Movatterモバイル変換


[0]ホーム

URL:


Bước tới nội dung
WikipediaBách khoa toàn thư mở
Tìm kiếm

Ninh Bình

20°15′03″B105°58′29″Đ / 20,250924°B 105,974808°Đ /20.250924; 105.974808
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Đối với các định nghĩa khác, xemNinh Bình (định hướng).
Ninh Bình
Tỉnh
Biểu trưng

Biệt danhVùng đất Cố đô Hoa Lư
Đất Tổ của sân khấu Chèo
Tên cũHà Nam Ninh,Sơn Nam,Hà Nam,Nam Định
Hành chính
Quốc giaViệt Nam
VùngĐồng bằng sông Hồng
Trung tâm hành chínhPhườngHoa Lư
Trụ sởUBNDSố 3, phố Lê Hồng Phong, phườngHoa Lư
Phân chia hành chính32 phường, 97 xã
Thành lập1822
Tổ chức lãnh đạo
Bí thưTỉnh ủyĐặng Xuân Phong
Chủ tịchUBNDTrần Huy Tuấn
Hội đồng nhân dân128 đại biểu
Chủ tịchHĐNDLê Quốc Chỉnh
Chủ tịch UBMTTQMai Văn Tuất
Chánh ánTANDNguyễn Xuân Sơn
Viện trưởngVKSNDPhạm Ngọc Cảnh
Địa lý
Tọa độ:20°15′03″B105°58′29″Đ / 20,250924°B 105,974808°Đ /20.250924; 105.974808
Bản đồBản đồ tỉnh Ninh Bình
Vị trí tỉnh Ninh Bình trên bản đồ Việt Nam
Vị trí tỉnh Ninh Bình trên bản đồ Việt Nam
Vị trí tỉnh Ninh Bình trên bản đồ Việt Nam
Diện tích3.942,62 km²[1]
Dân số (31/12/2024)
Tổng cộng4.412.264 người[1]
Mật độ1.119 người/km²
Dân tộcKinh,Mường
Kinh tế (2024)
GRDP310.284 tỉ đồng
GRDP đầu người97,6 triệu đồng
Khác
Mã địa lýVN-18
Mã hành chính37[2]
Mã bưu chính43xxxx
Mã điện thoại229
Biển số xe18, 35, 90
Websiteninhbinh.gov.vn

Ninh Bìnhtỉnh nằm ở cửa ngõ phía Nam của Thủ đôHà Nội và thuộc vùngĐồng bằng sông Hồng,miền Bắc,Việt Nam.

Vùng đất Ninh Bình xưa làkinh đô Hoa Lư của Việt Nam giai đoạn 968 – 1010, và cũng là nơi phát tích 4 triều đại đế vương liên tiếp:Đinh,,,Trần với kỷ nguyên độc lập và thịnh trị lâu dài nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Đây cũng là địa bàn quan trọng về quân sự qua các thời kỳ lịch sử. Với vị trí đặc biệt về giao thông, địa hình, lịch sử văn hóa đồng thời sở hữuQuần thể di sản thế giới Tràng An và các danh hiệu khác do UNESCO trao tặng như:Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng, tín ngưỡng thờ Mẫu, ca trù,nghệ thuật chèo,... Ninh Bình là một trung tâm kinh tế, du lịch với tiềm năng phong phú và đa dạng.[3] Tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030 trở thành thành phố trực thuộc Trung ương.[4]

Địa lý

[sửa |sửa mã nguồn]

Vị trí địa lý

[sửa |sửa mã nguồn]

Ninh Bình nằm ở vị trí ranh giới 3 khu vực địa lý: Tây Bắc,châu thổ sông Hồng và Bắc Trung Bộ. Tỉnh này cũng thuộc quy hoạch 2 vùng kinh tế:vùng Hà Nội và vùng duyên hải Bắc Bộ. Ninh Bình nằm ở trọng tâm của nửa phía Bắc Việt Nam, khu vực các tỉnh thành từ Huế trở ra, có vị trí địa lý:

Các điểm cực của tỉnh Ninh Bình

[sửa |sửa mã nguồn]

Tỉnh lỵ của tỉnh Ninh Bình đặt tại phườngHoa Lư cách thủ đôHà Nội 93 km về phía Nam.

Điều kiện tự nhiên

[sửa |sửa mã nguồn]
Địa hình

Ninh Bình bao gồm cả 3 loại địa hình. Vùng đồi núi và bán sơn địa ở phía Tây mà điển hình là các khu vực bên hữu ngạn sông Đáy từTam Chúc tớiVân Long, khu vực Cúc Phương,Tràng AnTam Điệp đếnĐồng Thái. Đỉnh Mây Bạc thuộcrừng Cúc Phương với độ cao 648 m là đỉnh núi cao nhất Ninh Bình. Vùng đồng bằng và ven biển chiếm 3/4 diện tích toàn tỉnh. Tiếp giáp giữa miền núi và đồng bằng là vùng chiêm trũng chuyển tiếp. Rừng ở Ninh Bình có đủ cả rừng sản xuất và rừng đặc dụng các loại. Có 5 khu rừng đặc dụng gồmvườn quốc gia Cúc Phương, rừng môi trườngVân Long, rừng văn hóa lịch sử môi trườngHoa Lư,Vườn quốc gia Xuân Thủy và rừng phòng hộ ven biển Kim Sơn. Khu rừng đặc dụngHoa Lư -Tràng An đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới thuộcquần thể danh thắng Tràng An.

Ninh Bình có đường bờ biển dài 90 km, thuận lợi khai thác kinh tế, du lịch và phát triển thủy hải sản. Vùng cảnh quan sinh thái cửa sông Đáy và cửa sông Hồng thuộc biển Ninh Bình đã đượcUNESCO công nhận làkhu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng. Các đảo thuộc vùng biển Ninh Bình nằm rất gần các cửa sông và đều được gọi là cồn gồm: Cồn Lu, Cồn Ngạn, Cồn Xanh,Cồn Nổi và Cồn Mờ.

Ninh Bình nằm trong vùngkhí hậu cận nhiệt đới ẩm: mùa hè nóng ẩm, mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 10; mùa đông khô lạnh từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau; tháng 4, tháng 10 là mùa xuân và mùa thu, tuy không rõ rệt như các vùng nằm phía trênvành đai cận nhiệt đới. Lượng mưa trung bình hàng năm: 1.700 - 1.900 mm;nhiệt độ trung bình 23,5 °C; số giờnắng trong năm: 1.600 - 1.700 giờ;độ ẩm tương đối trung bình: 80 - 85%.

Sông hồ

Ninh Bình có hệ thống sông ngòi dày đặc và phân bố trên khắp tỉnh.Sông Đáy là sông dài nhất, được xem là dòng sông biểu tượng của tỉnh Ninh Bình vì nó đi qua 34 xã, phường trong tỉnh với chiều dài 2 bên đê lên tới gần 300 km và nối thông với hầu hết các sông nội tỉnh khác, tiếp theo làsông Hồng ở phía đông, là ranh giới với tỉnh Hưng Yên có chiều dài đê gần 100 km, qua 18 xã, phường. Các sông khác ở Ninh Bình cósông Hoàng Long,sông Đào,sông Ninh Cơ,sông Vạc,kênh Yên Mô,sông Châu Giang,Sông Càn,sông Vân,sông Bôi,sông Lạng,sông Can Bầusông Bến Đang,sông Nông Giang,sông Nhuệ,sông Sắt,sông Chanh, sông Mỹ Đô, sông Châu Thành, sông Sò, sông Ninh Mỹ, sông Múc và sông Vọp...

Hệ thống hồ thiên nhiên và hồ nhân tạo ở Ninh Bình rất đa dạng và phong phú. Các hồ lớn nhưhồ Đồng Thái,hồ Yên Quang,hồ Yên Thắng, hồ Tam Chúc, hồ Cá Voi, hồ Vị Xuyên, hồ Đầm Vực, hồ Thường Xung đem lại nguồn lợi đáng kể về tưới tiêu, giao thông, cảnh quan và khai thác thủy sản.

Khoáng sản
  • Tài nguyên đá vôi: Đá vôi là nguồn tài nguyên khoáng sản lớn nhất của Ninh Bình. Với những dãy núi đá vôi khá lớn, hướng Tây Bắc – Đông Nam như:Tam Chúc -Vân Long,Cúc Phương -Tam Điệp -Đồng Thái, diện tích trên 230 km2, trữ lượng 65 tỷ m3 khối đá vôi và 20 triệu tấnđôlômít. Đây là nguồn nguyên liệu lớn để sản xuất xi măng và vật liệu xây dựng và một số hóa chất khác.
  • Tài nguyên đất sét: Phân bố rải rác ở các vùng đồi núi thấp dùng để sản xuất gạch ngói, xi măng và nguyên liệu ngành đúc.
  • Tài nguyên cát sông Hồng: Cát làm vật liệu xây dựng với 14 điểm mỏ cát sông trên các tuyến sông lớn và 2 khu vực mỏ cát ven biển với tổng trữ lượng khoáng sản cát khoảng 206.346.684 m³.[5]
  • Tài nguyên nước khoáng: Nước khoáng Ninh Bình chất lượng tốt, tập trung chủ yếu ởCúc Phương (Nho Quan) vàKênh Gà (Gia Viễn) có thể khai thác phục vụ sinh hoạt và du lịch với trữ lượng lớn. Đặc biệt nước khoáng Kênh Gà có độ mặn, thường xuyên ở độ nóng 53 - 54 °C. Nước khoángCúc Phương có thành phần Magiêbicarbonat cao, sử dụng chế phẩm nước giải khát và chữa bệnh.
  • Tài nguyên than bùn: Trữ lượng khoảng trên 2 triệu tấn, phân bố ở các xã Gia Lâm, Thanh Sơn, Tam Điệp, có thể sử dụng để sản xuất phân vi sinh, phục vụ sản xuất nông nghiệp.

Lịch sử

[sửa |sửa mã nguồn]
Bài chi tiết:Lịch sử hành chính Ninh Bình

Ninh Bình là vùng đất phù sa cổ ven chân núi có con người cư trú từ rất sớm. Các nhà khảo cổ học đã phát hiện trầm tích có xương răng đười ươi và các động vật trên cạn ở núi Ba (Tam Điệp) và một số hang động khác của kỳ đồ đá cũ thuộc nềnvăn hóa Tràng An; ởđộng Người Xưa, Tam Chúc có di chỉ cư trú của con người thời văn hoá Hoà Bình. Di chỉ hang Chuông, hang Gióng Lở mang dấu tích văn hóa Bắc Sơn. Cư dân cổ di chỉ Đồng Vườn đã phát triển lên cư dân cổ di chỉ Mán Bạc ở giai đoạn văn hoá đồ đồng từ cuối Phùng Nguyên đến đầu Đồng Đậu. Trống đồng Ngọc Lũ là hiện vật tiêu biểu của nền văn hóa Đông Sơn, nổi tiếng khu vực Đông Nam Á, phản ánh nhiều nét đặc trưng văn hóa của cư dân Lạc Việt và giữ một vị trí quan trọng trong sinh hoạt đa dạng của cư dân xã hội Đông Sơn.[6] Ninh Bình là địa bàn có nhiều di tích khảo cổ học thuộc các thời kỳvăn hóa Tràng An, Hòa Bình, Bắc Sơn, Đa Bút và Đông Sơn. Thời Hùng Vương và thời Bắc Thuộc vùng đất này thuộc quận Giao Chỉ.

Năm 968, vuaĐinh Tiên Hoàng dẹp xongloạn 12 sứ quân, lên ngôi hoàng đế, lập ra nhà nướcĐại Cồ Việt nơi đây đã được chọn là để đặtkinh đô Hoa Lư, trung tâm của đất nước. Thời nhà Lý, Trần vùng đất này thuộc 3 lộ, phủ: Hoàng Giang, Trường Yên và Thiên Trường. Thời Hậu Lê được sáp nhập thành trấn Sơn Nam với các phủ: Lý Nhân, Thiên Quan, Trường Yên, Nghĩa Hưng và Thiên Trường.

Năm 1822, vua Minh Mạng cho đổi đạo Thanh Bình thành đạo Ninh Bình, danh xưng Ninh Bình với hàm ý là vùng đất khang ninh, yên bình và phát triển xuất hiện từ đó.[7]Thành cổ Ninh Bình đã được xây dựng năm 1824. Năm 1829 đổi đạo Ninh Bình thành trấn Ninh Bình và đến năm 1831 khi thành lập 13 tỉnh Bắc Kỳ, vùng đất này thuộc 3 tỉnhHà Nội, Ninh Bình,Nam Định. Tới năm 1890 tỉnhHà Nam được thành lập khi tách 1 phần phía Nam của tỉnh Hà Nội. Năm 1965, tỉnh Nam Định được hợp nhất với tỉnh Hà Nam thành tỉnhNam Hà. Năm 1975, tỉnh Nam Hà hợp nhất với tỉnh Ninh Bình thành tỉnhHà Nam Ninh. Năm 1991 tỉnh Ninh Bình cũ tái lập, và đến năm 1996Hà Nam,Nam Định cũng tái lập cho đến năm 2025 cả 3 tỉnh lại hợp nhất thành tỉnh Ninh Bình.

Ngày 12 tháng 6 năm 2025, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 202/2025/QH15[1] về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh (nghị quyết có hiệu lực từ ngày 12 tháng 6 năm 2025). Theo đó, sáp nhập tỉnhHà Nam và tỉnhNam Định vào tỉnh Ninh Bình.

Sau khi sáp nhập, tỉnh Ninh Bình có 3.942,62 km² diện tích tự nhiên và quy mô dân số là 4.412.264 người.

Ninh Bình là vùng đất được bồi đắp bởi phù sa củasông Hồng,sông Đáy,sông Hoàng Long, sông Đào và thu nhận đất đai bị bào mòn từ vùng núi cao trôi xuống. Chính những điều kiện tự nhiên đã tạo cho vùng đất này các đặc trưng về văn hóa lịch sử của một khu vực giao thoa hay vùng đệm kết nối văn hóa từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam và chính những đặc điểm này đã hình thành nên tính cách của người Ninh Bình trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc.

Về mặt quân sự, Ninh Bình cũng giữ một vị trí then chốt vìđèo Ba Dội nằm trong dãy Tam Điệp là một cửa giao thông hiểm yếu giữa Ninh Bình và Thanh Hóa, dùng đường bộ từThăng Long vàoThanh Hóa hay từĐàng Trong raĐàng Ngoài, đều phải vượt đèo này. Hiện tại, nơi đây là đại bản doanh củaQuân đoàn 12, là một trong 2 quân đoàn chủ lực của quân đội nhân dân Việt Nam.

Hành chính

[sửa |sửa mã nguồn]

Tỉnh Ninh Bình có 129 đơn vị hành chính cấp cơ sở gồm 32 phường, 97 xã như sau:[8]

Danh sách các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Ninh Bình[9]
TênDiện tích
(km²)
Dân số
(người)
Phường (32)
Châu Sơn17,4533.348
Duy Hà15,4624.310
Duy Tân28,8628.299
Duy Tiên28,9339.957
Đông A22,0731.802
Đông Hoa Lư25,6234.414
Đồng Văn18,8834.484
Hà Nam29,9833.343
Hoa Lư53,72148.406
Hồng Quang27,5335.784
Kim Bảng15,2223.232
Kim Thanh13,4926.050
Lê Hồ22,2732.373
Liêm Tuyền21,4427.781
Lý Thường Kiệt53,6622.958
Mỹ Lộc35,5438.068
Nam Định19,91188.751
Nam Hoa Lư54,3053.514
Nguyễn Úy24,2127.676
Phủ Lý11,8462.893
Phù Vân19,3440.927
Tam Chúc46,5618.114
Tam Điệp41,2026.845
Tây Hoa Lư84,9646.648
Thành Nam16,0330.830
Thiên Trường20,5331.031
Tiên Sơn23,9627.062
Trung Sơn38,1531.539
Trường Thi31,5069.988
Vị Khê25,2736.210
Yên Sơn35,8621.196
Yên Thắng29,9528.405
TênDiện tích
(km²)
Dân số
(người)
Xã (97)
Bắc Lý31,1730.984
Bình An37,7638.881
Bình Giang24,1524.343
Bình Lục23,9735.225
Bình Minh34,4431.090
Bình Mỹ30,2833.253
Bình Sơn28,0632.475
Cát Thành23,0739.035
Chất Bình18,6017.237
Cổ Lễ18,3340.163
Cúc Phương132,688.650
Đại Hoàng23,7523.848
Định Hóa21,4424.438
Đồng Thái47,6024.049
Đồng Thịnh30,4530.888
Gia Hưng28,3721.669
Gia Lâm37,6120.189
Gia Phong18,5313.034
Gia Trấn18,7620.619
Gia Tường27,0919.489
Gia Vân26,9425.920
Gia Viễn39,8028.921
Giao Bình21,7526.708
Giao Hòa29,6241.717
Giao Hưng21,7427.985
Giao Minh27,7429.261
Giao Ninh25,8133.777
Giao Phúc19,4729.758
Giao Thủy23,5246.557
Hải An25,1926.920
Hải Anh26,1351.246
Hải Hậu23,8745.227
TênDiện tích
(km²)
Dân số
(người)
Hải Hưng39,8964.918
Hải Quang24,6825.798
Hải Thịnh32,9233.521
Hải Tiến24,1944.728
Hải Xuân31,2744.001
Hiển Khánh30,2429.965
Hồng Phong29,2128.215
Khánh Hội22,8923.641
Khánh Nhạc19,5825.612
Khánh Thiện24,5125.693
Khánh Trung26,4226.453
Kim Đông81,829.409
Kim Sơn17,6020.161
Lai Thành22,0728.718
Liêm Hà20,9527.732
Liên Minh31,0529.825
Lý Nhân18,3832.183
Minh Tân33,0929.965
Minh Thái23,4433.330
Nam Đồng23,4228.348
Nam Hồng28,8131.823
Nam Lý28,6937.887
Nam Minh24,7938.121
Nam Ninh25,8037.668
Nam Trực20,4739.822
Nam Xang22,7034.150
Nghĩa Hưng26,3138.631
Nghĩa Lâm28,1030.959
Nghĩa Sơn26,8328.669
Nhân Hà23,9824.535
Nho Quan32,6233.204
Ninh Cường22,2832.887
Ninh Giang23,6938.745
TênDiện tích
(km²)
Dân số
(người)
Phát Diệm23,1037.617
Phong Doanh34,9837.231
Phú Long74,7913.685
Phú Sơn41,1222.712
Quang Hưng15,8920.701
Quang Thiện20,7326.860
Quỹ Nhất32,7032.984
Quỳnh Lưu26,4918.035
Rạng Đông32,3930.956
Tân Minh44,6534.937
Tân Thanh36,3526.315
Thanh Bình23,8521.685
Thanh Lâm52,9129.550
Thanh Liêm23,2723.609
Thanh Sơn35,6923.758
Trần Thương26,3221.933
Trực Ninh17,2618.453
Vạn Thắng26,2235.807
Vĩnh Trụ17,5936.158
Vụ Bản21,5626.675
Vũ Dương30,5939.429
Xuân Giang32,0446.053
Xuân Hồng27,6140.698
Xuân Hưng23,1753.539
Xuân Trường33,2971.656
Ý Yên46,7353.419
Yên Cường32,4442.810
Yên Đồng30,5335.898
Yên Khánh29,8840.134
Yên Mạc20,6022.524
Yên Mô28,6035.415
Yên Từ23,9831.917

Số liệu trên cho thấy:

  • 10 đơn vị có diện tích lớn nhất là: xãCúc Phương, phườngTây Hoa Lư, xãKim Đông, xã Phú Long, phường Nam Hoa Lư, phường Hoa Lư, phường Lý Thường Kiệt, xã Thanh Lâm, xã Đồng Thái, xã Ý Yên. 10 đơn vị có diện tích nhỏ nhất là: phường Phủ Lý, phường Kim Thanh, phường Kim Bảng, phường Duy Hà, xã Quang Hưng, phường Thành Nam, xã Trực Ninh, phường Châu Sơn, xã Vĩnh Trụ, xã Kim Sơn.
  • 10 đơn vị có dân số lớn nhất là: phườngNam Định, phườngHoa Lư, xã Xuân Trường, phường Trường Thi, xã Hải Hưng, phường Phủ Lý, xã Xuân Hưng, phường Nam Hoa Lư, xã Ý Yên, xã Hải Anh. 10 đơn vị có dân số nhỏ nhất là: xã Cúc Phương, xã Kim Đông, xã Gia Phong, xã Phú Long, xã Chất Bình, xã Quỳnh Lưu, phường Tam Chúc, xã Trực Ninh, xã Gia Tường, xã Kim Sơn.

Kinh tế

[sửa |sửa mã nguồn]

Theo dữ liệuSáp nhập tỉnh, thành Việt Nam 2025, Ninh Bình có diện tích là 3.943 km² (xếp thứ 31); dân số là 4.412.264 người (xếp thứ 6);GRDP năm 2024 đạt 310.282.050 triệuVNĐ (xếp thứ 11); thu ngân sách năm 2024 đạt 55.018.945 triệu VNĐ (xếp thứ 6); thu nhập bình quân đạt 69,91 triệu VNĐ/năm (xếp thứ 7).[10]

Cổng vào khu công nghiệp Đồng Văn

Ninh Bình có vị trí quan trọng của vùng cửa ngõ miền Bắc và thủ đô Hà Nội. Đây là nơi tiếp nối giao lưu kinh tế và văn hoá giữa khu vực châu thổsông Hồng với Bắc Trung Bộ, giữa vùngđồng bằng Bắc Bộ với vùng rừng núi Tây Bắc. Thế mạnh kinh tế nổi bật của Ninh Bình là du lịch, thương mại và các ngành công nghiệp ô tô, dày da, cơ khí, vật liệu xây dựng, dệt may và công nghệ cao.

Ninh Bình là địa phương có nhiều doanh nghiệp tư nhân lớn như: Công ty Cổ phần Ô tô Hyundai Thành Công, Công ty cổ phần dược phẩm Nam Hà, Công ty cổ phần may sông Hồng, Công ty cổ phần nhựa châu Âu, Tập đoàn The Vissai, Doanh nghiệp Xuân Trường, Tập đoàn Xuân Thành,...

Trước khi hợp nhất, Hà Nam nổi lên với công nghiệp chế biến, chế tạo; Ninh Bình phát triển mạnh về du lịch – dịch vụ; còn Nam Định có thế mạnh về công nghiệp nhẹ và đào tạo nhân lực.[11]

9 tháng đầu năm 2025, Tốc độ tăng trưởng GRDP của tỉnh Ninh Bình đạt 10,45%, đứng thứ 3/34 tỉnh, thành phố. Quy mô kinh tế theo giá hiện hành đạt 248.056 tỷ đồng; cơ cấu kinh tế công nghiệp -xây dựng chiếm 46,52%, dịch vụ 34,47%, nông-lâm-thủy sản 11,08%.[12]

Công nghiệp

[sửa |sửa mã nguồn]
Cảng Ninh Phúc ở khu CN Khánh Phú

Theo Quy hoạch phát triển Khu kinh tế và các Khu công nghiệp được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, toàn tỉnh Ninh Bình có 53 KCN, với tổng diện tích 12.929ha và 1 Khu kinh tế ven biển có diện tích 13.950ha đang đề nghị mở rộng lên 80.318 ha.[13] Đến tháng 9/2025, Ninh Bình có 32 Khu công nghiệp vàkhu kinh tế Ninh Cơ đã được thành lập, tiêu biểu như các khu công nghiệp: Hòa Mạc, Đồng Văn 1, Đồng Văn 2, Đồng Văn 3, Đồng Văn 4, Thái Hà, Thanh Liêm, Châu Sơn, Mỹ Thuận, Bảo Minh, Hòa Xá, Mỹ Trung, Dệt may Rạng Đông, Xuân Kiên,Gián Khẩu,Gián Khẩu 2, Khánh Phú,Tam Điệp 1,Tam Điệp 2, Phúc Sơn, Khánh Cư, Kim Sơn, Phú Long, Xích Thổ, Yên Bình.

Nông nghiệp

[sửa |sửa mã nguồn]
Khu dự trữ sinh quyển thế giới châu thổ sông Hồng

Ninh Bình có lợi thế phát triển ngành nông nghiệp đa dạng nhiều thành phần. Các vùng chuyên canh nông nghiệp chính của tỉnh: vùng nông trường Đồng Giao chuyên trồng cây công nghiệp như cây dứa thơm, Vùng trồng bưởi tại phường Duy Tân, xã Bình Lục; cây vải lai U trứng tại phường Nguyễn Úy; cây ổi Đài Loan tại xã Thanh Bình. Vùng Bình Minh,Kim Đông trồng cây cói làm chiếu, hàng mỹ nghệ, nuôi tôm sú, hải sản, khu vực làng hoa Ninh Phúc, Ninh Sơn trồng hoa và rau sạch; gạo sạch, ngao sạch, muối sạch, nấm, cá bống bớp, mật ong vườn quốc gia Xuân Thủy, các sản phẩm chế biến từ thủy sản của các vùng Hải Hậụ, Giao Thủy, Nghĩa Hưng.

Khu vực nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy sản sẽ khai thác tối đa 92 km bờ biển và 5 cửa sông lớn ra biển gồm: Cửa Ba Lạt, cửa Hà Lạn, cửa Lạch Giang, cửa Đáy và cửa Càn. Theo đó tỉnh xác định phân vùng cho nuôi trồng thủy sản ở tất cả các xã thuộc vùng bờ có biển; phân vùng khai thác và đánh bắt hải sản ở tất cả các xã thuộc vùng bờ, ngoại trừ khu vực Vườn quốc gia Xuân Thủy; xây dựng cảng thủy sản tại khu vực Thịnh Long; cảng cá Ninh Cơ, cảng Kim Sơn.

Thương mại - Dịch vụ

[sửa |sửa mã nguồn]
Bệnh viện đa khoa 700 giường Ninh Bình

Ninh Bình có vị trí hội tụ giao thông liên vùng rất thuận lợi cho phát triển lưu thông hàng hóa với các địa phương khác trong cả nước, có tiềm năng mạnh phát triển thương mại - dịch vụ, trọng tâm là du lịch và logistics.

Giáo dục và Đào tạo

[sửa |sửa mã nguồn]

Vùng đất Ninh Bình nổi tiếng là vùng đất học, từ khi có các kết quả thống kê đến nay, các tỉnh hợp nhất thành Ninh Bình liên tục nằm trong top 5 địa phương dẫn đầu về kết quả thi THPT quốc gia.[14]

Tỉnh Ninh Bình hiện có khoảng 108 trường trung học phổ thông các loại hình, bao gồm 3 trường THPT chuyên cấp tỉnh (xemDanh sách trường trung học phổ thông tại Ninh Bình).

Khu Đại học Nam Cao có diện tích khoảng 9,12 km², là khu đào tạo đại học lớn thứ 2 ở Việt Nam với quy mô đào tạo từ 50.000 - 80.000 sinh viên gồm tổ hợp các cơ sở giáo dục đại học đa ngành, đa lĩnh vực, cơ sở giáo dục, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, là một bộ phận của mạng lưới trường đại học, cao đẳng, là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao của vùngđồng bằng sông Hồng.[15] Khu Đại học Nam Cao góp phần điều chỉnh mạng lưới trường đại học cho vùng Thủ đô Hà Nội và việc di dời một số trường đại học như:Trường Đại học Xây dựng Hà Nội,Đại học Kinh tế Quốc dân,Học viện Ngân hàng (Việt Nam),Trường Đại học Giao thông Vận tải,... ra khỏi trung tâm thành phố.

Đại học Sư phạm Hà Nội - cơ sở Ninh Bình

Đào tạo đại học trên địa bàn có:Trường Đại học Hoa Lư,Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định,Trường Đại học Lương Thế Vinh,Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định,Trường Đại học Hà Hoa Tiên; Cơ sở của các trường:Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội,Trường Đại học Thương mại,Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và 13 trường cao đẳng:Trường Cao đẳng nghề Cơ giới Ninh Bình;Trường Cao đẳng nghề LILAMA-1;Trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình; Trường Cao đẳng Nghề số 13 vàTrường Cao đẳng nghề Cơ điện Xây dựng Tam Điệp,Trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định,Trường Cao đẳng Phát thanh - Truyền hình I, Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Nam Định, Trường Cao đẳng Thủy lợi Bắc Bộ, Trường Cao đẳng Xây dựng Nam Định, Trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghệ Nam Định, Trường Cao đẳng Công nghiệp Dệt – May Nam Định, Trường Cao đẳng nghề Hà Nam.

Văn hóa

[sửa |sửa mã nguồn]

Ninh Bình nằm ở vùng giao thoa giữa các khu vực:Tây Bắc,đồng bằng sông HồngBắc Trung Bộ. Đặc điểm đó đã tạo ra một nền văn hóa Ninh Bình tương đối năng động, phát triển trên nền tảng văn minhchâu thổ sông Hồng. Đây là vùng đất phù sa cổ ven chân núi có con người cư trú từ rất sớm, họ là chủ nhân của các nềnVăn hóa Tràng An, Hòa Bình, Đồng Đậu, Bắc Sơn, Đa Bút và Đông Sơn.

Vùng đất Ninh Bình làkinh đô củaViệt Nam thế kỷ X, mảnh đất gắn với sự nghiệp của 6 vị vua thuộc ba triều đại Đinh - Lê – Lý với các dấu ấnlịch sử: Thống nhất giang sơn, đánh Tống - dẹp Chiêm và phát tích quá trình định đôHà Nội. Đây cũng là quê hương phát tích 4 triều đạiĐinh - - -Trần hưng thịnh bậc nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam với kỷ nguyên độc lập lâu dài.

Do ở vào vị trí chiến lược ra Bắc vào Nam, vùng đất này đã chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử oai hùng của dân tộc mà dấu tích lịch sử còn để lại trong các đình, chùa, đền, miếu, từng ngọn núi, con sông. Đây còn là vùng đất chiến lược để bảo vệThăng Long của các triều đại nhà Trần vớihành cung Vũ Lâm,hành cung Thiên Trường, làm lên chiến thắng giặc Nguyên - Mông, kinh đô Mô Độ nhà Hậu Trần vàphòng tuyến Tam Điệp làm bàn đạp tiến ra giải phóng Thăng Long củaTây Sơn, các căn cứ quân sự khác như thành nhà Mạc, thành nhà Hồ hiện vẫn còn dấu tích ở Yên Mô...

Cố đô Hoa Lư, kinh đô 3 triều đại 6 vị vua

Thế kỷ 16 - 17, đạo Công giáo được truyền vào Việt Nam với địa điểm dừng chân đầu tiên tại Ninh Bình, dần dần hình thành trung tâm Công giáoBùi Chu -Phát Diệm, vì thế mà nơi đây dày đặc các nhà thờ công giáo nổi tiếng như:Nhà thờ chính tòa Phát Diệm,Nhà thờ chính tòa Bùi Chu,Vương cung thánh đường Sở Kiện,Đan viện Thánh Mẫu Châu Sơn,...

Bên cạnh văn hoá của cư dân Việt cổ, Ninh Bình còn có "văn hoá mới" của cư dân ven biển. Dấu ấn về biển tiến còn in đậm trên đất Ninh Bình. Những địa danh cửa biển như: Phúc Thành, Đại An, Con Mèo, cửa Càn,cửa biển Thần Phù cùng với các con đê lịch sử nhưđê Hồng Đức, đê Hồng Lĩnh, đê Đường Quan, đê Hồng Ân, đê Hoành Trực, đê Văn Hải, đê Bình Minh, đê Cồn Tròn... Cho đến nay vùng cửa Đáy ở Ninh Bình vẫn tiến ra biển mỗi năm gần 100 m. Ninh Bình là một tỉnh mở rộng không gian văn hoá Việt xuống biển Đông, đón nhận các luồng dân cư, các yếu tố văn hoá từ Bắc vào Nam, từ biển vào. Kinh tế biển đóng vai trò quan trọng nổi bật như nghề đánh bắt cá biển, nuôi tôm sú, tôm rảo, nuôi cua... Nếp sống của cư dân lấn biển mang tính chất động trong vùng văn hoá môi trường đất mở.

Dãy núi đá vôi ngập nước tạo ra nhiều hang động kỳ thú như:Tam Cốc - Bích Động,động Vân Trình, động Tiên,động Thiên Hà,Tràng An, động Mã Tiên, Ngũ Động Thi sơn...Bích Động được mệnh danh là "Nam thiên đệ nhị động", Địch Lộng là "Nam thiên đệ tam động". Ở phường Hoa Lư có một núi giống hình một người thiếu nữ nằm ngửa nhìn trời gọi lànúi Ngọc Mỹ Nhân. Một yếu tố khác vô cùng quan trọng, góp phần không nhỏ làm nên diện mạo đa dạng, phong phú của văn hoá Ninh Bình, đó là sự lưu lại dấu ấn văn hoá của các tao nhân mặc khách khi qua vùng sơn thanh thủy tú này. Các đế vương, công hầu, khanh tướng, danh nhân văn hoá lớn nhưTrương Hán Siêu,Trần Thái Tông,Lê Thánh Tông,Nguyễn Trãi,Hồ Xuân Hương,Tản Đà,Xuân Quỳnh về đây, xếp gương, đề bút, sông núi hoá thành thi ca. Nhân cách bác học và phẩm cách văn hoá lớn của các danh nhân đó đã thấm đẫm vào tầng văn hoá địa phương, được nhân dân tiếp thụ, sáng tạo, làm giàu thêm sắc thái văn hoá Ninh Bình.

Hệ thống các di tích lịch sử - văn hóa ở Ninh Bình gắn liền với tín ngưỡng của vùng đất sinh Vua, sinh Thánh, sinh Thần thông qua rất nhiều các di tích thờ Vua (đặc biệt là các VuaĐinh Tiên Hoàng,Lê Đại Hành,Trần Thái Tông, Quang Trung và Triệu Quang Phục; thờ Thánh (Trần Hưng Đạo,Nguyễn Minh Không và các tổ nghề, đặc biệt nơi đây là trung tâm của tín ngưỡng thờ mẫu Việt Nam, nơi phát tích các nhân vật huyền thoại nhưLiễu Hạnh Công chúa,Cô Đôi Thượng Ngàn; thờ Thần (phổ biến là các vị thần Thiên Tôn, thần Cao Sơn và thần Quý Minh trong không gian văn hóaHoa Lư tứ trấn).

Ninh Bình là vùng đất phong phú các lễ hội văn hóa đặc sắc nhưLễ hội Hoa Lư,lễ hội Tịch điền Đọi Sơn, lễ hội đền Trần, lễ hội Phủ Giày, lễ hội chùa Bái Đính, chùa Tam Chúc,lễ hội đền Thái Vi,lễ hội Tràng An, lễ hộiđộng Hoa Lư, lễ hộiđền Thánh Nguyễn,lễ hội đền Nguyễn Công Trứ... Ninh Bình là đất tổ của nghệ thuật hát Chèo, là quê hương các làn điệu hát xẩm, hát văn, ca trù, dân ca Hà Nam. Ninh Bình nhiều làng nghề truyền thống tiêu biểu như nghề điêu khắc đá Ninh Vân, đúc đồng Tống Xá, nghề thêu ren Văn Lâm, cây cảnh Vị Khê, làng trống Đọi Tam, chạm khắc gỗ La Xuyên, dệt lụa Nha Xá, sơn mài Cát Đằng, nghề nấu rượu và chiếu cói ởKim Sơn...

Đặc sản ẩm thực

[sửa |sửa mã nguồn]
Bài chi tiết:Ẩm thực Ninh Bình

Các đặc sản, ẩm thực tiêu biểu của Ninh Bình như: đặc sản thịtdê núi Ninh Bình,phở bò Giao Cù,dứa Đồng Giao, chuối ngự Đại Hoàng, bánh xíu páo, cá kho quả gáo, cá kho Vũ Đại, bánh đa nướng Phong An, chè Ba Trại, kẹo Sìu Châu, mắm tép Gia Viễn, bún mọc Kim Sơn, rượu cần Nho Quan,rượu Kim Sơn, khoai lang Hoàng Long, trám Kỳ Phú, bánh gai Bà Thi, bánh đa Kiện Khê, bún tươi Yên Thịnh, nếp hương gạo tám Hải Hậu, nem Yên Mạc, nem nắm Giao Thủy, gà ri đồi Nho Quan, gỏi nhệch Kim Sơn, mứt khoai mật mía làng Phượng, giò trứng Nộn Khê, miến lươn Ninh Bình, mía Kỳ Phú, chạo chân giò Kim Sơn, cá chuối đầm Vân Long, ốc núi, xôi trứng kiến Nho Quan,cơm cháy Ninh Bình, bánh dày bản Mường Kỳ Phú, cá lác đen Kim Sơn, mì bún khô Yên Ninh,cá rô Tổng Trường, cá cửng -cá tràu tiến vua, cá đối Tam Chúc, mắm cáy Kim Sơn.

Danh nhân

[sửa |sửa mã nguồn]

Vùng đất Ninh Bình là quê hương phát tích của 4 triều đại Đinh - Lê - Lý - Trần, nơi có những vị hoàng đế tiêu biểu như:Đinh Bộ Lĩnh,Lê Hoàn,Trần Nhân Tông; các vị tướng tài như:Trần Hưng Đạo,Nguyễn Bặc,Đinh Điền,Lưu Cơ,Trịnh Tú,Bạch Đa,Cao Các,Đinh Nga,Nguyễn Tấn,Trần Bình Trọng,...

Nơi đây được xem là vùng đất học với nhiều trạng nguyên và danh nhân văn hóa nổi tiếng như:Trương Hán Siêu,Lương Thế Vinh,Vũ Duy Thanh,Đào Sư Tích,Nguyễn Hiền,Ninh Tốn,Văn Cao,Nam Cao,Nguyễn Khuyến,Trương Công Giai,Đào Văn Tập,Trần Quốc Vượng,Đinh Gia Khánh,Nguyễn Tử Mẫn,Phạm Thận Duật,Vũ Phạm Khải,Lê Tung,...

Vùng đất này còn gắn bó với những nhân vật huyền thoại trong văn hóa Việt Nam như:Liễu Hạnh Công chúa,Cô Đôi Thượng Ngàn,Thần Thiên Tôn,Thần Cao Sơn,Lý Quốc Sư,Dương Không Lộ,...

Ninh Bình là quê hương Tổng bí thưTrường Chinh, Chủ tịch nướcTrần Đại Quang, Chủ tịch quốc hộiNguyễn Văn An, Bí thư xứ ủy Bắc KỳLương Khánh Thiện, Bí thư xứ ủy Nam KỳTạ Uyên... của những chính trị gia tiêu biểu khác như:Ngô Xuân Lịch,Đinh Tiến Dũng,Đinh Thế Huynh,Phạm Bình Minh,Nguyễn Cơ Thạch,Bùi Thị Minh Hoài,Lê Đức Thọ,Mai Chí Thọ,Phan Văn Giang...

Thể thao

[sửa |sửa mã nguồn]
Sân vận động Thiên Trường ngày 17 tháng 8 năm 2019

Ninh Bình hiện cóCâu lạc bộ bóng đá Thép Xanh Nam Định là đương kim vô địch thi đấu tại giải vô địch quốc gia với sân nhà làSân vận động Thiên Trường,Câu lạc bộ bóng đá Phù Đổng Ninh Bình vừa vô địch giải hạng nhất sẽ thăng hạng thi đấu tạiSân vận động Ninh Bình.Câu lạc bộ bóng đá nữ Phong Phú Hà Nam thi đấu tại sân vận động Hà Nam, có 3 lần giành ngôi Á quân giải vô địch Quốc gia và 3 lần giành chức vô địch giải U19 Quốc gia.[16]

Từ năm 2005 tỉnh có một độibóng chuyền hạng mạnh làTràng An Ninh Bình, hiện là Ninh Bình LP Bank, một đội bóng mạnh trong hệ thống thi đấu bóng chuyền Việt Nam, đoạt danh hiệu vô địch quốc gia các năm 2006, 2010, 2012 và đang là đương kim vô địch năm 2021. Cũng năm 2021, Ninh Bình có thêmCâu lạc bộ bóng chuyền nữ Ninh Bình LP Bank là đội bóng chuyền nữ thi đấu ởGiải vô địch bóng chuyền quốc gia Việt Nam có 2 năm liền 2021 và 2022 đều xếp hạng 4, năm 2023 giành chức vô địch và năm 2024 xếp hạng 3.

Các môn thể thao thế mạnh khác của Ninh Bình là vật, võ, bơi lặn, cầu lông, Jujitsu, điền kinh, quần vợt và bóng bàn. Một số vận động viên thể thao Ninh Bình tiêu biểu như Giang Việt Anh, Lê Hồng Phúc, Phạm Minh Đức, Hà Văn Hiếu, Bích Tuyền, Nguyễn Huỳnh Anh Phi, Nguyễn Thị Huyền, Bùi Thị Ngân, Nguyễn Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Thảo, Trần Ánh Tuyết, Nguyễn Hữu Toàn, Nguyễn Thị Tuyết Dung, Vũ Thị Ngọc Hà,...

Du lịch

[sửa |sửa mã nguồn]
Kiến trúc đá đặc trưng ởnhà thờ Phát Diệm

Quy hoạch du lịch Việt Nam đến năm 2030 xác định Ninh Bình là một trung tâm du lịch với 3 khu du lịch quốc gia làquần thể di sản thế giới Tràng An,Khu du lịch Kênh Gà – Vân Trình,Khu du lịch Tam Chúc và 2 trọng điểm du lịchvườn quốc gia Cúc Phươngkhu bảo tồn thiên nhiên Vân Long.

Bài chi tiết:Du lịch Ninh Bình

Ninh Bình có tiềm năng du lịch rất lớn, là nơi có tới 4 danh hiệu UNESCO trao choquần thể di sản thế giới Tràng An, các di sản ca trù, tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ vàKhu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng. Tỉnh có 10 di tích quốc gia đặc biệt gồm:Cố đô Hoa Lư,Đền TrầnChùa Phổ Minh, Quần thểTràng AnTam Cốc – Bích Động,Chùa Đọi Sơn,Chùa Keo Hành Thiện,Đền Trần Thương,Đền Xám,Tam Chúc,chùa Cổ LễNúi Non Nước.

Nơi đây sở hữu nhiều danh lam, thắng cảnh và di tích lịch sử văn hoá nổi tiếng như:

Giao thông

[sửa |sửa mã nguồn]

Đường bộ

[sửa |sửa mã nguồn]
Cầu Bông Lau quasông Vân ở trung tâm tỉnh Ninh Bình

Ninh Bình có nhiều cầu với quy mô lớn qua sông như:cầu Ninh Bình,cầu Non Nước,cầu Gián Khẩu, cầu Bến Mới,cầu Nam Bình,cầu Trường Yên,cầu Thiên Trường, cầu vượt biển raCồn Nổi,Cầu Đò Quan,Cầu Tân Đệ,Cầu Tân Phong,Cầu Thịnh Long,Cầu Châu Giang,Cầu Đoan Vĩ,Cầu Hưng Hà,Cầu Thái Hà.

Đường cao tốc

[sửa |sửa mã nguồn]

Ninh Bình cũng là địa bàn có 5 đường cao tốc là:

Đường sắt

[sửa |sửa mã nguồn]

Về giao thông đường sắt Ninh Bình có trục đô thị Phủ Lý - Nam Định - Hoa Lư - Tam Điệp nằm trên tuyếnđường sắt Bắc-Nam với tổng số chiều dài hơn 90 km. Trên địa bàn tỉnh có 13 ga gồm:Đồng Văn,Phủ Lý,Bình Lục,Cầu Họ,Đặng Xá,Nam Định,Trình Xuyên,Núi Gôi,Cát Đằng,Ninh Bình,Cầu Yên,Ghềnh,Đồng Giao.

Đường thủy, đường biển

[sửa |sửa mã nguồn]

Theo Thông tư 15/2016/TT-BGTVT về quy định quản lý đường thủy thì trên địa bàn tỉnh có những tuyến đường thủy cấp quốc gia sau đây:

  • sông Đáy là sông dài nhất chảy xuyên qua tỉnh với chiều dài 140 km
  • sông Hồng chảy giữa ranh giới với tỉnh Hưng Yên, đoạn qua tỉnh dài 100 km
  • sông Hoàng Long đoạn từ Cầu Nho Quan - Ngã ba Gián Khẩu dài 28 km
  • sông Đào chảy từ Ngã ba Hưng Long tới Ngã ba Độc Bộ dài 33,5 km
  • sông Ninh Cơ từ Ngã ba Mom Rô tới Chân cầu Châu Thịnh dài 47 km
  • sông Vạc nối Ngã ba sông Vân - Ngã ba Kim Đài dài 28,5 km
  • kênh Yên Mô nối Ngã ba Đức Hậu - Ngã ba Chính Đại dài 14 km
  • sông Châu Giang nối từ Âu thuyền Phủ Lý - Âu thuyền Tắc Giang dài 27 km
  • kênh Quần Liêu nối sông Đáy - sông Ninh Cơ dài 3,5 km.

Ninh Bình cócảng Ninh Phúccửa Khẩu quốc tế đường biển, là cảng sông đầu mối quốc gia. Các cảng khác như cảng Ninh Bình,cảng Ninh Phúc,cảng Cầu Yên, cảng Nam Định, cảng Nghĩa An, cảng Nam Trực, cảng Nghĩa Hưng, cảng Hoàng Vinh, cảng Thái Hà, cảng Gián Khẩu. Cảng K3 (nhà máy nhiệt điện Ninh Bình) cũng đã được nâng cấp là cảng chuyên dụng. Cảng sông Ninh Bình có thể đạt công suất 30 triệu tấn/năm, là khu vực giàu tiềm năng ở miền Bắc. Cảng Ninh Bình - Ninh Phúc, Cảng xăng dầu dầu khí Ninh Bình, cảng Long Sơn, Cảng đạm Ninh Bình, Cảng Vissai, cảng Phúc Lộc, cảng tổng hợpKim Sơn là những cảng tiếp nhận tàu biển và phương tiện thủy quốc tế[17]... Hệ thống đường thủy với tổngchiều dài gần 950 km.

Hệ thốngCảng biển Ninh Bình đã được xây dựng phục vụ phát triển kinh tế của tỉnh và khu vực. Cảng Hải Thịnh là cảng tổng hợp loại II, gồm khu bến Hải Thịnh và bến cảng chuyên dụng cho nhà máy nhiệt điện Nam Định với năng lực hàng hóa thông qua năm 2030 đạt khoảng 6,25 triệu tấn/năm. Ngoài ra Cảng Đua Fat Kim Sơn, cảng Cồn Nổi cũng được triển khai xây dựng.

17 cảng cạn trên cả nước Việt Nam thì Ninh Bình có 2 cảng là: Cảng cạn Tân cảng Hà Nam và Cảng cạn (ICD) Phúc Lộc - Ninh Bình.[18]

Tỉnh kết nghĩa

[sửa |sửa mã nguồn]

Xem thêm

[sửa |sửa mã nguồn]

Chú thích

[sửa |sửa mã nguồn]
  1. ^abc"Nghị quyết số 202/2025/QH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh".Cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam. ngày 12 tháng 6 năm 2025.Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2025.
  2. ^"Quyết định số 19/2025/QĐ-TTg về việc ban hành Bảng danh mục và mã số các đơn vị hành chính Việt Nam"(PDF).Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. ngày 30 tháng 6 năm 2025.Bản gốc(PDF) lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2025.
  3. ^"Du lịch Ninh Bình".Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2021.
  4. ^Kiên định mục tiêu tăng trưởng “2 con số", phấn đấu đưa Ninh Bình phát triển nhanh, bền vững, xứng đáng với niềm tin của Đảng, kỳ vọng của Nhân dân
  5. ^Quản lý hiệu quả nguồn tài nguyên khoáng sản
  6. ^Trống đồng Ngọc Lũ
  7. ^Tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 200 năm Danh xưng Ninh Bình và 30 năm tái lập tỉnh
  8. ^Nghị quyết của Quốc hội về sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Ninh Bình năm 2025
  9. ^Căn cứ vào Đề án số 339/ĐA-CP của Chính phủ ngày 09 tháng 5 năm 2025 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Ninh Bình (mới) năm 2025
  10. ^"Danh sách dự kiến tên gọi của 34 tỉnh, thành phố và trung tâm chính trị - hành chính".vtv.vn. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2025.
  11. ^Hợp nhất Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định – Cơ hội bứt phá toàn diện
  12. ^UBND tỉnh họp phiên thường kỳ tháng 9: Tốc độ tăng trưởng GRDP của tỉnh đứng thứ 3/34 tỉnh, thành phố
  13. ^Tỉnh Ninh Bình (mới) có bao nhiêu khu công nghiệp, khu kinh tế nào là hạt nhân sau sáp nhập Nam Định, Hà Nam?
  14. ^
    • Năm 2016: Nam Định, Hải Dương, Bắc Ninh, Ninh Bình và Hà Nam.Năm 2017: Nam Định, An Giang, Ninh Bình, Hà Nam và TP HCM.Năm 2018: Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Vĩnh Phúc và An Giang.Năm 2019: Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Bình Dương, Tp HCM.Năm 2020: Nam Định, Bình Dương, Ninh Bình, An Giang, Vĩnh Phúc.Năm 2022: Nam Định, Vĩnh Phúc, Bình Dương, Ninh Bình.Năm 2023: Vĩnh Phúc, Bình Dương, Nam Định, Ninh Bình.Năm 2024: Vĩnh Phúc, Ninh Bình, Nam Định; Bình Dương, Bắc Ninh.
  15. ^Khu đại học rộng thứ 2 Việt Nam đang xây dựng, tổng mức đầu tư 19.000 tỷ, đủ chỗ cho 80.000 sinh viên
  16. ^"Phong Phú Hà Nam: Niềm tự hào về người con gái". doisong.vn.Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2016.
  17. ^"DANH SÁCH CẢNG THỦY NỘI ĐỊA TIẾP NHẬN TẦU BIỂN VIỆT NAM VÀ PHƯƠNG TIỆN THỦY NƯỚC NGOÀI".Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2018.
  18. ^Công bố danh mục 17 cảng cạn trên cả nước
  19. ^Ninh Bình và Cà Mau ký kết Bản ghi nhớ hợp tác

Liên kết ngoài

[sửa |sửa mã nguồn]
Wikimedia Commons có thêm hình ảnh và phương tiện vềNinh Bình.
Trung du và miền núi phía Bắc
Đồng bằng sông Hồng
Bắc Trung Bộ
Duyên hải Nam Trung Bộ
và Tây Nguyên
Đông Nam Bộ
Đồng bằng sông Cửu Long
Lấy từ “https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ninh_Bình&oldid=74742393
Thể loại:
Thể loại ẩn:

[8]ページ先頭

©2009-2026 Movatter.jp