Oberon có khả năng là được hình thành từđĩa bồi tụ bao quanh Sao Thiên Vương ngay sau khi hành tinh này hình thành. Vệ tinh này được cấu tạo từ băng vàđá với lượng xấp xỉ bằng nhau, và có khả năng có sự phân biệt giữalõi đá vàlớp phủ băng. Một tầng nước lỏng có thể tồn tại ở ranh giới giữa lõi và lớp phủ. Bề mặt của Oberon, có màu đen và đỏ nhạt, có lẽ ban đầu đã được định hình chủ yếu do va chạm với cáctiểu hành tinh vàsao chổi. Nó được bao phủ bởi nhiềuhố va chạm đạt đường kính đến 210 km. Oberon sở hữu một hệ thống cácchasmata (địa hào hoặcsườn) được hình thành từ sự mở rộng các thành phần bên trong vào thời kỳ đầu tiến hoá của thiên thể này.
Hệ thống vệ tinh Sao Thiên Vương chỉ được nghiên cứu kỹ càng một lần bởi tàu không gianVoyager 2 vào tháng 1 năm 1986. Nó đã chụp nhiều hình ảnh về Oberon, cho phép con người có thể lập được bản đồ về 40% diện tích bề mặt Oberon.
Hoàng hậu Titania và vua Oberon giữa bầy tiên nhỏ, tranh của Sir Joseph Noel Paton (1849)
Ngày 11 tháng 1 năm 1787,nhà thiên văn họcngười Anh gốcĐứcWilliam Herschel phát hiện vệ tinh Oberon; cũng trong cùng ngày ông cũng đã phát hiện ra vệ tinh lớn nhất của Sao Thiên Vương,Titania.[1][12] Sau đó ông còn báo cáo về việc phát hiện ra thêm bốn vệ tinh khác,[13] mặc dù sau đó chúng được xác nhận là giả.[14] Gần năm mươi năm sau khi được phát hiện, Titania và Oberon không được quan sát bởi bất kỳ dụng cụ nào khác ngoài dụng cụ của William Herschel,[15] mặc dù các vệ tinh này ngày nay có thể được quan sát từ Trái Đất bởi các kính viễn vọng nghiệp dư cao cấp.[11]
Tất cả các vệ tinh của Sao Thiên Vương được đặt tên theo các nhân vật trong các tác phẩm củaWilliam Shakespeare hayAlexander Pope. Tên Oberon được đặt theoOberon, vua của các tiên trongGiấc mộng đêm hè.[16] Tên của bốn vệ tinh phát hiện đầu tiên được con trai của Herschel,John đề nghị vào năm 1852, theo yêu cầu củaWilliam Lassell,[17] người đã phát hiện ra hai vệ tinh khác,Ariel vàUmbriel, một năm trước đó.[18] Oberon và Titania được coi là những vệ tinh đầu tiên không được đặt tên theo các nhân vật thần thoại Hy Lạp, khởi xướng bởi John Herschel. Dạng tính từ của tên vệ tinh làOberonian,/ˌɒbəˈroʊniən/.[19]
Oberon ban đầu được gọi là "vệ tinh thứ hai của Sao Thiên Vương", vào năm 1848 đượcnhà thiên văn họcngười AnhWilliam Lassell định danh làUranus II,[20] bởi dù ông đôi khi sử dụng cách đánh số của William Herschel (trong đó Titania và Oberon là II và IV).[21] Năm 1851, Lassell cuối cùng đã đánh số tất cả bốn vệ tinh được biết lúc bấy giờ dựa theo khoảng cách của chúng tới Sao Thiên Vương bằngsố La Mã, và từ đó Oberon được định danh làUranus IV.[22]
Quỹ đạo Oberon cách Sao Thiên Vương khoảng 584,000 km, xa nhất trong số năm vệ tinh lớn.[f] Quỹ đạo Oberon cóđộ nghiêng vàđộ lệch tâm nhỏ tương đối so vớixích đạo Sao Thiên Vương.[4]Chu kỳ quỹ đạo của nó khoảng 13,5 ngày, trùng vớichu kỳ tự quay. Nói cách khác, Oberon là mộtvệ tinh đồng bộ bịkhóa thủy triều, với một mặt luôn hướng về hành tinh.[8] Một phần đáng kể quỹ đạo Oberon nằm bên ngoàitừ quyển Sao Thiên Vương.[23] Kết quả là bề mặt của nó bị bắn phá trực tiếp dướigió Mặt Trời.[10] Điều này rất quan trọng, bởi vì bán cầu kéo theo (trailing hemispheres) của vệ tinh di chuyển phía trong từ quyển sẽ bị tấn công bởi plasma từ quyển, vốn quay cùng hành tinh.[23] Sự oanh tạc này có thể dẫn đến sự tối đi phần bán cầu kéo theo, việc này đã thực sự được quan sát ở tất cả các vệ tinh của Sao Thiên Vương trừ Oberon (xemphía dưới).[10]
Bởi vì Sao Thiên Vương di chuyển gần như là lăn quanh Mặt Trời, và quỹ đạo các vệ tinh của nó gần như nằm trên mặt phẳng xích đạo của hành tinh, chúng (kể cả Oberon) cùng phải chịu một chu kỳ mùa cực dài. Cả hai bán cầu Bắc và bán cầu Nam ở trong bóng tối 42 năm, và 42 năm trong ánh sáng Mặt Trời, với Mặt Trời mọc gầnthiên đỉnh trên một trong các cực tại mỗiđiểm chí.[10] KhiVoyager 2 bay qua Nam bán cầu của Oberon, trùng với ngày hạ chí năm 1986, khi mà gần như toàn bộ Bắc bán cầu chìm trong bóng tối. Cứ mỗi 42 năm, Sao Thiên Vương lại đếnđiểm phân và mặt phẳng xích đạo của nó giao cắt với Trái Đất, các vệ tinh của Sao Thiên Vương có thểche khuất lẫn nhau. Một trong số các lần đó, kéo dài 6 phút, được quan sát ngày 4 tháng 5 năm 2007, khi Oberon che khuấtUmbriel.[24]
Oberon là vệ tinh lớn và nặng thứ hai của Sao Thiên Vương sauTitania, và là vệ tinh nặng thứ 9 trongHệ Mặt Trời.[g] Tuy nhiên, nó vẫn làvệ tinh lớn thứ mười tính theo kích thước bởi vìRhea, vệ tinh lớn thứ hai củaSao Thổ và là vệ tinh lớn thứ chín, có kích thước gần bằng Oberon mặc dù Rhea lớn hơn Oberon khoảng 0,4%, mặc dù Oberon nặng hơn Rhea về khối lượng.[26] Khối lượng riêng của Oberon là 1,63 g/cm³,[7] cao hơn khối lượng riêng điển hình củacác vệ tinh của Sao Thổ, chỉ ra rằng có sự cân bằng giữa tỉ lệbăng và một thành phần đậm đặc không phải băng.[27] Thành phần thứ hai có thể được cấu tạo từđá và vật chất giàucarbon bao gồmhợp chất hữu cơ nặng.[8] Sự tồn tại của nước đákết tinh trên bề mặt của vệ tinh được nhận dạng thông qua việc quan sátquang phổ.[10]Dải hấp thụ băng ở bán cầu kéo theo thì mạnh hơn ở bán cầu dẫn đường (leading hemisphere). Việc này trái ngược với các quan sát trên các vệ tinh Sao Thiên Vương khác, nơi mà bằng chứng về dấu hiệu của băng mạnh hơn trên bán cầu dẫn đường.[10] Nguyên nhân của sự bất đối xứng này vẫn chưa rõ, nhưng có thể liên quan đếnva chạm làm vườn (Impact gardening) (sự tạo đất do va chạm) bề mặt diễn ra mạnh mẽ hơn trên bán cầu dẫn đường.[10]Va chạm thiên thạch có xu hướng làm bắn (văng ra) băng từ bề mặt, để lại vật chất màu đen không phải băng phía sau.[10] Vật chất màu đen tự nó có thể hình thành từ quá trình bức xạclathratemêtan hay bức xạ tối các vật chất hữu cơ khác.[8][28]
Oberon có thể có mộtlõi đá tách biệt được bao quanh bởi mộtlớp phủ băng.[27] Trong trường hợp này, bán kính lõi (480 km) sẽ bằng khoảng 63% bán kính vệ tinh, và khối lượng bằng 54% khối lượng vệ tinh. Áp suất của phần tâm Oberon vào khoảng 0,5 GPa (5 kbar).[27] Tình trạng hiện tại của lớp phủ băng là không rõ ràng. Nếu băng chứa đủamonia haychất chống đông khác, Oberon có thể có một đại dương nước nằm giữa lõi và lớp phủ. Độ dày của đại dương này, nếu tồn tại, có thể lên đến 40 km và nhiệt độ vào khoảng 180 K (gần vớinhiệt độ eutecti của nước-amoniac là 176 K).[27] Tuy nhiên, cấu trúc bên trong của Oberon phụ thuộc nhiều vào lịch sử nhiệt của nó, mà hiện nay ít được biết đến.
Ảnh của Obero. Tất cả các tên đặc trưng bề mặt được chú thích.
Oberon là vệ tinh tối thứ hai trong số năm vệ tinh lớn của Sao Thiên Vương sauUmbriel.[9] Bề mặt của nó cho thấy mộthiệu ứng xung đối mạnh mẽ: sự phản xạ của nó giảm từ 31% ở góc pha 0° (suất phản chiếu hình học) tới 22% ở góc khoảng 1°. Oberon cósuất phản chiếu Bond thấp, khoảng 14%.[9] Bề mặt của nó nói chung có màu đỏ, ngoại trừ các lớp trầm tích do va chạm mới có màu trung tính hoặc màu xanh nhạt.[29] Trong thực tế, Oberon là vệ tinh đỏ nhất trong các vệ tinh lớn của Sao Thiên Vương. Màu bán cầu dẫn đường và kéo theo không giống nhau: bán cầu thứ hai đỏ hơn bán cầu thứ nhất, bởi vì nó chứa nhiều vật chất màu đỏ đậm hơn.[28] Bề mặt hóa đỏ thường là kết quả của sựphong hoá không gian do bị oanh tạc bề mặt bởi các hạt bị biến đổi và cácvi thiên thạch trong suốt lịch sử Hệ Mặt Trời.[28] Tuy nhiên, sự bất đối xứng màu sắc của Oberon có nhiều khả năng xuất phát từ sự bồi tụ vật chất màu đỏ đến từ phía ngoài hệ Sao Thiên Vương, có thể là từ cácvệ tinh dị hình.[30]
Các nhà khoa học đã ghi nhận hai nhóm yếu tố địa chất đặc trưng trên Oberon:miệng hố vàchasmata ('hẻm núi'—những chỗ trũng sâu, kéo dài, có sườn dốc[31] mà có lẽ sẽ được mô tả làthung lũng tách giãn hoặcvách đứng nếu có trên Trái Đất).[8] Bề mặt cổ của Oberon bị bao phủ bởi nhiều miệng hố nhất trong số tất cả vệ tinh Sao Thiên Vương, với mật độ các miệng hố gần đạt đến mức bão hoà—khi sự hình thành một miệng hố mới được cân bằng với việc phá huỷ miệng hố cũ.[32] Phạm vi đường kính của các miệng hố từ vài kilômét nhỏ nhất cho đến 206 kilômét của hố lớn nhất hiện nay[32] làHamlet.[33] Nhiều miệng hố lớn được bao quanh bởi vật chất phun trào do va chạm (tia).[8] Các hố lớn nhất, Hamlet, Othello và Macbeth, có đáy được tạo thành từ các vật chất màu đen được lắng đọng sau khi chúng hình thành.[32] Một chóp cóchiều cao khoảng 11 km đã được quan sát từ một số bức hình củaVoyager ở gần rìa Đông Nam Oberon,[34] mà có thể là chóp trung tâm của một lòng chảo va chạm lớn với đường kính khoảng 375 km.[34] Bệ mặt Oberon bị chia cắt bởi hệ thống cáchẻm núi, tuy không phổ biến như các hẻm núi trên Titania.[8] Các mặt của hẻm núi có lẽ là nhữngsườn được tạo ra bởi cácđứt gãy thuận[h] có thể có cả cũ lẫn mới.[35] Hẻm núi nổi bật nhất trên Oberon làMommur Chasma.[36]
Địa chất của Oberon chịu ảnh hưởng bởi hai lực đối lập: sự hình thànhhố va chạm và tái tạo bề mặt có nguồn gốc nội sinh.[35] Các hố va chạm diễn ra trong suốt lịch sử hình thành vệ tinh này và góp phần lớn tạo nên diện mạo ngày nay của nó.[32] Quá trình thứ hai xảy ra trong thời kỳ sau khi Oberon hình thành. Quá trình nội sinh là sựkiến tạo chủ yếu trong tự nhiên và dẫn đến sự hình thành các hẻm núi, và đã thực sự tạo ra các vết nứt khổng lồ trên vỏ băng.[35] Các hẻm núi đã xoá bỏ một phần bề mặt cũ.[35] Các vết nứt trên lớp vỏ được gây ra bởi sự nở rộng Oberon khoảng 0,5%,[35] xảy ra trong 2 giai đoạn ứng với các hẻm núi mới và cũ.
Bản chất của các mảng tối, vốn tồn tại chủ yếu trên bán cầu dẫn đường và trong các miệng hố, vẫn chưa được biết. Một số nhà khoa học đưa ra giả thuyết rằng chúng có nguồn gốc từnúi lửa băng (tương tự như cácbiển Mặt Trăng),[32] trong khi một số khác nghĩ rằng các vụ va chạm đã đào lên vật chất đen vốn bị chôn vùi dưới lớp băng (lớp vỏ).[29]
Oberon được cho rằng đã hình thành từ mộtđĩa bồi tụ hay tiểu tinh vân; một đĩa khí và bụi tồn tại quanh Sao Thiên Vương một thời gian sau khi nó được hình thành hoặc được tạo ra từ một va chạm khủng khiếp mà rất có thể đã khiến trục Sao Thiên Vươngnghiêng mạnh.[39] Thành phần chính xác của tiểu tinh vân vẫn chưa rõ; tuy nhiên, khối lượng riêng tương đối cao của Oberon và các vệ tinh khác của Sao Thiên Vương so vớivệ tinh của Sao Thổ chỉ ra rằng chúng có lượng nước tương đối ít.[i][8] Số lượng đáng kểnitơ vàcarbon có thể tồn tại ở dạngcarbon monoxit và N2 thay vìamonia và mêtan.[39] Các vệ tinh được hình thành từ một tiểu tinh vân sẽ chứa ít băng hơn và có nhiều đá hơn, giải thích tại sao khối lượng riêng của chúng cao hơn.[8]
Sự bồi tụ của Oberon có lẽ đã diễn ra trong hàng ngàn năm.[39] Sự va chạm kèm theo bồi tụ đã nung nóng mặt ngoài vệ tinh.[40] Nhiệt độ tối đa khoảng 230 K đạt đến độ sâu 60 km.[40] Sau khi kết thúc quá trình hình thành, phần dưới bề mặt bị nguội đi, trong khi phần bên trong Oberon bị nung nóng do sự phân rãcác nguyên tố phóng xạ có trong các lớp đá của nó.[8] Lớp cận mặt đang nguội đi thì co lại, trong khi phần bên trong lại nở ra. Điều này dẫn đến các nứt vỡ trên bề mặt Oberon. Hệ thống các hẻm núi ngày nay có thể đã hình thành từ quá trình này, vốn kéo dài trong khoảng 200 triệu năm,[41] ngụ ý rằng mọi quá trình hoạt động nội sinh đều đã kết thúc từ hàng tỉ năm trước.[8]
Sựnung nóng do bồi tụ cùng với việc các nguyên tố phóng xạ tiếp tục phân rã có lẽ đủ mạnh làm tan băng[41] nếu tồn tại thêm một số chất chống đông như amonia (ở dạngammonia hydrat) hay một số loạimuối.[27] Sự tan băng tiếp diễn có thể dẫn đến việc tách biệt băng khỏi đá và hình thành lõi đá bao phủ bởi lớp phủ băng. Một lớp nước lỏng ('đại dương') giàu ammonia hòa tan có thể đã hình thành giữa lớp đá và lớp băng.[27]Nhiệt độ eutecti của hỗn hợp lỏng này vào khoảng 176 K.[27] Nếu nhiệt độ hạ xuống thấp hơn thì đại dương này hiện nay có thể đã bị đóng băng. Sự đóng băng của nước có thể dẫn đến sự nở ra của phần bên trong, và nó có thể góp phần vào sự hình thành cácđịa hào giống như hẻm núi.[32] Tuy nhiên, những hiểu biết hiện tại về quá trình tiến hóa của Oberon vẫn còn rất hạn chế.
Cho đến nay những hình ảnh cận cảnh nhất từ Oberon là có được từ tàu thăm dòVoyager 2, chụp được khi bay ngang qua Sao Thiên Vương vào tháng 1 năm 1986. Khoảng cách gần nhất giữaVoyager 2 và Oberon là 470.600 km,[42] tấm hình tốt nhất về vệ tinh này có độ phân giải không gian khoảng 6 km.[32] Các bức hình chụp khoảng 40% bề mặt, nhưng chỉ 25% có đủ chất lượng để có thể lậpbản đồ địa chất.[32] Khi Voyager 2 bay qua, chỉ có bán cầu Nam của Oberon hướng vềMặt Trời, nên không thể nghiên cứu được bán cầu Bắc (tối).[8] Không một tàu không gian nào khác từng viếng thăm Sao Thiên Vương.
Tiểu thuyết "Kho báu Lôi tinh" (Treasure on Thunder Moon, 1942) củaEdmond Hamilton nhắc tới Oberon như là một thế giới của núi lửa, quê hương củachủng người ngoài hành tinh bán ý thức
Tiểu thuyết "Oberon, l'avamposto fra i ghiacci" (1987) của nhà báo, nhà văn viễn tưởng người ýPaolo Aresi, một cơ sở bí mật của Nga được xây dựng trên Oberon[43]
^ A number ofbright-rayedcraters are visible.Hamlet, just below center, has dark material on its floor; to its upper left is smaller Othello. Above the limb at lower left rises an 11 km high mountain, probably thecentral peak of another crater.Mommur Chasma runs along the terminator at upper right.
^abHerschel, W. S. (1787). "An Account of the Discovery of Two Satellites Revolving Round the Georgian Planet".Philosophical Transactions of the Royal Society of London. Quyển 77. tr. 125–129.doi:10.1098/rstl.1787.0016.JSTOR106717.
^R. A. Jacobson (2014) 'The Orbits of the Uranian Satellites and Rings, the Gravity Field of the Uranian System, and the Orientation of the Pole of Uranus'.The Astronomical Journal 148:5
^abJacobson, R. A.; Campbell, J. K.; Taylor, A. H.; Synnott, S. P. (tháng 6 năm 1992). "The masses of Uranus and its major satellites from Voyager tracking data and earth-based Uranian satellite data".The Astronomical Journal. Quyển 103 số 6. tr. 2068–2078.Bibcode:1992AJ....103.2068J.doi:10.1086/116211.
^Herschel, William Sr. (ngày 1 tháng 1 năm 1798). "On the Discovery of Four Additional Satellites of the Georgium Sidus. The Retrograde Motion of Its Old Satellites Announced; And the Cause of Their Disappearance at Certain Distances from the Planet Explained".Philosophical Transactions of the Royal Society of London. Quyển 88. tr. 47–79.Bibcode:1798RSPT...88...47H.doi:10.1098/rstl.1798.0005.
^abcBell, J. F., III; McCord, T. B. (1991).A search for spectral units on the Uranian satellites using color ratio images. Lunar and Planetary Science Conference, 21st, Mar. 12–16, 1990 (Conference Proceedings). Houston, TX, United States: Lunar and Planetary Sciences Institute. tr. 473–489.Bibcode:1991LPSC...21..473B.{{Chú thích hội thảo}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
^abHelfenstein, P.; Hillier, J.; Weitz, C.; Veverka, J. (tháng 3 năm 1990). "Oberon: Color Photometry and its Geological Implications".Abstracts of the Lunar and Planetary Science Conference. Quyển 21. Lunar and Planetary Sciences Institute, Houston. tr. 489–490.Bibcode:1990LPI....21..489H.
^abcdeCroft, S. K. (1989).New geological maps of Uranian satellites Titania, Oberon, Umbriel and Miranda.Proceeding of Lunar and Planetary Sciences. Quyển 20. Lunar and Planetary Sciences Institute, Houston. tr. 205C.Bibcode:1989LPI....20..205C.
^"Oberon: Mommur".Gazetteer of Planetary Nomenclature. USGS Astrogeology. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2009.
^Strobell, M. E.; Masursky, H. (tháng 3 năm 1987). "New Features Named on the Moon and Uranian Satellites".Abstracts of the Lunar and Planetary Science Conference. Quyển 18. tr. 964–965.Bibcode:1987LPI....18..964S.
^abcMousis, O. (2004). "Modeling the thermodynamical conditions in the Uranian subnebula – Implications for regular satellite composition".Astronomy & Astrophysics. Quyển 413. tr. 373–380.Bibcode:2004A&A...413..373M.doi:10.1051/0004-6361:20031515.
^abHillier, John; Squyres, Steven W. (tháng 8 năm 1991). "Thermal stress tectonics on the satellites of Saturn and Uranus".Journal of Geophysical Research. Quyển 96 số E1. tr. 15,665–15, 674.Bibcode:1991JGR....9615665H.doi:10.1029/91JE01401.
^Paolo Aresi."Oberon, l'avamposto fra i ghiacci" (bằng tiếng Ý). Fantascienza.net.Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2011."E, intanto, su Oberon, satellite di Urano, si trova in segreto una base russa, guidata dal robot Tovarisc, che disobbedisce alle ferree programmazioni e crea un suo piccolo simile."
Vệ tinh của vệ tinh GHI CHÚ: Các vệ tinh đượcin nghiêng không gần với dạngcân bằng thủy tĩnh; các vệ tinh [trong ngoặc vuông] có hoặc không có khả năng gần với dạng cân bằng thủy tĩnh.
Vệ tinh của vệ tinh GHI CHÚ: Các vệ tinh đượcin nghiêng không gần với dạngcân bằng thủy tĩnh; các vệ tinh [trong ngoặc vuông] có hoặc không có khả năng gần với dạng cân bằng thủy tĩnh.