Movatterモバイル変換


[0]ホーム

URL:


Bước tới nội dung
WikipediaBách khoa toàn thư mở
Tìm kiếm

Newcastle United F.C.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Newcastle United
Crest of Newcastle United
Tên đầy đủNewcastle United Football Club
Biệt danhThe Magpies
Thành lập9 tháng 12 năm 1892; 133 năm trước (1892-12-09)
Sân vận độngSt James' Park
Sức chứa52.305[1]
Tọa độ54°58′32″B1°37′17″T / 54,9756°B 1,6215°T /54.9756; -1.6215
Chủ sở hữu
Chủ tịch điều hànhYasir Al-Rumayyan
Huấn luyện viênEddie Howe
Giải đấuPremier League
2024–25Premier League, thứ 5 trên 20
Websitehttps://www.nufc.co.uk/
Mùa giải hiện nay

Câu lạc bộ bóng đá Newcastle United là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệpAnh đặt trụ sở tạiNewcastle upon Tyne ở miền Đông Bắc nướcAnh. Sân nhà của câu lạc bộ làSt James' Park với sức chứa 52.387 khán giả. Biệt danh của câu lạc bộ là The Magpies (Chích Chòe), còn cổ động viên được gọi làToon Army. Các đối thủ truyền thống của Newcastle United là 2 câu lạc bộSunderland, tạo nên trận derby Tyne-Wear vàMiddlesbrough, tạo nên trận derby Tyne-Tees.

Câu lạc bộ chỉ vắng mặt ởgiải Ngoại hạng Anh trong vòng 3 mùa giải, và dành tới 88 mùa giải trong lịch sử của đội để thi đấu ở hạng đấu cao nhất. Họ cũng chưa từng phải xuống chơi ở giải đấu hạng thứ 3 của bóng đá Anh kể từ khi gia nhập Football League vào năm 1893. Đồng thời, Newcastle United cũng là câu lạc bộ thành công thứ 9 của nước Anh khi tính về tổng số lượng danh hiệu giành được, trong đó có 4 chức vô địch quốc gia và 6 chiếcCúp FA, cũng như chiếc cúpIntertoto vào năm 2006.

Lịch sử hình thành

[sửa |sửa mã nguồn]

1881–1903: Tiền thân và những năm đầu tiên

[sửa |sửa mã nguồn]

Trận đấu bóng đá đầu tiên được ghi nhận tại vùng Tyneside được tổ chức tại Elswich Rugby Club vào ngày 3/3/1877. Sau đó chỉ một năm, câu lạc bộ bóng đá đầu tiên được thành lập, mang tên Tyneside Association. Tuy nhiên, sự thành lập của Newcastle United đến từ sự hợp nhất của hai đội bóng tiền thân làNewcastle West End F.CNewcastle East End F.C.

Tiền thân đầu tiên của Newcastle United chính là câu lạc bộ cricket Stanley ở Byker, thành lập tháng 11 năm 1881. Đội bóng này sau đó được đổi tên thành Newcastle East End F.C vào tháng 10 năm 1882 để phân biệt với đội cricket ở Stanley,hạt Durham. Một đội bóng địa phương khác ở Byker là Rosewood F.C cũng hợp nhất với Newcastle East End một thời gian ngắn sau đó, trước khi câu lạc bộ chuyển bản doanh từ Byker đến Heaton vào năm 1886.

Trong khi đó, Newcastle West End F.C được thành lập trên cơ sở của đội cricket West End, và đây chính là đội bóng đầu tiên chuyển đến St James' Park, sân nhà của Newcastle United hiện nay, vào tháng 5 năm 1886.

Vào thời điểm đó, cả hai câu lạc bộ mang tên Newcastle đều thi đấu tạiNorthern League, và là những đối trọng của nhau. Năm 1889, đội East End tiến lên chuyên nghiệp và thành lập cho mình một công ty vào tháng 3 năm 1890. Ngược lại, về phía West End, đội bóng này gặp phải khó khăn tài chính lớn, và đã phải đề nghị với kình địch East End về một vụ sáp nhập. Kết quả là West End sau đó phải giải tán, và một số thành viên cũ của đội bóng, bao gồm cầu thủ và các thành viên ban huấn luyện, đã chuyển sang đầu quân cho East End, và đội bóng này cũng chính thức tiếp quản sân bóng St James' Park. Hai đội bóng mang tên Newcastle chính thức sáp nhập làm một vào tháng 5 năm 1892.

Sau khi hai câu lạc bộ trong vùng hợp nhất, sự quan tâm dành cho bóng đá tại Newcastle gia tăng đáng kể. Đội bóng bị từ chối khi xin tham dự hạng đấu cao nhất củaThe Football League vào mùa 1892-1893, nhưng sau đó, được mời tham dự giải đấu hạng hai. Tuy nhiên, vì không có nhiều tên tuổi lớn tham dự giải đấu này vào thời điểm đó, Newcastle United từ chối lời mời của Football League và ở lại tham dự giải Northern League. Để gia tăng mức độ ảnh hưởng và danh tiếng của đội, Newcastle East End đã nghĩ đến việc thay đổi tên gọi của đội bóng. Một số những đề xuất như Newcastle F.C, Newcastle Rangers, Newcastle City và City of Newcastle dã được đưa ra, nhưng cuối cùng, cái tên Newcastle United đã được chọn vào ngày 9/12/1892. Cái tên này sau đó được Football League chấp thuận vào ngày 22/12 cùng năm. Đây cũng là dấu mốc đánh dấu sự thành lập chính thức của câu lạc bộ Newcastle United. Đội bóng sau đó tiến lên chuyên nghiệp và thành lập công ty Newcastle United Football Club Co. Ltd. vào ngày 6/9/1895.

Sau khi bị từ chối ở mùa giải 1892-1893, Newcastle United tiếp tục nỗ lực xin tham dự giải đấu hạng nhất vào mùa sau. Lần này, nỗ lực vẫn tiếp tục thất bại, tuy nhiên, đội bóng đã đồng ý tham gia giải đấu hạng hai, cùng thời điểm với hai đội khác làLiverpoolWoolwick Arsenal. Trận đấu chính thức đầu tiên của Newcastle United tại giải hạng hai đã diễn ra vào tháng 9 năm 1893, khi họ có tỉ số hòa 2-2 trước Woolwick Arsenal. Vào những mùa giải đầu tiên, vẫn chưa có quá nhiều khán giả đến theo dõi Newcastle United thi đấu, tuy nhiên, tình hình đã được cải thiện vào mùa 1895-1896, khi đã có 14.000 khán giả dự khán trận đấu giữa họ vớiBury F.C. Cũng trong mùa giải này, Frank Watt trở thành thư ký của đội bóng, và đã đóng vai trò then chốt đưa câu lạc bộ thăng hạng lên giải hạng nhất vào mùa 1898-1899. Tuy nhiên, Newcastle United đã nhận thất bại 2-4 trên sân nhà trướcWolverhampton Wanderer trong trận đầu tiên ở giải hạng nhất và kết thúc mùa giải năm đó ở vị trí thứ 13.

1903–1937: Những thành công đầu tiên và thời chiến

[sửa |sửa mã nguồn]

Kể từ mùa giải 1903–04, Newcastle United đã xây dựng cho mình một đội hình gồm toàn những hảo thủ, mà sau đó đã thống trị giải hạng nhất Anh trong vòng khoảng một thập niên, một đội hình được miêu tả với những mĩ từ như "lối chơi đầy nghệ thuật, sự pha trộn giữa tính đồng đội và lối chơi nhanh, bóng ngắn".Peter McWilliams, một hậu vệ trong đội hình thuở ấy của Newcastle United sau này kể lại: "Đội hình Newcastle thập niên 1900 đủ khả năng khiến bất cứ một đội bóng hiện đại nào nhận hai bàn thua chóng vánh và đánh bại họ, thậm chí nghiền nát đối phương". Đội hình đó đã đem về cho Newcastle ba chức vô địch quốc gia vào các mùa 1904-1905, 1906-1907 và 1908-1909. Thậm chí, họ còn suýt lập cú đúp quốc nội, nhưng đã bị đánh bại trong trận chung kếtcúp FA bởiAston Villa năm 1905. Họ cũng đã thêm ba lần thất bại trong trận chung kết cúp FA vào các năm 1906 trướcEverton, năm 1908 trướcWolverhampton Wanderer và năm 1911 trướcBradford City. Tuy vậy, họ đã thành công nâng cao chiếc cúp này vào năm 1910 bằng việc đánh bạiBarnsley.

Sau giai đoạn vàng son đó, mãi đến năm 1924, Newcastle mới một lần nữa vào đến chung kết cúp FA. Đây cũng là năm đánh dấu chiếc cúp FA thứ hai trong lịch sử câu lạc bộ, khi bại tướng của họ là Aston Villa.Hughie Gallacher, một trong những thủ quân và chân sút huyền thoại của đội bóng, đã dẫn dắt toàn đội đến với danh hiệu vô địch quốc gia lần thứ tư, và cũng là lần gần nhất cho đến tận ngày nay, vào năm 1927. Thời điểm đó, đội còn sở hữu các ngôi sao nhưNeil Harris,Stan SeymourFrank Hudspeth. Đội bóng bắt đầu thoái trào vào cuối thập niên 1920, đầu 1930 khi vào cuối mùa 1929-1930, Newcastle đã ngấp nghé bờ vực xuống hạng và thủ quân Hughie Gallacher cũng rời câu lạc bộ để đầu quân choChelsea. Đó cũng là thời điểmAndy Cunningham trở thành huấn luyện viên trưởng của đội. Thành công cuối cùng trong giai đoạn này đến vào mùa 1931-1932, khi Newcastle United giành được chiếccúp FA thứ ba trong lịch sử đội bóng. Cuối mùa 1933-1934, câu lạc bộ đã phải xuống chơi ở giải hạng hai, sau 35 năm chơi ở hạng đấu cao nhất, đồng thờiTom Mather thay thế Andy Cunningham trở thành thuyền trưởng mới của đội.

1937–1969: Thành công thời hậu chiến

[sửa |sửa mã nguồn]

Sau khi rớt hạng, Newcastle đã thi đấu rất chật vật, thậm chí suýt phải rơi xuống giải hạng ba, khi họ chỉ trụ hạng bằng hơn hiệu số bàn thắng vào cuối mùa 1937-1938.Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ năm 1939, và câu lạc bộ đã cải tổ lực lượng trong giai đoạn này, khi đem về những cái tên nhưJakie Milburn,Tommy WalkerBobby Cowell, giúp họ trở lại hạng đấu cao nhất vào cuối mùa 1947-1948. Trong thập niên 1950, Newcastle gặt hái khá nhiều thành công, khi chỉ trong 5 năm, họ giành tới 3 chiếccúp FA, vào các năm 1951 (trướcBlackpool), 1952 (trướcArsenal) và 1955 (trướcManchester City). Giai đoạn thành công ngắn ngủi nhanh chóng kết thúc, khi họ tiếp tục xuống hạng cuối mùa 1960-1961 dưới sự chỉ đạo của huấn luyện viênCharlie Mitten. Mitten dẫn dắt Newcastle thêm một mùa ở giải hạng hai, trước khi đội được tiếp quản bởi một cựu cầu thủ,Joe Harvey. Harvey dẫn dắt đội bóng đến chức vô địch giải hạng hai cuối mùa 1964-1965 và giành quyền quay trở lại giải hạng nhất. Ông cũng đưa Newcastle lần đầu tiên bước ra đấu trường châu Âu vào cuối mùa 1967-1968 và thậm chí vô địch cúpInter-Cities Fairs năm 1969 khi đánh bại đại diện Hungary,Újpest với tỉ số đậm đà 6-2.

1969–1992: Lên và xuống hạng

[sửa |sửa mã nguồn]

Huấn luyện viênJoe Harvey thực hiện vụ chuyển nhượng tiền đạoMalcolm Macdonald vào mùa hè năm 1971, với mức giá kỷ lục của câu lạc bộ lúc bấy giờ là 180.000 bảng Anh. Macdonald là chân sút cự phách, đã dẫn dắt hàng công của Newcastle vào tới trận chung kết cúp FA năm 1974, nơi mà họ chịu thất bại trướcLiverpool. Đồng thời, đội bóng cũng giành hai chức vô địch liên tiếp tại đấu trườngTexaco Cup vào các năm 1974 và 1975. Harvey rời đội năm 1975, vàGordon Lee là người thay thế. Lee cùng Newcastle vào trận chung kếtCúp liên đoàn Anh vào năm 1976 đối đầu vớiManchester City, nhưng đã không thể đưa chiếc cúp này về Tyneside. Tuy nhiên, chân sút chủ lực Malcolm Macdonald đã bị Gordon Lee bán choArsenal vào cuối mùa giải đó. Sau này, tiền đạo người Anh đã chia sẻ: "Tôi từng yêu Newcastle, cho đến khi Gorden Lee đến". Sau cùng, Lee cũng rời Newcastle vào năm 1977 để đến Everton, vàRichard Dinnis là huấn luyện viên mới của đội bóng.

Nhiệm kỳ của Dinnis là một thảm họa, khi để Newcastle rơi xuống giải hạng hai vào cuối mùa 1977-1978. Hai đời huấn luyện viên liên tiếp tiếp quản câu lạc bộ:Bill McGarry và Arthur Cox, cho đến khi Cox đưa Newcastle trở lại giải hạng nhất cuối mùa giải 1983-1984. Lúc này, đội bóng sở hữu những ngôi sao, nhưPeter Beardsley,Chris Waddle và cựu đội trưởng tuyển AnhKevin Keegan. Thời gian tiếp theo cũng không quá suôn sẻ với Newcastle, khi Cox rời đội chuyển sang dẫn dắtDerby County, và Kevin Keegan giải nghệ. Đội bóng cũng có thể trụ lại giải hạng nhất trong hầu hết thập niên 80 với những huấn luyện viênJack Charlton và sau đó làWillie McFaul, cho đến khi những trụ cột như Waddle, Beardsley vàPaul Gascoigne bị bán đi. Cuối cùng, Newcastle lại rớt hạng một lần nữa năm 1989. McFaul bị sa thải, rồi bị thay thế bởiJim Smith cho đến đầu mùa 1991-1992,Osvaldo Ardiles trở thành tân thuyền trưởng.

Sir John Hall trở thành chủ tịch đội bóng vào năm 1992, bổ nhiệm Keegan vào sa bàn thay cho Ardiles, và Keegan đã giúp Newcastle trụ lại giải hạng hai. Ông cũng được cung cấp ngân quỹ để chiêu mộ những cầu thủ chất lượng, như Rob Lee,Paul BracewellBarry Venison, những người đã giúp Newcastle vô địch giải hạng nhất cuối mùa 1992-1993 và thăng hạng lên giải đấu mới thành lậpPremier League.

1993–2007: Premier League

[sửa |sửa mã nguồn]

Vào cuối năm đầu tiên của họ, mùa giải 1993–94, khi trở lại giải đấu hàng đầu, họ đã về đích ở vị trí thứ ba, thành tích cao nhất của họ kể từ năm 1927.  Triết lý tấn công của Keegan đã khiến đội được gọi là "The Entertainers" bởiSky Sports.

Keegan đã đưa Newcastle đến hai lần liên tiếp về nhì trong giải đấu vào các năm 1995–96 và 1996–97, tiến rất gần đến chức vô địch ở mùa giải trước, bao gồm trận thua 4–3 trước Liverpool tại Anfield – thường được coi là trận đấu hay nhất trong lịch sử Premier League – đã kết thúc với một hình ảnh xác định của Premier League với việc Keegan sa sút vì tích trữ quảng cáo.  Thành công của đội một phần nhờ vào tài năng tấn công của những cầu thủ như David Ginola, Les Ferdinand và Alan Shearer, những người được ký hợp đồng vào ngày 30 tháng 7 năm 1996 với mức phí kỷ lục thế giới lúc bấy giờ là 15 triệu bảng.

Keegan rời Newcastle vào tháng 1 năm 1997 và được thay thế bởiKenny Dalglish, tuy nhiên câu lạc bộ đã trải qua một mùa giải không thành công với vị trí thứ 13 tại FA Premier League 1997–98, không thể vượt qua vòng bảng của Giải vô địch UEFA 1997–98 League mặc dù đã đánh bại Barcelona và đội đầu bảng Dynamo Kyiv tại St James' Park cũng như bị dẫn trước 2–0 để hòa 2–2 với đội của Valery Lobanovsky tại Ukraine và thất bại trong trận Chung kết Cúp FA 1998. Dalglish được thay thế vị trí huấn luyện viên vào đầu mùa giải tiếp theo bởiRuud Gullit. Câu lạc bộ một lần nữa đứng thứ 13 trong giải đấu và thua trận Chung kết Cúp FA 1999. Gullit bất đồng với đội và chủ tịch Freddy Shepherd, và rời câu lạc bộ bốn trận trong mùa giải 1999–2000 với đội cuối bảng được thay thế bởi Bobby Robson.

Một thách thức về danh hiệu đã xuất hiện trong mùa giải 2001–02, và vị trí thứ tư của Newcastle đã giúp họ đủ điều kiện tham dự UEFA Champions League. Mùa giải tiếp theo, Robson hướng dẫn đội đến một thử thách danh hiệu khác và đứng thứ ba tại Liên đoàn, và thứ hai ở vòng bảng Champions League,  sau khi là đội đầu tiên vượt qua vòng bảng đầu tiên sau khi thua ba trận đầu tiên. Trò chơi.  Newcastle đứng thứ 5 trong giải đấu vào cuối mùa giải 2003–04 và bị loại khỏi Champions League ở vòng loại, nhưng bất chấp điều này, Robson đã bị sa thải vào tháng 8 năm 2004 sau một loạt bất đồng với câu lạc bộ.

Graeme Souness được đưa về quản lý vào đầu mùa giải 2004–05. Trong thời gian cầm quân, ông đã phá kỷ lục chuyển nhượng của câu lạc bộ khi ký hợp đồng vớiMichael Owen với giá 16,8 triệu bảng. Souness cũng đưa Newcastle vào tứ kết UEFA Cup 2004–05 với Alan Shearer cũng giành được chiếc giày vàng của giải đấu.  Tuy nhiên, anh ấy đã bị sa thải vào tháng 2 năm 2006 sau một khởi đầu tồi tệ trong mùa giải 2005–06 của câu lạc bộ.  Glenn Roeder tiếp quản, ban đầu là tạm thời, trước khi được bổ nhiệm làm huấn luyện viên chính thức vào cuối mùa giải. Shearer giải nghệ vào cuối mùa giải 2005–06 với tư cách là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất mọi thời đại của câu lạc bộ, với 206 bàn thắng.

Mặc dù kết thúc mùa giải 2005–06 ở vị trí thứ bảy, nhưng vận may của Roeder đã thay đổi trong mùa giải 2006–07, với một chấn thương nặng xảy ra với đội cấp cao, và anh ấy rời câu lạc bộ theo sự đồng ý của cả hai vào ngày 6 tháng 5 năm 2007.  Sau mùa giải 2006–07, và trong kỷ nguyên Premier League, Newcastle United hiện là câu lạc bộ Premiership thành công thứ năm về số điểm kiếm được.

Sam Allardyce được bổ nhiệm làm huấn luyện viên thay thế Roeder vào ngày 15 tháng 5 năm 2007.

2007–2021: Kỷ nguyên Mike Ashley

[sửa |sửa mã nguồn]

2021–nay: Kỷ nguyên PIF

[sửa |sửa mã nguồn]

Vào ngày 7 tháng 10 năm 2021, sau 14 năm làm chủ sở hữu, Ashley bán câu lạc bộ cho một loạt tập đoàn mới với giá được báo cáo là 305 triệu bảng.[3] Các tập đoàn này làQuỹ đầu tư Công,RB Sports & Media củaẢ Rập Xê ÚtPCP Capital Partners.[4] Vào ngày 20 tháng 10, Bruce từ chức theo sự đồng ý của cả hai sau khi nhận được khoản thanh toán trị giá 8 triệu bảng Anh.[5][6]Eddie Howe được bổ nhiệm làm tân huấn luyện viên thay thế Bruce vào ngày 8 tháng 11.[7] Ông giúp câu lạc bộ cán đích ở vị trí thứ 11 sau chuỗi 12 trận thắng trong 18 trận, qua đó trở thành đội đầu tiên trong lịch sử Premier League trụ hạng sau khi không thắng nổi một trận nào trong 14 trận đầu tiên.[8]

Vào ngày 21 tháng 8 năm 2022, đội nữNewcastle United chuyển sang quyền sở hữu của câu lạc bộ lần đầu tiên sau khi tái cơ cấu chính thức.[9] Cuối mùa giải2022–23, câu lạc bộ lần đầu tiên giành quyền tham dự Champions League sau 20 năm.[10] Mùa giải đó cũng là chủ đề của bộ phim tài liệuWe Are Newcastle United ra mắt bởiAmazon Prime Video.[11][12][13] Tuy vậy, ngay trong lần đầu tiên tham dự sau 20 năm, Newcastle bị loại ở vòng bảng của giải đấu.[14]

Thành tích

[sửa |sửa mã nguồn]

Các kỷ lục

[sửa |sửa mã nguồn]
  • Trận thắng đậm nhất: 13-0 (thắngNewport County, giải hạng 2,5 tháng 10 năm1946)
  • Trận thắng đậm nhất ở giải Ngoại hạng: 8-0 (thắngSheffield Wednesday (tháng 9 năm 1999)
  • Trận thua đậm nhất: 0-9 vBurton Wanderers, Division 2,15 tháng 4, 1895)
  • Trận thua đậm nhất giải Ngoại hạng: 0-5 vChelsea, (2004)
  • Cầu thủ thi đấu nhiều trận nhất:Jimmy Lawrence - 496 trận
  • Cầu thủ thi đấu nhiều trận nhất ở giải vô địch quốc gia: Jimmy Lawrence - 432 trận
  • Cầu thủ thi đấu nhiều trận nhất ở các cúp châu Âu:Shay Given - 54 trận
  • Cầu thủ ghi bàn nhiều nhất:Alan Shearer - 203 bàn
  • Cầu thủ ghi bàn nhiều nhất ở giải vô địch quốc gia:Jackie Milburn - 177 bàn
  • Cầu thủ ghi bàn nhiều nhất ở các cúp châu Âu: Alan Shearer - 30 bàn
  • Cầu thủ ghi bàn nhiều nhất trong 1 mùa bóng:Andy Cole - 41 bàn (1993/1994)
  • Tổng số khán giả đông nhất: 68.386 (vớiChelsea, hạng nhất,3 tháng 9 năm1930)
  • Tổng số khán giả đông nhất ở giải Ngoại hạng: 52.327 (với Manchester United,28 tháng 8 năm2005)
  • Cầu thủ trẻ nhất:Steve Watson - 16 tuổi 223 ngày (10 tháng 11 năm1990)
  • Cầu thủ già nhất:Billy Hampson - 42 tuổi 225 ngày (09 tháng 4 năm1927)
  • Cầu thủ thi đấu lâu nhất:Frank Hudspeth - 19 năm (1910 - 1929)
  • Bán cầu thủ:Andy Carroll - 35 triệubảng (choLiverpool)
  • Mua cầu thủ:Michael Owen - 17 triệu bảng (từReal Madrid)

Cầu thủ

[sửa |sửa mã nguồn]

Đội hình hiện tại

[sửa |sửa mã nguồn]
Tính đến 1 tháng 9 năm 2025[15][16]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trongđiều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

SốVTQuốc giaCầu thủ
1TMAnhNick Pope
2HVAnhKieran Trippier(đội phó)
3HVAnhLewis Hall[a]
4HVHà LanSven Botman
5HVThụy SĩFabian Schär
6HVAnhJamaal Lascelles(đội trưởng thứ 3[b])
7TVBrasilJoelinton
8TVÝSandro Tonali
9CHDC CongoYoane Wissa
10AnhAnthony Gordon
11AnhHarvey Barnes
12HVĐứcMalick Thiaw
17HVThụy ĐiểnEmil Krafth
18Đan MạchWilliam Osula
SốVTQuốc giaCầu thủ
20Thụy ĐiểnAnthony Elanga
21HVAnhTino Livramento
23TVAnhJacob Murphy
26TMAnhJohn Ruddy[b]
27ĐứcNick Woltemade
28TVAnhJoe Willock
29TMAnhMark Gillespie[b]
30HVScotlandHarrison Ashby[b]
32TMAnhAaron Ramsdale(cho mượn từSouthampton)
33HVAnhDan Burn
37HVCộng hòa IrelandAlex Murphy[a]
39TVBrasilBruno Guimarães(đội trưởng)
41TVAnhJacob Ramsey
67TVAnhLewis Miley[a]

Cho mượn

[sửa |sửa mã nguồn]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trongđiều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

SốVTQuốc giaCầu thủ
TMHy LạpOdysseas Vlachodimos(tạiSevilla đến 30 tháng 6 năm 2026)
HVAnhMatt Targett(tạiMiddlesbrough đến 30 tháng 6 năm 2026)
SốVTQuốc giaCầu thủ
TVTây Ban NhaAntonio Cordero(tạiWesterlo đến 30 tháng 6 năm 2026)
TVAnhJoe White(tạiLeyton Orient đến 30 tháng 6 năm 2026)

Đội trẻ và Học viện

[sửa |sửa mã nguồn]
Bài chi tiết:Đội trẻ và Học viện Newcastle United F.C.

Các cầu thủ ở đội U-21 sau đây đã từng có tên trong đội hình thi đấu của Newcastle United cho một trận đấu chính thức:

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trongđiều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

SốVTQuốc giaCầu thủ
40AnhBen Parkinson
45TVNa UyTravis Hernes(cho mượn từGroningen)
58TMAnhAidan Harris(cho mượn từColeraine)
59TMAnhAdam Harrison
SốVTQuốc giaCầu thủ
60TVAnhTrevan Sanusi(cho mượn từLorient)
61HVAnhLeo Shahar
62AnhSean Neave
64TVHàn QuốcPark Seung-soo
  1. ^abcCầu thủ đội U-21.
  2. ^abcdKhông được đăng ký vào đội hình tham dựUEFA Champions League.

Cầu thủ của năm

[sửa |sửa mã nguồn]
NămCầu thủ giành giải
1976AnhAlan Gowling
1977AnhMicky Burns
1978AnhIrving Nattrass
1979AnhPeter Withe
1980AnhAlan Shoulder
1981AnhKevin Carr
1982Cộng hòa IrelandMick Martin
1983AnhKevin Keegan
1984AnhKevin Keegan
1985AnhPeter Beardsley
1986AnhPeter Beardsley
1987AnhPaul Goddard
 
NămCầu thủ giành giải
1988AnhPaul Gascoigne
1989ScotlandJohn Hendrie
1990AnhMicky Quinn
1991AnhJohn Burridge
1992AnhGavin Peacock
1993AnhLee Clark
1994AnhAndy Cole
1995AnhBarry Venison
1996AnhDarren Peacock
1997AnhSteve Watson
1998AnhDavid Batty
1999AnhAlan Shearer
 
NămCầu thủ giành giải
2000AnhAlan Shearer
2001Cộng hòa IrelandShay Given
2002PerúNolberto Solano
2003AnhAlan Shearer
2004PhápOlivier Bernard
2005Cộng hòa IrelandShay Given
2006Cộng hòa IrelandShay Given
2007AnhNicky Butt
2008SénégalHabib Beye
2009CameroonSébastien Bassong
2010Tây Ban NhaJosé Enrique
2011ArgentinaFabricio Coloccini
 
NămCầu thủ giành giải
2012Hà LanTim Krul
2013ÝDavide Santon
2014AnhMike Williamson
2015Hà LanDaryl Janmaat
2016Cộng hòa IrelandRob Elliot
2017Cộng hòa IrelandCiaran Clark
2018AnhJamaal Lascelles
2019VenezuelaSalomón Rondón
2020SlovakiaMartin Dubravka
2021AnhCallum Wilson
2022BrasilJoelinton
2023AnhKieran Trippier
 
NămCầu thủ giành giải
2024AnhAnthony Gordon
2025AnhDan Burn

Nguồn:Newcastle United F.C.

Chủ sở hữu

[sửa |sửa mã nguồn]
Chức vụTên
Chủ sở hữuẢ Rập Xê ÚtPublic Investment Fund
Giám đốc điều hànhAnhLee Charnley

Ban lãnh đạo

[sửa |sửa mã nguồn]

Đội một

[sửa |sửa mã nguồn]
Chức vụTên
Huấn luyện viên trưởngAnhEddie Howe
Trợ lý huấn luyệnAnh Jason Tindall
Huấn luyện đội mộtAnh Steve Agnew
Huấn luyện đội mộtAnhStephen Clemence
Huấn luyện đội mộtAnhSteve Harper
Huấn luyện viên thủ mônAnhSimon Smith
Trưởng bộ phận y tếAnh Paul Catterson
Thể hình, phục hồi chức năngTây Ban Nha Cristian Fernández Martínez
Thể lựcAnh Simon Tweddle
Trưởng khoa Vật lý trị liệuAnh Derek Wright
Vật lý trị liệuTây Ban Nha Daniel Martí
Vật lý trị liệuAnh Sean Beach
Trưởng bộ phận tuyển trạchAnh Steve Nickson
Trưởng bộ phận phân tíchAnh Kerry Morrow
Trưởng bộ phận Khoa học thể thaoAnh Jamie Harley
Khoa học Thể thaoAnh John Fitzpatrick
Khoa học Thể thaoAnh Jake Kemp

Đội dự bị và học viện

[sửa |sửa mã nguồn]
Chức vụTên
Giám đốc học việnAnhJoe Joyce
Huấn luyện viên trưởng U-23Anh Ben Dawson
Huấn luyện viên thể hình U-23Anh Simon Tweddle
Huấn luyện viên trưởng U-18AnhDave Watson
Huấn luyện viên trưởng U-17AnhKevin Richardson
Huấn luyện viên trưởng U-16Anh Liam Bramley
Huấn luyện viên trưởng U-15Anh Neil Winskill
Huấn luyện viên thủ mônAnh Steve Harper
Trợ lý huấn luyện viên thủ mônTây Ban Nha Daniel García
Huấn luyện viên thể hình U-18Anh Craig Musham
Huấn luyện viên thể hình U-16Anh Adam Rowan
Trưởng khoa Vật lý trị liệuAnh Stephen Weir
Vật lý trị liệuAnh Sean Beech
Vật lý trị liệuAnh Fraser Bell
Bác sĩAnh Tom Holland
  1. ^"Premier League Handbook 2022/23"(PDF). ngày 19 tháng 7 năm 2022. tr. 24.Lưu trữ(PDF) bản gốc ngày 5 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2023.
  2. ^"PIF, PCP Capital Partners and RB Sports & Media acquire Newcastle United Football Club". Newcastle United F.C. ngày 7 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2021.
  3. ^Morgan, Tom; Burt, Jason; Edwards, Luke; Amako, Uche (ngày 7 tháng 10 năm 2021)."Newcastle United takeover confirmed as £305m deal with Saudi-backed consortium finalised".The Daily Telegraph. London. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2021.
  4. ^"PIF, PCP Capital Partners and RB Sports & Media acquire Newcastle United Football Club". Newcastle United F.C. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2020.
  5. ^Bird, Simon (ngày 20 tháng 10 năm 2021)."Steve Bruce's huge pay-off details as he's sacked by Newcastle".Daily Mirror. London. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2022.
  6. ^"Steve Bruce leaves Newcastle by mutual consent after Saudi takeover".BBC Sport. ngày 20 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2021.
  7. ^"Newcastle United appoint Eddie Howe as head coach". Newcastle United F.C. ngày 8 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2021.
  8. ^"Burnley 1–2 Newcastle United".BBC Sport. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2022.
  9. ^NUFC Staff (ngày 21 tháng 8 năm 2022)."Newcastle United's women's team completes historic move to club ownership". Newcastle United F.C. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2022.
  10. ^"Newcastle secure top-four finish with Leicester draw".BBC Sport. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2023.
  11. ^Saqib, Faiza (ngày 11 tháng 8 năm 2023)."We Are Newcastle United: When will it be released, how to watch and what do we know about it?".The Independent. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2023.
  12. ^"Newcastle United Amazon Prime documentary: Release date, trailer, how to watch and which stars will feature".www.sportingnews.com. ngày 3 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2023.
  13. ^"'We Are Newcastle United' launches weekly on Prime Video next month".Newcastle United Football Club. ngày 26 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2023.
  14. ^McNulty, Phil (ngày 13 tháng 12 năm 2023)."Newcastle United 1–2 AC Milan".BBC Sport. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2024.
  15. ^"First Team". Newcastle United F.C.Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2022.
    "Out on Loan". Newcastle United F.C. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2022.
  16. ^Easterby, Tom (ngày 6 tháng 8 năm 2022)."Magpies' 2022/23 squad numbers confirmed". Newcastle United F.C. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2022.

Liên kết ngoài

[sửa |sửa mã nguồn]
Đội tuyển quốc gia
Các giải đấu
Hạng 1
Hạng 2–4
Hạng 5–6
Hạng 7–8
Hạng 9–10
Giải đấu Cúp
Các cúp FA
Các cúp League
Các cúp khác
Giải đấu trẻ
Giải đấu khác
Các danh sách
Mùa giải
Câu lạc bộ
2025–26
Trước đây
Giải đấu
Thống kê và
giải thưởng
Tài chính
Giải đấu
liên quan
Wikimedia Commons có thêm hình ảnh và phương tiện vềNewcastle United F.C..
Lấy từ “https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Newcastle_United_F.C.&oldid=74760187
Thể loại:
Thể loại ẩn:

[8]ページ先頭

©2009-2026 Movatter.jp