Movatterモバイル変換


[0]ホーム

URL:


Bước tới nội dung
WikipediaBách khoa toàn thư mở
Tìm kiếm

Nicolaus Copernicus

Đây là một bài viết cơ bản. Nhấn vào đây để biết thêm thông tin.
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nicolaus Copernicus
Chân dung tạiToruń - 1580
Sinh(1473-02-19)19 tháng 2 năm 1473,
Thorn (nay làToruń),Hoàng gia Phổ,Vương quốc Ba Lan
Mất24 tháng 5 năm 1543(1543-05-24) (70 tuổi),
Frombork (Frauenburg),Warmia, Vương quốc Ba Lan
Trường lớpĐại học Kraków,Đại học Bologna,Đại học Padova,Đại học Ferrara
Nổi tiếng vìThuyết nhật tâm
Sự nghiệp khoa học
NgànhToán học,thiên văn học,giáo luật,Y học,kinh tế học
Chữ ký
Là một phần trong loạt bài về
Vũ trụ học vật lý
"Copernicus" đổi hướng tới đây. Đối với các định nghĩa khác, xemCopernicus (định hướng).

Nicolaus Copernicus (theotiếng Latinh;tiếng Ba Lan:Mikołaj Kopernik,tiếng Đức:Nikolaus Kopernikus, thường được phiên âm trongtiếng ViệtCô-péc-ních theo tiếng PhápNicolas Copernic) (19 tháng 2,1473 –24 tháng 5,1543) là mộtnhà thiên văn học đã nêu ra hình thức hiện đại đầu tiên củathuyết nhật tâm (Mặt Trời ở trung tâm) trong cuốn sách mang tính mở đầu một kỷ nguyên của ông, cuốnVề sự chuyển động quay của các thiên thể (De revolutionibus orbium coelestium). Copernicus sinh năm 1473 tại thành phốToruń, ởHoàng gia Phổ, một tỉnh tự trị củaVương quốc Ba Lan (1385–1569). Ông học tập ởBa LanÝ, và dành phần lớn cuộc đời làm việc ởFrombork,Hoàng gia Phổ, nơi ông mất năm1543.

Copernik là một trong những học giả có hiểu biết về nhiều phương diện ở thời đại ông sống. Ông là mộtnhà toán học,thiên văn học,luật gia,học giả kinh điển,nhà cai trị,viên chức hành chính,nhà ngoại giao,nhà kinh tế, vàngười lính. Trong số những khả năng của mình, ông đã lựa chọn thiên văn học làm nghề nghiệp chính, sự phát triển thuyết nhật tâm của ông được coi làgiả thuyết khoa học quan trọng nhất trong lịch sử, đánh dấu bước chuyển sangthiên văn học hiện đại.[cần dẫn nguồn]

Tiểu sử

[sửa |sửa mã nguồn]
Toà thị chínhToruń

Kopernik sinh năm 1473. Khi lên mười, cha ông, một nhà buônđồng giàu có và là một công dân được kính trọng ởToruń, qua đời. Mẹ ông, Barbara Watzenrode, có lẽ đã chết trước cha ông và ít được biết tới. Người cậu đằng mẹ của Kopernik làŁukasz Watzenrode, mộtgiáo sĩ và sau này làGiám mục ủy viênĐịa hạt Giám mục Warmia, nuôi dạy ông và ba anh chị em ruột sau khi cha mẹ họ qua đời. Địa vị của ông chú đã giúp Kopernik có một nghề nghiệp trong nhà thờ, cho phép ông dành thời gian để nghiên cứu thiên văn. Kopernik có một người anh và hai chị em gái:

  • Andrzej trở thành giáo sĩ ở Frombork
  • Barbara trở thành một tu sỹdòng thánh Benedict
  • Katarzyna cưới một nhà buôn và là ủy viên hội đồng thành phố, Bartłomieja Gertnera

Năm1491, Kopernik vàoHọc viện Kraków (hiện là Trường đại học Jagiellonian) có thể ông đã làm quen vớithiên văn học lần đầu tiên ở đây, và đượcWojciech Brudzewski dạy dỗ. Mônkhoa học này nhanh chóng cuốn hút ông, như được ghi lại trong những cuốn sách của ông mà sau này những người Thụy Điển đã chiếm lấy làm chiến lợi phẩm vào thời kì"Potop" ("đại nạn Ba Lan") và mang vềthư viện trườngđại học Uppsala). Sau bốn năm ở Kraków, và một giai đoạn ngắn ở nhà tại Toruń, ông đếnÝ, nơi ông họcluậty học tại các trường đại học ởBolognaPadua. Ông chú Giám mục tài trợ chi phí cho việc học tập của ông và hy vọng ông cũng sẽ trở thành mộtGiám mục. Tuy nhiên, khi đang họcluật giáo sĩluật dân sự tạiFerrara, Kopernik đã gặpnhà thiên văn học nổi tiếngDomenico Maria Novara da Ferrara. Kopernik tham dự các buổi thuyết trình của ông và trở thành học trò và người trợ tá của ông. Những quan sát đầu tiên của Copernicus được tiến hành năm1497, cùng với Novara, chúng được ghi lại trong cuốn sách kinh điển của ôngVề chuyển động quay của các thiên thể (De revolutionibus orbium coelestium).

Tượng Kopernik ngồi, củaBertel Thorvaldsen, đặt trướcViện hàn lâm khoa học Ba Lan tạiWarszawa

Năm1497 chú của Kopernik được phong chức Giám mục Warmia, và Kopernik được bổ nhiệm làm giáo sĩ ởnhà thờ Frombork, nhưng ông ở lại Ý để đợiLễ kỷ niệm vĩ đại (Roman Jubilee) vào năm1500. Kopernik đếnRoma, nơi ông đã quan sát thấy một hiện tượngnguyện thực và giảng một số bài về thiên văn học và toán học.

Vì vậy ông chỉ có thể tới thăm Frombork vào năm1501. Ngay khi vừa tới nơi, ông đã yêu cầu và nhận được giấy phép quay trở lại Ý để hoàn thành các nghiên cứu tại Padua (với Guarico và Fracastoro) và tại Ferrara (vớiGiovanni Bianchini), nơi ông nhận được bằng tiến sĩ luật giáo sĩ năm1503. Người ta cho rằng chính Padua là nơi ông đã gặp những đoạn văn củaCiceroPlato về quan niệm cổ đại về chuyển động của Trái Đất, và từ đó hình thành trực giác đầu tiên về lý thuyết của chính mình trong tương lai. Những lần quan sát và những ý tưởng thích hợp cho lý thuyết của ông đã bắt đầu năm1504.

Sau khi hoàn thành việc nghiên cứu, ông rời Ý đến sống và làm việc ở Frombork. Một khoảng thời gian trước khi quay trở lại Warmia, ông đã nhận được một vị trí ở Học viện Nhà thờ của Hội Thánh Linh (Holy Cross) ởWrocław,Silesia, và ông đã từ chức này vài năm trước khi chết. Mặc dầu trong cả phần đời còn lại, ông đã thực hiện các quan sát và tính toán thiên văn nhưng chúng chỉ diễn ra trong giờ nghỉ và không được coi là nghề nghiệp của ông.

Kopernik đã làm việc nhiều năm vớiNghị việnPhổ về cải cách triều đình và xuất bản một số nghiên cứu về giá trịtiền tệ; với tư cách Thống đốc Warmia, ông tách thuế và thương mại ra khỏi tư pháp. Chính lần này (bắt đầu năm1519, năm sinh củaThomas Gresham là năm Kopernik tiến tới với một trong những sự lặp lại sớm nhất về lý thuyết được gọi làLuật Gresham. Trong những năm này, ông cũng phải đi lại nhiều để giải quyết các công việc hành chính vàngoại giao, choTổng Giám mục Warmia.

Năm1514 ông viếtCommentariolus — một bản viết tay ngắn nói về những ý tưởng của ông về những lý thuyết Nhật tâm - chỉ để trao đổi với những người bạn. Sau đó ông tiếp tục thu thập các bằng chứng cho một nghiên cứu chi tiết hơn. Trong thời gian chiến tranh giữaQuân kị sĩ Teutonic và Vương quốc Ba Lan (15191524) Kopernik đã bảo vệ thành côngOlsztyn với cương vị chỉ huy các lực lượng hoàng gia bị bao vây bởi các lực lượng củaAlbert xứ Brandenburg.

Nhà thiên văn học Copernicus, hay những cuộc đối thoại với Thượng đế, tranh vẽ củaJan Matejko

Năm1533Albert Widmannstadt thực hiện nhiều bài diễn giảng ở Roma, giới thiệu phác thảo lý thuyết của Kopernik. Những bài giảng này được nhiềuHồng y quan tâm, trong đó có cảGiáo hoàng Clement VII. Tới năm1536 lý thuyết của Kopernik đã hoàn thiện, và một số lời đồn đại về lý thuyết của ông đã đến tai những bậc trí thức trên toànChâu Âu. Kopernik nhận được nhiều lời mời xuất bản từ nhiều nơi trên lục địa này.

Trong một bức thư đề ngày Roma, 1 tháng 11, 1536, Hồng yNicola Schönberg xứCapua đã yêu cầu Kopernik thông báo thêm về các ý tưởng của ông và muốn có một bản dành riêng cho hồng y; "Vậy thì, người có học thức, không muốn trở nên lạc lõng, Tôi yêu cầu ông trình bày thật rõ ràng khám phá của mình cho thế giới trí thức, và gửi tôi trong thời gian ngắn nhất những lý thuyết của ông về Vũ trụ, cùng với những bảng biểu và những thông tin liên quan tới vấn đề này." Một số người cho rằng bức thư này có thể đã khiến Kopernik lợi dụng nó để xuất bản (tác phẩm của ông), trong khi một số người khác cho rằng bức thư này cho thấy Giáo Hội muốn đảm bảo rằng những ý tưởng của ông phải được xuất bản.

Dù nhiều người yêu cầu, Kopernik vẫn trì hoãn việc xuất bản cuốn sách của ông; lý do chính có thể vì những lời chỉ trích đối với việc đưa ra công khai tác phẩm mang tính cách mạng này. Về vấn đề này, các nhà sử học về khoa học như Lindberg và Numbers nói rằng: "Nếu Kopernik thực sự có lo ngại về việc xuất bản cuốn sách, thì chính những phản ứng của các nhà khoa học chứ không phải của giới giáo sĩ khiến ông lo lắng. Một giáo sĩ khác trước ông -Nicole Oresme (mộtGiám mục) ở thế kỷ 14 vàNicholas xứ Cusa (mộtHồng y) thế kỷ 15 - đã tranh luận một cách tự do về khả năng chuyển động của Trái Đất, và không có lý do để cho rằng việc ý tưởng này tái xuất hiện vào thế kỷ 16 có thể gây nên sự náo động tôn giáo."[1].

Vào năm1539, Kopernik vẫn đang hoàn thành kiệt tác của mình (kể cả nếu ông không tin chắc rằng mình muốn xuất bản nó) khiGeorg Joachim Rheticus, mộtnhà toán học vĩ đại ngườiWittenberg, tới Frombork.Philipp Melanchthon đã sắp xếp cho Rheticus tới thăm nhiều nhà thiên văn học và nghiên cứu cùng với họ. Rheticus đã trở thành một học trò của Kopernik và đã ở lại với ông nhiều năm, trong thời gian này ông viết một cuốn sách,Narratio prima, phác thảo các nét chính của lý thuyết. Năm1542, dưới tên Kopernik, Rheticus xuất bản một luận văn vềlượng giác học (sau này được thêm vào cuốn sách thứ hai cuốnVề các chuyển động (De revolutionibus)). Dưới áp lực mạnh mẽ của Rheticus, và thấy rằng thái độ đầu tiên của mọi người đối với tác phẩm của ông là khả quan, Kopernik cuối cùng đã đồng ý trao cuốn sách cho người bạn thân của ông làTiedemann Giese,Giám mục xứChełmno (Kulm), để chuyển cho Rheticus in ởNürnberg.

Truyền thuyết nói rằng bản in đầu tiên của cuốnVề những chuyển động đã được đặt vào tay Kopernik đúng vào ngày ông chết, vì vậy ông đã có thể vĩnh biệtopus vitae ("tác phẩm để đời") của ông. Có lẽ ông đã tỉnh lại sau khi bịđột quỵ-gây rahôn mê, nhìn vào cuốn sách và chết êm ái. Kopernik đượcchôn tại nhà thờ Frombork. Những nỗ lực tìm kiếm xương cốt ông của cácnhà khảo cổ học đã không mang lại thành công và mặc dù họ đã tìm thấy nhiều ngôi mộ đáng chú ý từ nhiều thời đại khác nhau. Ngày3 tháng 10 năm2005, các nhà khảo cổ học đã thông báo rằng vào tháng 8 họ đã tìm thấy xương sọ của Kopernik (xemPhần mộ dưới đây).

Hệ nhật tâm của Kopernik

[sửa |sửa mã nguồn]

Các lý thuyết có sớm hơn

[sửa |sửa mã nguồn]

Trước đó, đã có nhiều tài liệu viết về lý thuyếthệ nhật tâm.

Những dấu vết đầu tiên về một mô hình nhật tâm được tìm thấy trong nhiều bảnKinh Vệ Đà bằng tiếng Phạn được viết ởẤn Độ cổ trướcthế kỷ thứ 7 TCN: các cuốnVệ Đà,Aitareya BrahmanaShatapatha Brahmana. Bài luậnVishnu Purana bằngtiếng Phạnthế kỷ thứ 1 viết kỹ về nhiều khái niệm nhật tâm.

Philolaus (thế kỷ thứ 4 TCN) cũng có một trong những giả thuyết đầu tiên về chuyển động củaTrái Đất, có lẽ có cảm hứng từ các lý thuyết củaPythagoras về Trái Đất hình cầu.

Aristarchus xứ Samos vàothế kỷ thứ 3 TCN đã phát triển một số lý thuyếtHeraclides Ponticus (nói về chuyển động của Trái Đất trên trục của nó) từ đó cho thấy, đối với những gì từng được biết, nó là mô hình chính thức đầu tiên về một hệ nhật tâm. Tác phẩm của ông về hệ nhật tâm nay đã thất truyền, do đó người ta chỉ có thể đoán ông đã đi tới những kết luận đó như thế nào. Theo Plutarch, thì có lẽ việc đáng chú ý nhất là một người cùng thời với Aristarchus đã buộc tội ông là nghịch đạo khi "bắt Trái Đất quay".

AryabhataẤn Độ đã đi trước khám phá của Copernicus 1000 năm và đã thiết lập một mô hình nhật tâm mà trong đó Trái Đất quay quanh trục của nó và chu kỳ của Trái Đất và cáchành tinh được xác định theoMặt Trời đứng yên. Ông cũng là người đầu tiên phát hiện ra rằngánh sáng từMặt Trăng và các hành tinh khác là phản chiếu lại ánh sáng Mặt Trời, và rằng các hành tinh quay theo một quỹ đạo hìnhelíp quanh Mặt Trời.

Tác phẩm của những nhà thiên văn họcẢ Rậpthế kỷ thứ 14ibn al-Shatir cũng chứa đựng những khám phá tương tự của Kopernik, và người ta cho rằng Kopernik có thể đã bị ảnh hưởng từ đó.

Kopernik đã trích dẫn Aristarchus và Philolaus trong một bản chép tay đầu tiên của cuốn sách của ông hiện vẫn còn, cho rằng: "Philolaus tin vào sự chuyển động của Trái Đất, và một số người nói rằng Aristarchus xứ Samos ủng hộ ý kiến này." Vì một số lý do còn chưa biết, ông đã bỏ đoạn này trước khi xuất bản cuốn sách.

Ý tưởng đến với Kopernik không phải từ việc quan sát các hành tinh, mà từ đọc sách của hai tác giả đó. TrongCicero ông đã thấy trích dẫn lý thuyết củaHicetas.Plutarch cũng trích dẫn từPythagoras,Heraclides Ponticus,PhilolausEcphantes. Các tác giả đó đã đề xuất một Trái Đất chuyển động quanh một Mặt Trời ở trung tâm. Kopernik không coi ý tưởng của mình có nguồn gốc từAristarchus như đã được nói đến ở trên. Khi cuốn sách của Kopernik được xuất bản, nó có một lời nói đầu, được đưa lên mà không có ý kiến của ông, của nhà thần họcAndreas Osiander. Giáo sĩ này cho rằng Kopernik viết cuốn sách về nhật tâm cho rằng Trái Đất chuyển động chỉ là một giả thuyết toán học, chứ không phải cho rằng đó là khả năng hay thậm chí là sự thật. Điều này hiển nhiên được viết ra để làm dịu đi phản ứng tôn giáo chống lại cuốn sách, nhưng không có bằng chứng cho thấy Kopernik đã coi hình thức nhật tâm chỉ đơn giản thích hợp về mặt toán học, không liên quan tới thực tế. Các lý thuyết của Kopernik phủ nhận lời giải thích Mặt Trời quay quanh Trái Đất trongCựu Ước (Joshua 10:13).

Có tranh cãi rằng trong khi phát triển toán học về hệ nhật tâm, Kopernik đã sử dụng không chỉ toán học Hy Lạp mà cả toán học và thiên văn học truyền thốngHồi giáo, đặc biệt là các tác phẩm củaNasir al-Din Tusi,Mu'ayyad al-Din al-'Urdi và ibn al-Shatir.

Hệ Ptolemy

[sửa |sửa mã nguồn]

Lý thuyết thông dụng ởChâu Âu khi Kopernik đang hoàn thành tác phẩm của mình là lý thuyết doPtolemy viết ra trong cuốnAlmagest của ông, đã xuất hiện vào khoảng năm150.Hệ Ptolemy được hình thành từ nhiều lý thuyết coi Trái Đất là trung tâm đứng yên của vũ trụ. Cácngôi sao được gắn vào một mặt cầu bên ngoài và nó quay nhanh, ở mức độ tương đối với nhau, trong khi các hành tinh được đặt trên những mặt cầu nhỏ hơn và mỗi hành tinh có một mặt cầu riêng biệt. Để giải thích những điều kỳ lạ của quan điểm này, như chuyển độngthụt lùi quan sát thấy ở nhiều hành tinh, một hệ thống cácngoại luân (epicycles) được đem ra sử dụng, theo đó hành tinh quay trên một trục nhỏ trong khi vẫn quay trên một trục lớn xung quanh Trái Đất. Một số hành tinh bị ấn định là có những ngoại luân "chính" (nhờ thế có thể quan sát được chuyển động thụt lùi) và "phụ" (chỉ đơn giản quay một chiều).

Một lý thuyết phụ trợ của Ptolemy sử dụng các mặt cầu đồng tâm: các mặt cầu bên trong mặt cầu mà hành tinh đang quay, cũng có thể quay một chút. Các nhà thiên văn cũng hay sử dụng nhiều biến thể như thuyếtlệch tâm — theo đó trục quay được bù thêm và không hoàn toàn nằm ở tâm - hay được thêm các ngoại luân vào các ngoại luân.

Cống hiến duy nhất của Ptolemy cho lý thuyết này là ý tưởng về mộtsự cân bằng - một sự bổ sung rắc rối cho thấy rằng, khi đo chuyển động của Mặt Trời, thỉnh thoảng ta sử dụng trục trung tâm của vũ trụ, nhưng thỉnh thoảng lại đưa ra một vị trí khác. Điều này có một ảnh hưởng bao trùm khiến cho một số quỹ đạo trở nên "lắc lư," một sự thực đã làm Kopernik rất bối rối (sự lắc lư đó nêu ra sự đáng ngờ của ý tưởng về những "mặt cầu" mà các hành tinh quay trên đó). Cuối cùng, sau mọi sự phức tạp đó, các nhà thiên văn vẫn không thể làm quan sát thực tế và lý thuyết trùng khớp với nhau. Vào thời của Kopernik, hệ Ptolemy kiểu mới nhất là củaPeurbach (1423-1461) vàRegiomontanus (1436-1476).

Lý thuyết của Kopernik

[sửa |sửa mã nguồn]

Lý thuyết chính của Kopernik được xuất bản trong cuốn,De revolutionibus orbium coelestium (Về chuyển động quay của các thiên thể) vào năm ông mất,1543, mặc dù ông đã tiến gần tới lý thuyết này từ nhiều thập kỷ trước.

Bức tượng của Kopernik cạnhCollegium Novum ("Trường mới")Đại học Jagiellonian, tại Kraków

Cuốn sách này đánh dấu sự chấm dứt củathuyết địa tâm (vàthuyết nhật tâm) coi Trái Đất ở trung tâm vũ trụ. Kopernik cho rằng Trái Đất là mộthành tinh quay xung quanh Mặt Trời một vòng trên mộtnăm, và quay quanhtrục một vòng trên mộtngày. Ông đã khám phá được vị trí chính xác của những hành tinh đã được biết và giải thích sựtiến động của nhữngđiểm phân một cách chính xác bởi sự thay đổi vị trí một cách chậm chạp của trục quay của Trái Đất. Ông cũng đưa ra giải thích rõ ràng về nguyên nhân gây ra các mùa: rằng trục của Trái Đất không vuông góc với hành tinh trên quỹ đạo của nó. Ông cộng thêm vào sự chuyển động của Trái Đất, theo đó trục của nó được giữ hướng về đúng một điểm trên bầu trời trong suốt cả năm; từ thờiGalileo Galilei, đã có thừa nhận rằng Trái Đất "không" giữ nguyên một hướng khi nó chuyển động.

Kopernik cũng thay thế những vòng cân bằng củaPtolemy bằng nhiều ngoại luân. Đây là nguồn chính cho rằng hệ của Kopernik thậm chí còn có nhiều ngoại luân hơn hệ của Ptolemy. Với sự thay đổi này, hệ của Kopernik chỉ có một kiểu chuyển động tròn duy nhất, sửa chữa lại những điều mà ông cho là không chính xác trong hệ của Ptolemy. Nhưng khi Kopernik đặt Mặt Trời vào vị trí trung tâm của mặt cầu của trời, ông không cho nó là trung tâm của vũ trụ mà chỉ ở gần nó.

Về mặt thực nghiệm, hệ của Kopernik không tốt hơn kiểu của Ptolemy. Kopernik nhận thức được điều này và không thể đưa ra "bằng chứng" quan sát trong cuốn sách của mình, thay vào đó ông lại dựa vào những tranh luận về một hệ chính xác và đúng đắn hơn. Từ khi cuốn sách được xuất bản tới khoảng năm 1700, rất ít nhà thiên văn tin vào hệ của Kopernik, mặc dù cuốn sách đó được truyền bá khá rộng (khoảng 500 bản sách được cho là vẫn còn tồn tại, đó là một con số lớn so với tiêu chuẩn khoa học của thời đó). Tuy nhiên, nhiều nhà thiên văn học, đã chấp nhận một số khía cạnh của lý thuyết so với những thuyết khác, và hệ của ông đã có ảnh hưởng lớn đối với những nhà khoa học về sau này như Galileo vàJohannes Kepler, những người đã chấp nhận, và đấu tranh cho nó và (đặc biệt là trường hợp của Kepler) tìm cách cải thiện nó. Những quan sát của Galileo về cáctuần củaSao Kim đã cho thấy bằng chứng quan sát thực nghiệm đầu tiên cho lý thuyết của Kopernik.

Hệ của Kopernik có thể được nói gọn trong bảy đề xuất, như chính Kopernik đã tập hợp trong một Compendium của cuốnDe revolutionibus orbium coelestium được tìm thấy và xuất bản năm1878.

Bảy phần của lý thuyết Kopernik là:

  1. Không có một trung tâm của vũ trụ
  2. Trung tâm của Trái Đất không phải là trung tâm vũ trụ
  3. Trung tâm của vũ trụ gần Mặt Trời
  4. Khoảng cách từ Trái Đất đến Mặt Trời là không thể nhận thấy nếu so sánh với khoảng cách tới các ngôi sao
  5. Chuyển động quay của Trái Đất giải thích cho chuyển động thấy hàng ngày của các ngôi sao
  6. Những chuyển động quan sát thấy hàng năm của Mặt Trời được gây ra khi Trái Đất chuyển động quanh Mặt Trời
  7. Chuyển động thụt lùi của các hành tinh được gây ra bởi chuyển động của Trái Đất, mà người quan sát đứng trên nó

Dù những ý kiến này có phải là "cách mạng" hay "bảo thủ" chúng là chủ đề tranh luận cho tới cuốithế kỷ 20.Thomas Kuhn đã cho rằng Kopernik đưa "một số tính chất thiên văn học vốn trước đó được cho là của Trái Đất sang cho Mặt Trời." Một số nhà sử học khác từ đó cho rằng Kuhn đã đánh giá thấp cái gọi là "cách mạng" của công trình của Kopernik, và nhấn mạnh khó khăn mà Kopernik có thể gặp phải khi đưa lý thuyết thiên văn học của mình ra mà chỉ đơn giản dựa vào hình học, mà không có bằng chứng thực nghiệm.

Về chuyển động của các thiên thể

[sửa |sửa mã nguồn]
Bài chính:De revolutionibus orbium coelestium
Trang bìa củaDe revolutionibus Orbium Coelestium (phần VI, ấn bản củaBasel)

Tác phẩm chính của Kopernik,Về chuyển động của các thiên thể (1543), là thành quả của hàng thập kỷ lao động. Nó có một lời mở đầu vô danh doAndreas Osiander, một nhà thần học và là bạn của Kopernik viết, cho rằng lý thuyết này, bị coi là một công cụ cho phép có được những tính toán đơn giản và chính xác hơn, không có ứng dụng bên ngoài phạm vi thiên văn học. Cuốn sách thực của Kopernik được bắt đầu bởi một bức thư của người bạn ông (lúc ấy đã qua đời) là Nicola Schönberg, Tổng Giám mụcCapua, thúc giục Kopernik xuất bản lý thuyết của mình. Sau đó, trong một bài mở rất dài, Kopernik dành tặng cuốn sách choGiám mục Paul III, giải thích động cơ bên ngoài trong việc viết cuốn sách vì khả năng còn hạn chế của các nhà thiên văn học trước đó trong việc đưa ra một lý thuyết đầy đủ về các hành tinh, và chỉ ra rằng nếu hệ của ông làm tăng độ chính xác của các dự đoán thiên văn học nó sẽ cho phép Nhà thờ phát triển một loại lịch chính xác hơn. Lúc ấy, việc cải cáchlịch Julian được coi là cần thiết và là một trong những nguyên nhân chính khiến nhà thờ trợ cấp cho thiên văn học.

Tác phẩm này được chia làm sáu cuốn:

  1. Cái nhìn chung về lý thuyết nhật tâm, và một sự trình bày ngắn gọn về ý tưởng của ông về thế giới.
  2. Đa số là lý thuyết, trình bày các nguyên tắc của thiên văn hình cầu và một danh sách các ngôi sao (là một nền tảng cho những tranh cãi phát triển lên trong những cuốn sách tiếp theo).
  3. Đa phần dành cho những chuyển động thực tế của Mặt Trời và những hiện tượng liên quan.
  4. Miêu tả Mặt Trăng và những chuyển động quỹ đạo của nó.
  5. Giải thích cụ thể về hệ thống mới.
  6. Trình bày cụ thể về hệ thống mới.

Kopernik và chủ nghĩa của Kopernik

[sửa |sửa mã nguồn]
Bài viết hoặc đoạn nàycần người am hiểu về chủ đề này trợ giúp biên tập mở rộng hoặc cải thiện. Bạn có thể giúpcải thiện trang này nếu có thể. Xemtrang thảo luận để biết thêm chi tiết.
Mikołaj Kopernik

Lý thuyết của Kopernik có tầm quan trọng đặc biệt trong lịch sử văn minh loài người. Nhiều tác giả cho rằng chỉhình học củaEuclidvật lý củaIsaac NewtonThuyết tiến hoá củaCharles Darwin là có thể có ảnh hưởng ở mức so sánh được đối vớivăn hoá loài người nói chung vàkhoa học nói riêng.

Nhiều ý nghĩa đã được gán cho lý thuyết của Kopernik một phần từ ý nghĩa khoa học đúng đắn của nó. Tác phẩm của ông ảnh hưởng tới cảtôn giáokhoa học,giáo điều cũng nhưtự do của vấn đề khoa học. Vị trí của Kopernik với tư cách là một nhà khoa học thường được so sánh vớiGalileo Galilei.

Tuy nhiên, chủ nghĩa của Kopernik cũng mở một lối đi chotính nội tại, quan điểm cho rằng một lực lượng siêu nhiên, hay một vị thần thánh, thâm nhập vào mọi vật tồn tại - một quan điểm từ đó được phát triển thêm trong nhiều triết học hiện đại. Chủ nghĩa nội tại cũng dẫn tớichủ nghĩa chủ quan: với lý thuyết rằng có thể nhận thức rằng những tạo vật thực tế, rằng không có thực thể tồn tại độc lập với nhận thức. Vì thế một số người cho rằng Chủ nghĩa Kopernik đánh đổ những nền tảng của khoa học Trung Cổ vàsiêu hình học.

Một hệ quả của Chủ nghĩa Kopernik là quy luật khoa học không cần thiết phải phù hợp với thực tế. Sự đối nghịch này với hệ củaAristoteles vốn đặt cao tầm quan trọng của nguồn gốc của hiểu biết thông qua các giác quan.

Khái niệm của Kopernik đánh dấu một sựcách mạng khoa học. Thực vậy một số cho rằng nó đứng ngang bằng với sự khởi xướng của "cuộc cách mạng khoa học"[4]Lưu trữ ngày 7 tháng 8 năm 2009 tạiWayback Machine.Immanuel Kant mang tính biểu tượng của cách mạng do Kopernik khởi xướng -chủ nghĩa duy lý ưu việt của nó - công nhận rằng chính sự hợp lý của con người là cách làm sáng tỏ về những hiện tượng quan sát được. Những nhà triết học gần đây cũng tìm thấy những giá trị triết học trong chủ nghĩa Kopernik.

Trích dẫn

[sửa |sửa mã nguồn]
Goethe
"Trong tất cả các khám phá và ý kiến, không có cái nào có ảnh hưởng đến tinh thần hơn học thuyết của Kopernik. Thế giới mới được biết là tròn thì phải bị đòi hỏi từ bỏ đặc quyền lớn lao của địa vị trung tâm vũ trụ. Có lẽ không bao giờ nhân bị đòi hỏi lớn lao như thế — vì khi chấp nhận điều này thì nhiều việc bị tan tành mây khói! Việc gì sẽ xảy ra vớiEden của chúng ta, thế giới của sự ngây thơ, lòng mộ đạo, và thi ca; bằng chứng từ giác quan; sự tin tưởng đến một niềm tin thơ - đạo? Không đáng ngạc nhiên khi những người đương thời không muốn từ bỏ những ý niệm này và chống đối bằng mọi cách một học thuyết mà những người tin tưởng cho phép và đòi hỏi một tầm nhìn tự do và ý tưởng vĩ đại chưa bao giờ được biết, hay tưởng tượng nổi."
Nietzsche
"Tôi thấy hài lòng khi nghĩ về sự đúng đắn của vị quý tộc Ba Lan lật đổ nghị quyết của một cuộc họp (nghị viện) với sự phủ quyết đơn giản; và Kopernik người Ba Lan dường như từ sự đúng đắn này chống lại tất cả các kiểu ý kiến của những người khác theo cách đúng đắn và rộng lớn nhất."
Kopernik
"Vì tôi không say mê lắm với những quan điểm của riêng mình nên tôi không coi trọng suy nghĩ của người khác về chúng. Tôi biết rằng những ý kiến của một nhà triết học không phải là chủ đề cho sự phán xét của những người bình thường, bởi vì đó chính là sự nỗ lực của ông ta nhằm tìm kiếm sự thực trong mọi vấn đề, trong phạm vi sự cho phép của Chúa trời với loài người. Tuy vậy, tôi cho rằng cần xa lánh những quan điểm hoàn toàn sai trái. Những người biết rằng sự kết luận của nhiều thế kỷ đã đưa tới việc thừa nhận quan điểm rằng Trái Đất đứng yên ở trung tâm vũ trụ, như trung tâm của nó là trung tâm của vũ trụ, Tôi phản đối, coi đó là một tuyên bố điên cuồng nếu tôi đưa ra điều xác nhận rằng Trái Đất chuyển động.
"Khi một con chuyển động êm đềm về phía trước, các thủy thủ thấy chuyển động của nó được phản ánh qua mọi sự vật bên ngoài, tuy nhiên mặt khác họ cũng có thể cho rằng mình đang đứng yên, cùng với mọi vật trên thuyền. Theo một số cách, chuyển động của Trái Đất có thể là điều không thể nghi ngờ đưa lại cảm giác rằng toàn thể vũ trụ đang chuyển động.
"Vì thế cùng với những lý thuyết cổ đại, vốn không còn chính xác nữa, chúng tay hãy cho phép các lý thuyết mới đó được xuất hiện, đặc biệt khi chúng tỏ ra rất chính xác, đơn giản và mang lại nhiều thông tin quan sát quý báu. Khi các lý thuyết còn được quan tâm, không ai có thể chờ đội một sự chính xác hoàn toàn từ thiên văn học, thiên văn học không thể cung cấp điều đó, ít nhất anh ta chấp nhận các ý tưởng chính xác được đưa ra cho một mục đích nào khác, và việc quay lưng lại với nó chính là điều ngu xuẩn lớn hơn việc quan tâm tới nó. Tạm biệt."
Tuyên bố củaThượng viện Ba Lan ra ngày 12 tháng 6 năm 2003
"Ở thời điểm kỷ niệm năm trăm ba mươi năm ngày sinh và bốn trăm sáu mươi năm ngày mất của Mikołaj Kopernik, Thượng viện Cộng hòa Ba Lan bày tỏ sự kính trọng sâu sắc nhất và cầu nguyện cho conngười Ba Lan kiệt xuất đó, một trong những nhà khoa học vĩ đại nhất trong lịch sử Thế giới. Mikołaj Kopernik, nhà thiên văn học nổi tiếng thế igới, tác giả của công trình mang tính đột phá "O obrotach sfer niebieskich" là người đã "Bắt Mặt trời đứng yên và Trái Đất chuyển động". Ông đã tự nâng mình thành một nhà toán học, kinh tế học, luật sư, bác sĩ và linh mục cũng như là một người bảo vệ Lâu đàiOlsztyn trong cuộc chiến tranh Ba Lan-Teutonic kiệt xuất của đất nước. Ký ức về những thành tựu của ông sẽ tồn tại lâu dài và trở thành một nguồn cảm hứng cho các thế hệ tương lai."
Allgemeine Deutsche Biographie
"Vấn đề quốc tịch đã trở thành chủ đề của nhiều cuốn sách khác nhau; một sự tranh cãi về quốc tịch của người sáng lập ra quan niệm hiện tại của chúng ta về thế giới giữa Ba Lan và Đức, nhưng như đã được chỉ ra rằng về quốc tịch cha mẹ của Kopernik chúng ta không thể chắc chắn được điều gì; cha ông dường như khi sinh là mộtngười Slav, mẹ ông là một người Đức; ông đã sinh ra tại một thành phố; nơi chính quyền quản lý nó và người dân sử dụng hệ thống giáo dục Đức, tuy nhiên ông sinh ra với giấy tờ của Ba Lan; ông đã học tập tại Cracow ở thủ đô Ba Lan, sau đó tại Italia và sống tới cuối đời ở Frauenburg với tư cách một tăng hội; ông viết sách bằng tiếng Latinh và tiếng Đức. Trong khoa học ông là một con người, không thuộc về một quốc gia, công việc của ông, những nỗ lực của ông thuộc về cả thế giới, và chúng ta không quá quan tâm tới việc thực tế Kopernik là một người Ba Lan hay người Đức, mà coi ông là một người có tâm hồn tự do, một nhà thiên văn học vĩ đại, người cha của ngành thiên văn học mới, tác giả của một cái nhìn đúng đắn về thế giới."

Phần mộ

[sửa |sửa mã nguồn]
Nhà thờ Frombork - Nơi chôn cất Kopernik

Tháng 8, 2005, một nhóm các nhà khảo cổ học do Jerzy Gąssowski, giám đốc một việnkhảo cổ họcnhân loại họcPułtusk, chỉ huy đã khám phá ra nơi mà họ cho là mộ của Kopernik sau khi kiểm tra bên dưới sàn Nhà thờFrombork. Kết quả này có được sau một năm tìm kiếm, và việc phát hiện này chỉ được thông báo vào ngày 3 tháng 10, sau khi họ đã tiến hành tìm kiếm thêm. Gąssowski nói ông "hầu như tin chắc 100% rằng đó là Kopernik". Các chuyên giapháp y đã sử dụng xương sọ để tái tạo một khuôn mặt rất giống với những đặc điểm trong bức chân dung của Kopernik, trong đó có cái mũi gãy và vết sẹo trên mắt trái.[5]Lưu trữ ngày 5 tháng 11 năm 2006 tạiWayback Machine. Các chuyên gia cũng quả quyết rằng xương sọ này là của một người đàn ông đã chết khi khoảng 70 tuổi - tuổi của Kopernik khi ông qua đời.

Mộ ở tình trạng xấu và không phải tất cả xương cốt đều còn. Các nhà khảo cổ học hy vọng tìm thấy họ hàng của Kopernik để xác định quaDNA.

Bối cảnh lịch sử về vấn đề quốc tịch của Kopernik

[sửa |sửa mã nguồn]

Vì sự không chắc chắn của các nhà địa lý, tới nay vẫn còn vấn đề đang tranh cãi về việc Kopernik là người Đức hay người Ba Lan.[2] Cha của Kopernik, cũng tên là Nicolaus (Mikołaj) và có thể là họ Koppernigk, từng là một công dân củaKraków, sau này là thủ đôBa Lan, nhưng ông đã rời thành phố này vào năm1460 để chuyển tớiToruń. Thành phố này là một phần củaLiên minh Hanseatic, cũng như làLiên bang Phổ mà chỉ vài năm trước khi Mikołaj ra đời đã xảy ra một cuộc khởi nghĩa (ngay sau đó dẫn tớiCuộc chiến mười ba năm khi họ yêu cầu vua Ba Lan sáp nhập Phổ vào lãnh thổ của ông) giành độc lập từHiệp sĩ Teuton, những kẻ đã cai trị vùng này trong hai trăm năm, áp đặt thuế má nặng nề làm chậm phát triển kinh tế trong tỉnh. VớiHiệp ước Toruń lần hai năm 1466, thành phố này và phần phía tây của Phổ trở thành một vùng đất củaVương quốc Ba Lan mang tênPrusy Królewskie, vốn đã ủng hộ cuộc khởi nghĩa, trong khi phần đông vẫn nằm dưới quyền cai quản của những hiệp sĩ Teuton trở thành miềnĐông Phổ sau đó.

Kopernik, được gọiMikołaj Kopernik trongtiếng Ba LanNikolaus Kopernikus trongtiếng Đức, sinh ở Toruń và sống gần trọn cuộc đời làm việc ở Royal Prussia, một nơi tự trị và là một vùng đất củaHoàng gia Ba Lan - nó cónghị viện riêng, triều đình, ngân khố (mà Kopernik có tham gia) và quân đội. Ông cũng trông nom việc bảo vệAllenstein/Olsztyn với vị trí chỉ huy các lực lượng của nhà vua Ba Lan khi đội quân củaAlbert xứ Brandenburg bao vây thành trì.

Vàothế kỷ 19, với sự nổi lên của chủ nghĩa quốc gia Đức, đã có nhiều nỗ lực nhằm tuyên bố rằng Kopernik chính là người Đức và bác bỏ những quan hệ của ông với Ba Lan,[3] tuy nhiên, sau năm 1945 những cố gắng đó đã hoàn toàn thất bại. Để đáp lại, người Ba Lan gắng tuyên bố rằng Kopernik thực sự là người Ba Lan và cố gắng bác bỏ những nguồn gốc Đức có thể có của ông. Có lẽ gia đình ông về mặt chủng tộc là người Đức, và chắc chắn Kopernik nói thạotiếng Đức, trong khi không có minh chứng trực tiếp về việc ông biếttiếng Ba Lan. Ngôn ngữ chính của ông dùng khi viết làtiếng Latinh. Tuy nhiên, Kopernik sinh ở Đông Phổ, sau này làPrusy Królewskie vì những mối quan hệ của nó với Vương quốc Ba Lan. Ông đã trở thành một người dân tỉnh Prussian Ermland hay Warmia, mộtđịa phận Giám mục được miễn trừ, trong suốt phần đời còn lại ông là một thần dân trung thành của Prince-Bishop (Thái ấp chủ giáo) Công giáo vào thời điểm khi đa số người Phổ và Đức đã theo đạoTin lành. Hiện nay ông được chấp nhận chung là người Ba Lan. Cùng lúc đó, cần nhớ rằng trong thời Kopernik, quốc tịch có ít ý nghĩa hơn hiện nay, và mọi người thường không nghĩ rằng họ là người Ba Lan hay người Đức.[4]

Vì thế, trong hoàn cảnh hiện tại, Kopernik có thể được coi là người Đức Ba Lan về mặt chủng tộc, nhưng đặt một con người trong lịch sử vào hoàn cảnh hiện đại thì không có ý nghĩa gì. Điều quan trọng là đặt Kopernik trong hoàn cảnh lịch sử và khoa học của ông.

Xem thêm

[sửa |sửa mã nguồn]

Tham khảo

[sửa |sửa mã nguồn]
  1. ^[1]
  2. ^Understanding Contemporary Germany
  3. ^Diemut Majer, Non-Germans Under the Third Reich: The Nazi Judicial and Administrative System in Germany,[2]
  4. ^Norman Davies, God's Playground: A History of Poland,[3]

Liên kết ngoài

[sửa |sửa mã nguồn]
Wikiquote có bộ sưu tập danh ngôn về:

Các liên kết ngoài đến các nguồn

[sửa |sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài về Copernicus

[sửa |sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài về De Revolutionibus

[sửa |sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài liên quan tới di sản của Copernicus

[sửa |sửa mã nguồn]

Sự hợp tác Đức - Ba Lan trong truyền thống của Copernicus

[sửa |sửa mã nguồn]
Quốc tế
Quốc gia
Học thuật
Nhân vật
Khác
Lấy từ “https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Nicolaus_Copernicus&oldid=74421294
Thể loại:
Thể loại ẩn:

[8]ページ先頭

©2009-2026 Movatter.jp