Paul Martin
|
---|
 |
|
Thủ tướng Canada thứ 21 |
---|
Nhiệm kỳ 12 tháng 12 năm2003 – 6 tháng 2 năm2006 2 năm, 56 ngày |
Quân chủ | Elizabeth II |
---|
Toàn quyền | Adrienne Clarkson Michaëlle Jean |
---|
Cấp phó | Anne McLellan |
---|
Tiền nhiệm | Jean Chrétien |
---|
Kế nhiệm | Stephen Harper |
---|
Thủ lĩnhĐảng Tự do Canada |
---|
Nhiệm kỳ November 14, 2003 – March 19, 2006 |
Tiền nhiệm | Jean Chrétien |
---|
Kế nhiệm | Bill Graham(interim) |
---|
34thMinister of Finance |
---|
Nhiệm kỳ November 4, 1993 – June 2, 2002 |
Thủ tướng | Jean Chrétien |
---|
Tiền nhiệm | Gilles Loiselle |
---|
Kế nhiệm | John Manley |
---|
Minister responsible for the Economic Development Agency of Canada for the Regions of Quebec |
---|
Nhiệm kỳ November 4, 1993 – January 24, 1996 |
Thủ tướng | Jean Chrétien |
---|
Tiền nhiệm | Jean Charest |
---|
Kế nhiệm | John Manley |
---|
Nghị sĩQuốc hội Canadian choLaSalle—Émard |
---|
Nhiệm kỳ November 21, 1988 – October 14, 2008 |
Tiền nhiệm | Claude Lanthier |
---|
Kế nhiệm | Lise Zarac |
---|
|
Thông tin cá nhân |
---|
Sinh | Paul Edgar Philippe Martin 28 tháng 8, 1938(86 tuổi) Windsor, Ontario, Canada |
---|
Quốc tịch | Canadian |
---|
Đảng chính trị | Tự do |
---|
Phối ngẫu | |
---|
Con cái | 3 |
---|
Cha mẹ | Paul Martin Sr. Eleanor Alice Adams |
---|
Cư trú | Montreal, Quebec, Canada |
---|
Alma mater | St. Michael's College, Toronto University of Toronto Faculty of Law |
---|
Chuyên môn | Lawyer, businessman, author |
---|
Chữ ký |  |
---|
Website | PaulMartin.ca |
---|
Paul Edgar Philippe Martin (sinh ngày28 tháng 8 năm1938 tạiWindsor,Ontario) làThủ tướng thứ 21 củaCanada, tiếp nốiJean Chrétien vào ngày12 tháng 12 năm2003. Martin cũng là lãnh tụ (leader) củaĐảng Tự do của Canada và dẫn đầu một chính phủ thiểu số từ ngày28 tháng 6 năm2004 đến ngày6 tháng 2 năm2006, chính phủ thiểu số đầu tiên của Canada sau 24 năm.
Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống trong chính trườngCanada. Cha ông,Paul Martin, Sr. đã nhiều lần nắm chức vụ bộ trưởng trong chính phủ và có một thời gian, ông được xem là người có triển vọng để tranh chứcThủ tướng Canada.
Paul Martin tốt nghiệp khoa luật tạiĐại học Toronto và nhận được giấy phép hành nghề của luật sư đoàn Ontario vào năm1966. Trước khi tham gia chính trị, ông có một quãng thời gian hoạt động tương đối thành công trong lĩnh vực tư nhân khi ông là nhân viên cao cấp của công tyPower Corporation of Canada rồi Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành của công tyCanada Steamship Lines.
Bắt đầu tham gia chính trị vào giữathập niên 1980, ông được bầu vàoHạ nghị viện đại diện cho đơn vị cử triLaSalle-Émard (thuộcMontréal,Québec) vào năm1988. Năm1990, ông thất bại trong việc ra tranh chức lãnh tụ đảngTự do. Từ đó cho đến khi được bầu làm Thủ tướng, ông luôn giữ những vai trò nổi bật trên chính trường Canada. Là một trong những nhân tố quyết định trong thắng lợi của đảng Tự do tại cuộc bầu cử năm1993, ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Tài chính trong chính phủ củaJean Chrétien. Có thể nói ông đã đảm nhiệm vị trí này một cách rất xuất sắc. Trong thời gian ông đứng đầu Bộ Tài chính, ngân sách Canada đã giảm được 42 tỷ đô la tiền thâm hụt, trả được 34 tỷ đô la tiền nợ và có năm kỳ liên tục có số dư. Vào năm2002, ông lại ra ứng cử vào vị trí lãnh tụ đảng Tự do đồng nghĩa với việc sẽ là ứng cử viên của đảng vào cuộc bầu cử năm2003, ông thắng trong cả hai cuộc bỏ phiếu trên.
Cuối tháng 11 năm 2005, sau một số vụ bê bối, chính phủ của ông bị lật đổ sau khi thua phiếu bất tín nhiệm. Trong cuộc bầu cử toàn quốc xảy ra vào ngày 23 tháng 1 năm 2006, đảng Tự do của ông bị thuađảng Bảo thủ, và ông tuyên bố từ chức thủ tướng để cho lãnh tụ của đảng Bảo thủ,Stephen Harper, thành lập chính phủ mới.
Ông kết hôn với bàSheila Ann Cowan từ năm1965 và họ đã có với nhau ba người con trai, Paul sinh năm1966, Jamie kém ông anh trai của mình 3 tuổi và người trẻ nhất, David, sinh năm1974.
Wikimedia Commons có thêm hình ảnh và phương tiện truyền tải về
Paul Martin.