Movatterモバイル変換


[0]ホーム

URL:


Bước tới nội dung
WikipediaBách khoa toàn thư mở
Tìm kiếm

Makuria

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Vương quốc Makuria
Tên bản ngữ
  • ⲇⲱⲧⲁⲩⲟ
Thế kỷ thứ 5-Cuối thế kỷ 15/16
Quốc kỳ Makuria theo Sách Kiến thức về mọi Vương quốc Makuria
Vương quốc Makuria khi có lãnh thổ rộng nhất, khoảng năm 960
Vương quốc Makuria khi có lãnh thổ rộng nhất, khoảng năm 960
Tổng quan
Thủ đôDongola(cho đến năm 1365)
Gebel Adda(từ năm 1365)
Ngôn ngữ thông dụngTiếng Nubia
Tiếng Copt
Tiếng Hy Lạp
Tiếng Ả Rập[1]
Tôn giáo
Chính trị
Chính phủQuân chủ
Vua 
Qalidurut (vua đầu tiên được biết đến)
Joel (vua cuối cùng được biết đến)
Lịch sử
Lịch sử 
• Thành lập
Thế kỷ thứ 5
• Triều đình chạy trốn đến Gebel Adda, Dongola bị bỏ hoang
1365
• Giải thể
Cuối thế kỷ 15/16
Kinh tế
Đơn vị tiền tệVàng

Solidus

Dircham
Tiền thân
Kế tục
Vương quốc Kush
Banu Kanz
Vương quốc Hồi giáo Funj
Phó vương Ai Cập
Vương triều Ayyub
Hiện nay là một phần củaSudan
Ai Cập

Makuria (tiếng Nubia cổ:ⲇⲱⲧⲁⲩⲟ,Dotawo;tiếng Hy Lạp:Μακουρία,đã Latinh hoá: Makouria;tiếng Ả Rập:المقرة,đã Latinh hoá: al-Muqurra) là một vương quốcNubia nằm ở miền bắcSudan và miền namAi Cập ngày nay. Makuria ban đầu bao gồm khu vực dọc theosông Nin từghềnh thứ ba đến một nơi nào đó ở phía namAbu Hamad cũng như các vùng phía bắcKordofan. Thủ đô của nước này làDongola (tiếng Nubia cổ:Tungul), và vương quốc đôi khi được biết đến bằng tên thủ đô của nó.

Vào cuối thế kỷ thứ 6, Makuria đãcải đạo sangCơ đốc giáo, nhưng đến thế kỷ thứ 7, Ai Cập bị chinh phục bởi quân độiHồi giáo. Năm 651, một đội quân Ả Rập xâm lược, nhưng bị đẩy lùi và hiệp ướcBaqt đã được ký kết tạo ra một nền hòa bình tương đối giữa hai bên kéo dài cho đến thế kỷ 13. Makuria mở rộng bằng cách sáp nhập nước láng giềng phía bắcNobatia vào một thời điểm nào đó trong thế kỷ thứ bảy, đồng thời duy trì mối quan hệ triều đại chặt chẽ với vương quốcAlodia ở phía nam. Giai đoạn từ thế kỷ 9 đến thế kỷ 11 chứng kiến đỉnh cao của sự phát triển văn hóa tại Makuria: các tòa nhà hoành tráng mới được xây dựng, các tác phẩm nghệ thuật như tranh vẽ trên tường, đồ gốm được trang trí và chế tác tinh xảo phát triển mạnh mẽ vàtiếng Nubia trở thành ngôn ngữ viết thịnh hành.

Sự xâm lược gia tăng từ Ai Cập, bất hòa nội bộ, các cuộc xâm lăng của người Bedouin và có thể là bệnh dịch cùng sự thay đổi các tuyến đường thương mại đã dẫn đến sự suy tàn của nhà nước trong thế kỷ 13 và 14. Do một cuộc nội chiến vào năm 1365, vương quốc đã rơi vào tình trạng suy tàn, mất phần lớn lãnh thổ phía nam, bao gồm cả Dongola. Nó đã biến mất vào những năm 1560, khi ngườiOttoman chiếmHạ Nubia. Nubia sau đó bị Hồi giáo hóa, trong khi người Nubia sống ở thượng nguồnAl Dabbah và ởKordofan cũng bịẢ Rập hóa.

Nguồn gốc

[sửa |sửa mã nguồn]

Makuria được biết đến nhiều hơn so với nước láng giềngAlodia ở phía nam, nhưng vẫn còn nhiều điều chưa rõ. Nguồn tham khảo quan trọng nhất cho lịch sử của khu vực là nhiều nhà du hànhẢ Rập và nhà sử học đã đi qua Nubia trong thời kỳ này. Những lời tường thuật này thường có vấn đề vì nhiều nhà văn Ả Rập có thành kiến với láng giềng Cơ đốc của họ. Chúng thường chỉ tập trung vào các cuộc xung đột quân sự giữa Ai Cập và Nubia.[2] Một ngoại lệ làIbn Selim el-Aswani, một nhà ngoại giao Ai Cập đã đến Dongola khi Makuria đang ở đỉnh cao quyền lực vào thế kỷ thứ 10 và để lại một bản tường thuật chi tiết.[3]

Người Nubia là một xã hội biết chữ, và khá nhiều văn tự vẫn tồn tại từ thời kỳ này. Chúng được viết bằngtiếng Nubia cổ trong một dạngbảng chữ cái Hy Lạp với những ký hiệu Copt và một số ký hiệu chỉ có ở Nubia. Được viết bằng một ngôn ngữ có liên quan chặt chẽ vớitiếng Nobiin hiện đại, những tài liệu này đã được giải mã từ lâu. Tuy nhiên, phần lớn trong số đó là những tác phẩm liên quan đến tôn giáo hoặc hồ sơ pháp lý ít được các sử gia sử dụng. Bộ sưu tập lớn nhất được biết đến, được tìm thấy tạiQasr Ibrim, có chứa một số bản viết có giá trị của chính quyền.[4]

Văn hóa

[sửa |sửa mã nguồn]

Nubia Thiên Chúa giáo từ lâu đã được coi như một vùng đất tù túng, chủ yếu do các ngôi mộ của nó nhỏ và thiếuđồ mộ của các thời đại trước.[5] Các học giả hiện đại nhận ra rằng, đây là do các nguyên nhân văn hóa; người Makuria thực sự có một nền văn hóa và nghệ thuật phong phú và sôi động.

Ngôn ngữ

[sửa |sửa mã nguồn]

Bốn ngôn ngữ đã được sử dụng ở Makuria:tiếng Nubia,tiếng Copt,tiếng Hy Lạptiếng Ả Rập.[6] Tiếng Nubia bao gồm hai phương ngữ, trong đó Nobiin có thể đã được nói ở tỉnh miền bắc Nobadia vàDongolawi được nói ở trung tâm Makuria,[7] mặc dù trong thời kỳ Hồi giáo, Nobiin cũng được chứng minh là đã đượcbộ tộc Shaigiya ở đông namkhúc sông Dongola sử dụng.[8]

Xem thêm

[sửa |sửa mã nguồn]

Tham khảo

[sửa |sửa mã nguồn]
  1. ^Welsby 2002, tr. 239.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFWelsby2002 (trợ giúp)
  2. ^Shinnie 1965, tr. 266.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFShinnie1965 (trợ giúp)
  3. ^Adams 1977, tr. 257.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFAdams1977 (trợ giúp)
  4. ^Bowersock, Brown & Grabar 2000, tr. 614.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFBowersockBrownGrabar2000 (trợ giúp)
  5. ^Adams 1977, tr. 495.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFAdams1977 (trợ giúp)
  6. ^Welsby 2002, tr. 236–239.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFWelsby2002 (trợ giúp)
  7. ^Werner 2013, tr. 186.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFWerner2013 (trợ giúp)
  8. ^Bechhaus-Gerst 1996, tr. 25–26.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFBechhaus-Gerst1996 (trợ giúp)

Đọc thêm

[sửa |sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài

[sửa |sửa mã nguồn]
Quốc tế
Quốc gia
Khác
Lấy từ “https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Makuria&oldid=74645512
Thể loại:
Thể loại ẩn:

[8]ページ先頭

©2009-2026 Movatter.jp