
7České BudějoviceSouth Bohemian97,23117Frýdek-MístekMoravian-Silesian53,590
8Hradec KrálovéHradec Králové94,31118TepliceÚstí nad Labem50,912
9PardubicePardubice92,31919Karlovy VaryKarlovy Vary49,073
10Ústí nad LabemÚstí nad Labem90,86620KarvináMoravian-Silesian48,937

Dân tộc

[sửa |sửa mã nguồn]

Theo kết quả điều tra dân số năm 2021, thành phần dân tộc của dân số Séc gồmngười Séc (57,3%),người Moravia (3,4%),người Slovak (0,9%),người Ukraina (0,7%),người Việt (0,3%),người Ba Lan (0,3%),người Nga (0,2%),người Silesia (0,1%) vàngười Đức (0,1%). 4,0% tuyên bố thuộc hai dân tộc (3,6% dân tộc Séc và một dân tộc khác), trong khi 31,6% không tuyên bố dân tộc.[2] Ước tính có khoảng 250.000người Digan tại Séc.[42][43]Cộng đồng người Ba Lan chủ yếu sinh sống tại vùngTrans-Olza.[44]

Bên cạnh các dân tộc có nguồn gốc từ các quốc gia láng giềng trong khu vực còn có 1 số dân tộc khác mới nhập cư vào Séc trongthế kỷ XX. Khi cuộc nội chiến Hy Lạp xảy ra, 1 số ngườiHy Lạp đã chạy sang Tiệp Khắc đầu tiên là những trẻ em tị nạn vào năm 1948-1949 rồi tiếp đó là thân nhân và cả những người cánh tả tại Hy Lạp. Cộng đồng người gốcÁ lớn nhất tại Cộng hòa Séc làngười Việt Nam. Người Việt Nam đến Tiệp Khắc lần đầu vào năm 1956 để du học theo thỏa thuận vềgiáo dục giữa hai chính phủ cộng sản lúc bấy giờ. Số người Việt Nam nhập cư vào Cộng hòa Séc tăng nhanh hơn cho đến khi chế độxã hội chủ nghĩa tại nước này sụp đổ vào năm1989. Thế hệ đầu tiên của người Việt Nam tại đây chủ yếu kinh doanh trong những cửa hàng còn thế hệngười Việt tiếp theo sinh ra tại Séc có những thành tích học tập nhất định.[45] Trong năm 2009, có khoảng 70.000 người Việt tại Cộng hòa Séc.[46] Ngày 3 tháng 7 năm 2013, chính phủ Cộng hòa Séc công nhận cộng đồng người Việt tại Séc trở thành dân tộc thứ 14 của quốc gia này.[47]

Người Do Thái từng có 1 cộng đồng lớn hơn tại Cộng hòa Séc nhưng đa phần họ trong Thế chiến Thứ 2 đã bịĐức Quốc Xã tàn sát. Tại Séc những nét văn hóa của người Do Thái đã được gìn giữ đặc biệt là tại thủ đôPraha

Tôn giáo

[sửa |sửa mã nguồn]
Tôn giáo tại Cộng hòa Séc (2011)[48]
Không tôn giáo
  
44.7%
Vô thần
  
34.5%
Công giáo Roma
  
10.5%
Khác
  
6.8%
Phi Cơ đốc giáo
  
1.1%
Tin lành
  
1%
Tín ngưỡng
  
0.7%
Không xác định
  
0.7%

Cộng Hòa Séc, cùng vớiEstonia, là một trong những nước có tỉ lệ ngườikhông tín ngưỡng cao nhất thế giới mặc dù người dân Séc từ xưa đã luôn có thái độ khoan dung đối với tôn giáo. Theo thống kê năm 2001, 59% dân số Cộng hòa Séc không theo một tôn giáo nào, một tỉ lệ khá lớn nếu so sánh với các nước láng giềng nhưĐứcBa Lan[49].. Tôn giáo phổ biến nhất tại Cộng hòa Séc là Công giáo, chiếm tỉ lệ 26,8%. Tin Lành chiếm tỉ lệ 2,1%. Trong vòng từ năm 1991 đến năm 2001, tỉ lệ người không có tín ngưỡng tăng 19.1 phần trăm (gần hai triệu người) trong vòng 10 năm.Cơ Đốc Giáo dường như không có dấu hiệu phát triển và số người theo đạoCông giáo giảm một triệu người. Chỉ 19% người dân Séc nói rằng họ tin vào Chúa (ty lệ thấp nhì trongLiên Minh châu Âu sauEstonia với 16%)

Giáo dục

[sửa |sửa mã nguồn]

Giáo dục phổ thông ở Cộng hòa Séc kéo dài từ 12 đến 13 năm,giáo dục tiểu họctrung học cơ sở là bắt buộc. Trẻ em đến trường khi 6 tuổi, kết thúc bậc tiểu học năm 11 tuổi và trung học cơ sở lúc 15 tuổi. Sau đó học sinh có thể học tiếp bậc phổ thông trung học 4 năm hoặc học các trường đào tạo nghề 3 năm. Tốt nghiệp phổ thông trung học hoặc đào tạo nghề, học sinh có thể học lên bậc đại học kéo dài 3 năm. Ở bậc trên đại học, đào tạo thạc sĩ mất từ 2 đến 3 năm; đào tạo tiến sĩ là 3 năm.[50] Hệ thống giáo dục cơ sở của nước này gồm trường công, trường tư và trường tôn giáo (thường ít gặp). Năm học tại Cộng hòa Séc bắt đầu từ ngày1 tháng 9 hoặc ngàythứ hai đầu tiên của tháng 9 (nếu ngày 1 tháng 9 làthứ bảy hoặcchủ nhật) và kết thúc vào ngày30 tháng 6 năm sau (hoặc ngày thứ sáu cuối cùng của tháng 6). Học sinh được nghỉ trong những dịp lễ nhưGiáng sinh,Năm mớiPhục sinh.

Cộng hòa Séc từ lâu là một trong những trung tâm văn hóa, giáo dục quan trọng hàng đầu tạichâu Âu. Năm 1348, vua Charles IV (tiếng Séc:Karel IV) đã thành lập trường Đại học Charles tạiPraha (Univerzita Karlova). Ngày nay đây vẫn là trường đại học lớn và dẫn đầu về chất lượng giáo dục tại nước này.

Y tế

[sửa |sửa mã nguồn]

Cộng hòa Séc chú trọng nâng caosức khỏe cộng đồng với các chương trình mang tính chất phòng ngừa cũng như tích cực chống lại bệnhung thư, hútthuốc lá,...Người dân được cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe dựa trên cơ sởbảo hiểm y tế, người bệnh không trực tiếp chi trả tiền chữa bệnh. Dịch vụ y tế có thể được cung cấp bởi cả khu vực công cộng và khu vực tư nhân với chi phí nhìn chung thấp hơn mức bình quân củachâu Âu.[51]

Văn hóa

[sửa |sửa mã nguồn]
Bài chi tiết:Văn hóa Cộng hòa Séc

Văn học

[sửa |sửa mã nguồn]
Sử biên niên Dalimil

Văn học Séc bắt nguồn từthế kỷ VIIICông Nguyên dưới thời Đại Moravia. Hai anh em Cyril và Methodius đã được vương triềuByzantine cử tới Đại Moravia để truyền báĐạo Thiên chúa, đồng thời sáng lập ra ngôn ngữ viết Slav đầu tiên: tiếng Slavonic cổ viết trên bảng chữ cái Glogotic, tiền thân của bảng ký tự Cyril sau này.

Sau khi Đại Moravia sụp đổ và được thay thế bởi vương triềuBohemia vàothế kỷ IX,tiếng Latinh đã dần lấn lướt tiếng Slavonic cổ để trở thành ngôn ngữ chính thức trong nền văn học Séc. Bên cạnh đó,tiếng Đức cũng trở thành một ngôn ngữ có tầm ảnh hưởng lớn tại vùng đất này cho đến tận cuối thế kỷ XIX. Vàothế kỷ XIII, dưới triều đại Premyslid của Bohemia, nền văn học Séc đã có những thay đổi đáng chú ý. Những nhà thống trị ở Bohemia bắt đầu tách họ ra khỏi nền văn học Tây Âu lúc đó nói chung và cố gắng xây dựng một nền văn học dân tộc riêng của người Séc. Thời kỳ này văn học Séc được chia làm hai thể loại chính là huyền thoại và sử thi về các anh hùng. Văn xuôi cũng bắt đầu xuất hiện trong thời gian này. Hai tác phẩm đáng chú ý xuất hiện trong giai đoạn này là cuốntừ điển Séc-Latinh và bộ sử biên niên đầu tiên viết bằngtiếng Séc: sử biên niên Dalimil.

Trong thời kỳ chiến tranh tôn giáo Hussite, văn học còn được dùng tranh luận và đả kích giữa các nhómtôn giáo với nhau. Sự phân hóa rõ rệt thể hiện trên phương diện ngôn ngữ: tiếng Latinh được dùng bởi những người theođạo Thiên chúa, còn tiếng Séc được dùng bởi những người theo đạoTin lành. Trận Núi Trắng năm 1620 với thất bại của những người Tin lành đã khiến nền văn học viết bằng tiếng Séc bị ảnh hưởng. Những chính sách đồng hóa dưới thời Đế chế Áo và Đế chế Áo-Hung càng làm cho tiếng Séc có nguy cơ biến mất. Tuy nhiên Thời kỳ Khai sáng trong Đế chế Áo-Hung đã lại tạo điều kiện cho tiếng Séc có cơ hội phát triển, cùng với đó là cả một nền văn học Séc mới. Từ đó đến nay, nền văn học Séc đã trải qua nhiều thăng trầm, biến động và sản sinh ra những tác gia lớn.Franz Kafka, nhà văn gốcDo Thái của Cộng hòa Séc với những tác phẩm viết bằngtiếng Đức, ông được coi là người khơi nguồn chovăn học phi thựcchâu Âu.[52] Năm1984,Jaroslav Seifert đã trở thành công dân Cộng hòa Séc đầu tiên (lúc đó làTiệp Khắc) đoạtgiải thưởng Nobel về Văn học.

Âm nhạc

[sửa |sửa mã nguồn]
Trình diễn Polka trên một đường phố Praha

Tại Cộng hòa Séc, giao hưởng và nhạc kịch có một sư liên hệ mật thiết với các vũ khúc dân gian truyền thống củaBohemiaMoravia. Một trong những thể loại nhạc độc đáo và đặc trưng nhất của xứ Bohemia làPolka, một loại nhạc nhảy có tiết tấu nhanh và vui nhộn được hình thành vào giữathế kỷ XIX. Nhạc Polka (tiếng Séc có nghĩa là "cô gái Ba Lan") đã nhanh chóng trở nên thịnh hành không chỉ ởchâu Âu mà còn trên khắp thế giới, đồng thời nó cũng trở thành chất liệu để viết giao hưởng của hai nhạc sĩ ngườiÁoJohann Strauss IJohann Strauss II. Nhạc dân gian Moravia được chơi với nhiều loại nhạc cụ nhưđại hồ cầm,kèn clarinetviolông. Nhạc Moravia thường biểu hiện những ảnh hưởng từ nước ngoài, đặc biệt là từRomâniaBa Lan.

Ngày nay, các hình thức âm nhạc hiện đại nhưpop,rock and roll đang ngày càng trở nên phổ biến. Các bài hát trongtiếng Anh nhiều khi được người Séc đặt lại lời theo tiếng Séc và kết hợp với một vài phong cách truyền thống của họ.

Lễ hội

[sửa |sửa mã nguồn]
Đêm vọng Lễ Giáng Sinh ở Thủ đô Praha

Cộng hóa Séc có hai ngàyquốc khánh (tức ngày độc lập). Ngày1 tháng 1 năm1993 là ngày Cộng hòa Séc tách ra từLiên bang Tiệp Khắc để trở thành một quốc gia độc lập. Còn ngày quốc khánh thứ hai là28 tháng 10 năm1918, ngày mà nhân dân hai nước Séc vàSlovakia cùng nhau thành lập Liên bang Tiệp Khắc sau sự sụp đổ của Đế chế Áo-Hung.

Giống với nhiều quốc giachâu Âu khác, Cộng hòa Séc cũng tổ chức những ngày lễ quan trọng củaKitô giáo như LễPhục sinh, LễGiáng sinh. Vàođêm vọng Lễ Giáng Sinh24 tháng 12, tất cả các thành phố lớn của Cộng hòa Séc đều được trang hoàng lộng lẫy. Ngày tiếp theo là ngày Giáng Sinh25 tháng 12. Tiếp đó ngày 26 tháng 12 được gọi là ngàyThánh Stêphanô, được coi như ngày Giáng sinh thứ hai của Cộng hòa Séc.

Bên cạnh đó, Cộng hòa Séc còn là điểm đến của nhiều lễ hội văn hóa quốc tế. Lễ hội Âm nhạc Quốc tế Praha được tổ chức vàomùa xuân hàng năm thu hút rất nhiều các dàn nhạc giao hưởng từ khắp nơi trên thế giới. Bên cạnh đó còn có Liên hoan Phim Quốc tế được tổ chức tại thành phốKarlovy Vary hay các lễ hội bia được tổ chức tại nhiều miền khác nhau của đất nước này.

NgàyNgày lễTêntiếng SécChú thích
1 tháng 1NgàyQuốc khánh của Cộng hòa Séc; Năm mớiDen obnovy samostatného českého státu; Nový rokNgày Quốc khánh của Cộng hòa Séc vào năm 1993, Séc tái độc lập sau khiTiệp Khắc tan rã
Tháng 3, tháng 4Lễ Phục sinhVelikonoční pondělíLễPhục sinh được tổ chức trong 2 ngày (chủ nhật và thứ hai) tại Cộng hòa Séc
1 tháng 5NgàyQuốc tế Lao độngSvátek práce
5 tháng 7Ngày Thánh Cyril và MethodiusDen slovanských věrozvěstů Cyrila a MetodějeNăm 863, hai nhà truyền giáo Cyril và Methodius đã đến và truyền bá đạo Thiên chúa vàoĐại Moravia
6 tháng 7Ngày Jan HusDen upálení mistra Jana HusaNhà cải cách tôn giáoJan Hus bị hỏa thiêu trên giàn lửa năm 1415
28 tháng 9Ngày Thánh WenceslasDen české státnostiNăm 935, Thánh Wenceslas, người được tôn là vị thánh bảo trợ của Séc bị giết hại
28 tháng 10Ngày Quốc khánh của Tiệp KhắcDen vzniku samostatného československého státuThành lập Tiệp Khắc năm 1918
17 tháng 11Ngày Đấu tranh giành tự do, dân chủDen boje za svobodu a demokraciiCuộc tuần hành của học sinh chốngphát xít Đức năm 1939 và cuộc tuần hành năm 1989 khởi đầuCách mạng Nhung lụa
24 tháng 12Đêm vọng Lễ Giáng SinhŠtědrý večer
25 tháng 12Ngày Giáng sinhSvátek vánoční
26 tháng 12Ngày Thánh StephenSvátek vánočníNgày Giáng sinh thứ hai của Cộng hòa Séc

Ẩm thực

[sửa |sửa mã nguồn]
Bài chi tiết:Ẩm thực Séc
Bánh quy Giáng sinh (vánoční cukroví)

Ẩm thực Cộng hòa Séc có ảnh hưởng lớn đến các nền ẩm thực tại khu vựcTrung Âu và bản thân nó cũng chịu ảnh hưởng của các nền ẩm thực khác. Nhiều món ăn phổ biến trong khu vực có nguồn gốc và xuất xứ từ đất nước này. Đa phần các món ăn chính của Cộng hòa Séc đều có thịt, gồm thịt lợn, thịt bò và thịt gà. Do không phải một quốc gia giáp biển nên là một món ăn hiếm gặp tại nước này, chủ yếu được dùng nhiều vào dịpGiáng sinh.

Thịt heo hầm với bánh mì hấp và dưa cải muối (tiếng Séc:vepřo-knedlo-zelo) được coi là một trong những món ăn phổ biến nhất của Cộng hòa Séc.Dưa cải muối trong món ăn này có hai cách chế biến khác nhau. Nó được chế biến chua hơn tại Bohemia và ngọt hơn tại Moravia. Thịt bò hầm nấu với sữa (svíčková na smetaně) cũng là một món ăn thịt khá phổ biến. Món ăn này gồm những miếng thịt bò hầm chấm với nước sốt đặc từ sữa, được kèm theo bởi bánh mì hấp, một thìa mứt quả và một látchanh.

Một số món ăn nhẹ tiêu biểu cho ẩm thực Séc là món bánh kếp rán (bramboráky) được làm từ hỗn hợpkhoai tây,bột mì,sữa kèm theo một số gia vị rồi đem rán. Bên cạnh đó, pho mát cũng là một món ăn được ưa chuộng với nhiều chủng loại đa dạng.

Món bánh mì hấp có nhân mứt hoa quả xay nghiền (ovocné knedlíky) được làm từ bột khoai tây nhào trộn và bộc mứt nghiền trái cây, sau đó đem luộc và được dùng với bơ, đường và pho mát. Có rất nhiều loại bánh bọc hoa quả khác nhau được chế biến cùng nhiều loại trái cây đa dạng nhưdâu tây,đào,anh đào,,mận... Những món ăn này không chỉ đơn thuần được coi như món tráng miệng mà đôi khi được xem là một món ăn chính trong bữa ăn. Trong dịp lễ Giáng sinh, món bánhvánočka sẽ được làm cùng với rất nhiều bánh quy và kẹo ngọt (vánoční cukroví).

Cộng hòa Séc còn là một quốc gia vềbia. Nghề làm bia tại Cộng hòa Séc đã có lịch sử lâu đời từ hàng trăm năm nay và được làm chủ yếu từ hoa của cây hublông. Một trong những loại bia của nước này là bia Plzeň (Pilsener), được làm tại thành phố Plzeň (tiếng Đức:Pilsen) ở xứ Bohemia.

Thể thao

[sửa |sửa mã nguồn]

Thể thao là một phần không thể thiếu trong cuộc sống tinh thần của người dân Cộng hòa Séc. Hai môn thể thao phổ biến và giành được nhiều sự hâm mộ nhất tại nước này làbóng đáhockey trên băng. Bên cạnh đó, các môn thể thao nhưbóng rổ,bóng chuyền,bóng ném,điền kinh... cũng rất phổ biến.

Hockey trên băng là một môn thế mạnh của Cộng hòa Séc. Nước này đã từng 1 lần đoạt huy chương vàng tạiThế vận hội Mùa đông 1998 và 5 lần vô địch giải hockey trên băng toàn thế giới.Bóng đá cũng là một môn thể thao ưa chuộng tại nước này. Trước kia khi còn nằm trong Liên bang Tiệp Khắc,đội tuyển bóng đá quốc gia Tiệp Khắc đã từng hai lần đoạt ngôi vị á quân thế giới (World Cup) và một lần vô địch châu Âu (Euro). Còn hiện nay,đội tuyển bóng đá quốc gia Cộng hòa Séc đã từng đạt ngôi á quân tạiEuro 1996. Nước này cũng có tên trong danh sách 16 đội tuyển tham dự vòng chung kếtEuro 2008 tạiÁoThụy Sĩ. Theo bảng xếp hạng các đội tuyển bóng đá quốc gia củaFIFA (tháng 1 năm2008), Cộng hòa Séc xếp thứ 6 thế giới.[53]

Bên cạnh đó, Cộng hòa Séc còn được biết đến là quê hương của một số tay vợt trong môntennis nhưMartina NavratilovaIvan Lendl.

Hình ảnh

[sửa |sửa mã nguồn]
  • Một công viên ở Olomouc
    Một công viên ở Olomouc
  • Cảnh mùa đông tại Cộng hòa Séc
    Cảnh mùa đông tại Cộng hòa Séc
  • Mặt trời lặn ở Brno
    Mặt trời lặn ở Brno
  • Một vùng thôn quê tại Séc
    Một vùng thôn quê tại Séc
  • Quang cảnh một vùng đồi núi
    Quang cảnh một vùng đồi núi
  • Rừng cây tại Cộng hòa Séc
    Rừng cây tại Cộng hòa Séc
  • Nhà thờ Thánh Nicholas tại Praha
    Nhà thờ Thánh Nicholas tại Praha
  • Tháp đồng hồ thiên văn tại Praha
    Tháp đồng hồ thiên văn tại Praha
  • Một đường phố ở Brno
    Một đường phố ở Brno
  • Khu vườn ở Karlovy Vary
    Khu vườn ở Karlovy Vary
  • Một tòa nhà ở Karlovy Vary
    Một tòa nhà ở Karlovy Vary
  • Thánh đường Do Thái tại Pilsen
    Thánh đường Do Thái tại Pilsen

Xem thêm

[sửa |sửa mã nguồn]

Tham khảo

[sửa |sửa mã nguồn]
  1. ^National Minorities Policy of the Government of the Czech Republic. Viết bằng Tiếng Anh. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2012.
  2. ^abc"Národnost".Census 2021 (bằng tiếng Séc).Czech Statistical Office.Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2022.
  3. ^"Náboženská víra".Census 2021 (bằng tiếng Séc).Czech Statistical Office.Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2022.
  4. ^"Population of cohesion regions, regions and districts of the Czech Republic, 1 January 2024".Czech Statistical Office. ngày 17 tháng 5 năm 2024.Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2025.
  5. ^"Public database: Land use (as at 31 December)".Czech Statistical Office. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2022.
  6. ^abcd"World Economic Outlook Database, October 2024 Edition. (Czechia)".www.imf.org.Quỹ Tiền tệ Quốc tế. ngày 22 tháng 10 năm 2024. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2024.
  7. ^"Gini coefficient of equivalised disposable income – EU-SILC survey".ec.europa.eu.Eurostat. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2024.
  8. ^"Human Development Report 2025"(PDF) (bằng tiếng Anh).Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc. ngày 6 tháng 5 năm 2025.Lưu trữ(PDF) bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2025.
  9. ^"Oxford English Dictionary". Askoxford.com.Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2011.
  10. ^"Meeting with the members of the Diplomatic Corps".www.hrad.cz. Prague Castle. ngày 29 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2015.
  11. ^Laughland, Oliver (ngày 14 tháng 4 năm 2016)."Czech Republic officials say country would like to be called 'Czechia' instead".Guardian. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2016.
  12. ^(CS) PRECLÍK, Vratislav. Masaryk a legie (Masaryk and legions), váz. kniha book, 219 pages, first issue vydalo nakladatelství Paris Karviná, Žižkova 2379 (734 01 Karviná-Mizerov, Czech Republic) ve spolupráci s Masarykovým demokratickým hnutím (in association with the Masaryk Democratic Movement, Prague), 2019,ISBN 978-80-87173-47-3, pp.148-214
  13. ^Cộng hòa Séc - Thành viên Liên minh châu ÂuEUROPA - European Countries - Czech Republic
  14. ^Czech Climate - Bảng số liệu về khí hậu Cộng hòa Séc Prague TV
  15. ^"The Constitution of the Czech Republic – Article 16". Czech Republic.Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2015.
  16. ^"Klaus signs Czech direct presidential election implementing law". Czech Press Agency. ngày 1 tháng 8 năm 2012.Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2012.
  17. ^Hloušek, Vít (ngày 11 tháng 3 năm 2015)."Is the Czech Republic on its Way to Semi-Presidentialism?".Baltic Journal of Law & Politics.7 (2):95–118.doi:10.1515/bjlp-2015-0004.
  18. ^"Prime Minister".Government of the Czech Republic.Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2015.
  19. ^"Members of the Government".Government of the Czech Republic.Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2015.
  20. ^"The Czech Republic's Membership in International Organizations".United States State Department. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2015.
  21. ^"Global Peace Index 2020"(PDF).visionofhumanity.org. Institute for Economics and Peace.Lưu trữ(PDF) bản gốc ngày 9 tháng 10 năm 2022.
  22. ^Last conscripts leave Czech army. BBC - Cộng hòa Séc bài bỏ nghĩ vụ quân sự bắt buộc 22 tháng 12 năm 2004, 15:08 GMT
  23. ^"CIA - The World Factbook: Quân đội Séc".Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2007.
  24. ^Mccanndigital.cz."Getting to know Czech Republic".Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2014.
  25. ^"World Bank 2007". Web.worldbank.org.Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2010.
  26. ^Aspalter, Christian; Jinsoo, Kim; Sojeung, Park (2009)."Analysing the Welfare State in Poland, the Czech Republic, Hungary and Slovenia: An Ideal-Typical Perspective".Social Policy & Administration.43 (2):170–185.doi:10.1111/j.1467-9515.2009.00654.x.
  27. ^"GDP per capita in PPS". Eurostat.Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2015.
  28. ^Tait, Robert (ngày 6 tháng 1 năm 2019)."Czech democracy 'under threat' from rising debt crisis".The Guardian.
  29. ^Báo cáo của Quỹ tiền tệ Quốc tế năm 2006
  30. ^"The World Factbook".Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2015.
  31. ^"Bản sao đã lưu trữ".Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2008.
  32. ^"Bản sao đã lưu trữ".Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2008.
  33. ^"Bản sao đã lưu trữ".Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2008.
  34. ^"Bản sao đã lưu trữ".Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2008.
  35. ^"Bản sao đã lưu trữ".Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2008.
  36. ^"Bản sao đã lưu trữ".Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2008.
  37. ^Prague integrated transport systemLưu trữ ngày 18 tháng 1 năm 2012 tạiWayback Machine 29.12.2009
  38. ^The World Factbook: Czech RepublicLưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2020 tạiWayback Machine CIA cập nhật 11/7/2013
  39. ^"Bản sao đã lưu trữ".Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2008.
  40. ^World Population Prospects The 2006 Revision - Báo cáo dân số 2006 của Liên Hợp Quốc
  41. ^"Population of Municipalities - as at 1 January 2025".Czech Statistical Office. ngày 16 tháng 5 năm 2025.
  42. ^"The History and Origin of the Roma". Romove.radio.cz.Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2010.
  43. ^Green, Peter S. (ngày 5 tháng 8 năm 2001)."British Immigration Aides Accused of Bias by Gypsies".The New York Times.Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2010.
  44. ^"Jarosław Jot-Drużycki: Poles living in Zaolzie identify themselves better with CzechsLưu trữ ngày 26 tháng 4 năm 2018 tạiWayback Machine".European Foundation of Human Rights. 3 September 2014.
  45. ^Học sinh người Việt nổi tiếng học giỏi tại Cộng hòa Séc T.Đbáo Tiền Phong, 14:50 | 12/09/2006 (Theo báo CH Séc 8/9)
  46. ^"Log In". Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2015.
  47. ^Việt Nam được công nhận là dân tộc thiểu số tại CzechLưu trữ ngày 6 tháng 7 năm 2013 tạiWayback Machine | Đài truyền hình Việt Nam VTV cập nhật 04/07/2013 14:07
  48. ^"Population by religious belief and by municipality size groups"(PDF). Czech Statistical Office.Bản gốc(PDF) lưu trữ ngày 21 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2012.
  49. ^"The World Factbook".Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2015.
  50. ^CH Séc ICED
  51. ^"Bản sao đã lưu trữ".Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2008.
  52. ^"Bản sao đã lưu trữ".Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2008.
  53. ^http://www.fifa.com/worldfootball/ranking/lastranking/gender=m/fullranking.html#confederation=0&rank=165Lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2018 tạiWayback Machine Bảng xếp hạng FIFA (truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2008)

Liên kết ngoài

[sửa |sửa mã nguồn]
Wikimedia Commons có thêm hình ảnh và phương tiện vềSéc.
Wikiversity tiếng Anh có tài liệu giáo dục và khoa học kỹ thuật về:
Czech republic
Các quốc gia có chủ quyền và lãnh thổ phụ thuộc tạiChâu Âu
Đan Mạch
Phần Lan
Anh
Lấy từ “https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Séc&oldid=74766551
Thể loại:
Thể loại ẩn:

[8]ページ先頭

©2009-2026 Movatter.jp