Magnetit là mộtkhoáng vậtsắt từ có công thức hóa họcFe3O4, một trong cácoxide sắt và thuộc nhómspinel. Tên theoIUPAC làiron (II,III) oxide và thường được viết là FeO·Fe2O3, được xem là tập hợp củawüstit (FeO) vàhematit (Fe2O3). Công thức trên đề cập đến các trạng thái oxy hóa khác nhau của sắt trong cùng một cấu trúc chứ không phải trongdung dịch rắn.Nhiệt độ Curie của magnetit là 858 K.
Magnetit là khoáng vật có từ tính mạnh nhất trong các khoáng vật xuất hiện trong thiên nhiên.[2] Các mảnh magnetit bị từ hóa tự nhiên được gọi làlodestone sẽ hút các mẫu sắt nhỏ, vàtừ tính này cũng là cách mà người cổ đại khám phá ra tính chấttừ học đầu tiên. Lodestone được sử dụng trong cácla bàn. Magnetit thường mang các dấu hiệu từ trong các đá và vì thế nó được xem như là một công cụ để nghiên cứucổ từ, một khám phá khoa học quan trọng để hiểu được quá trìnhkiến tạo mảng và dữ liệu lịch sử chotừ thủy động lực học và các chuyên ngành khoa học khác. Các mối quan hệ giữa magnetit và các khoáng vật oxide giàu sắt khác nhưilmenit,hematit, vàulvospinel cũng đã được nghiên cứu nhiều, cũng như cácphản ứng phức tạp giữa các khoáng vật này vàoxy ảnh hưởng như thế nào đến sự bảo tồn trường từ của Trái Đất.
Magnetit có vai trò quan trọng trong việc tìm hiểu các điều kiện môi trường hình thành đá. Magnetit phản ứng với oxy để tạo ra hematit, và cặp khoáng vật hình thành mộtvùng đệm có thể khống chế sự phá hủy của oxy. Cácđá mácma thông thường chứa các hạt của 2dung dịch rắn, một bên là giữa magnetit và ulvospinel còn một bên là giữa ilmenit và hematit. Các thành phần của các cặp đôi khoáng vật được sử dụng để tính sự oxy hóa diễn ra như thế nào trongmacma (như sự phá hủy của oxy trong magma): một dải cácđiều kiện oxy hóa được tìm thấy trong mácma và trạng thái oxy hóa giúp xác định làm thế nào mácma có thể liên quan đếnsự kết tinh phân đoạn.
Các hạt magnetit nhỏ có mặt trong hầu đết các đá mácma và cácđá biến chất. Magnetit cũng được tìm thấy trong một số loạiđá trầm tích như trong cácthành hệ sắt dải. Trong một số đá mácma, các hạt giàu magnetit và ilmenit xuất hiện ở dạng kết tủa cùng nhau trong mácma. Magnetit cũng được sản xuất từperidotit vàdunit bằng phương phápserpentin hóa.
Mẫu có kiến trúc mịn, ~5cmMagnetit và các khoáng vật nặng khác (màu tối) trongcátthạch anh ởbãi biển (Chennai, Ấn Độ).
Magnetit đôi khi được tìm thấy với số lượng lớn trong cát biển. Các loạicát đen (cát khoáng vật hoặc cát sắt) được tìm thấy ở nhiều nơi nhưCalifornia và bờ biển tây củaNew Zealand. Magnetit được mang đến các bãi biển thông qua các con sông mang các vật liệu xói mòn và chúng được tập trung nhờ tác động của sóng và các dòng chảy.
Các mỏ lớn được tìm thấy trong các thành hệ sắt dải. Các đá trầm tích này được dùng để suy ra hàm lượng oxy trong khí quyển Trái Đất lúc nó được lắng đọng.
Các tinh thể magnetit được tìm thấy trong một vàivi khuẩn (nhưMagnetospirillum magnetotacticum) và trong não củaong, củamối, cá, một vài loàichim (nhưbồ câu) và con người.[4] Các tinh thể này được cho là liên quan đến sựcảm nhận từ,[4] một khả năng để cảm nhậncực hoặcđộ nghiêng củatừ trường Trái Đất, và liên quan đến sự định hướng.[5]Ốc song kinh có bộ răng làm bằng magnetit trênlưỡi gai của chúng làm cho chúng dễ phân biệt với các động vật khác.[6] Điều này có nghĩa rằng bộ lưỡi của chúng có khả năng mài mòn để kiếm thức ăn trên đá.
Magnetit cũng có thể được chế bởi sự đồng kết tủa, gồm một hỗn hợp dung dịch FeCl3·6H2O và FeCl2·4H2O 0,1 M với quay bằng động cơ với tốc độ khoảng 2000 vòng/phút. Tỷ lệ mol FeCl3:FeCl2 có thể là 2:1; nung dung dịch này ở 70 °C, và ngay sau đó nâng tốc độ quay lên 7500 vòng/phút và thêm nhanh dung dịch NH4OH (10% về thể tích), ngay lập tức sẽ hình thành kết tủa màu đen chứa các hạt magnetit kích thước nano.[cần dẫn nguồn]
Bột magnetit loại bỏAs(III) và As(V) ra khỏi nước rất hiệu quả, và hiệu quả loại bỏ tăng lên ~200 lần khi chúng có kích thước từ 300 đến 12 nm.[8] Nước uống nhiễm arsen (As) là một vấn nạn trên toàn thế giới, do đó ứng dụng magnetit với vai trò chất hấp thụ là một trong những giải pháp loại bỏ arsen trong nước.
Magnetit được dùng phổ biến ở dạng nguyên liệu thô trong các đồ trang sức của những chống lạigiả khoa học[9] vềnam châm liệu pháp. Khi được đánh bóng và làm thành đồ trang sức, magnetit có màu tối, sáng bóng với bề mặt láng.