Năm 1790, một uỷ ban được thành lập tại Pháp đã quyết định chọn độ dài một phần mười triệu đoạn kinh tuyến từđường xích đạo qua Paris đến Bắc Cực làm một độ dài chuẩn gọi là mét. Năm 1799, nó được định nghĩa lại dưới dạng thanh đo mẫu (thanh thực được sử dụng đã được thay đổi vào năm 1889). Năm 1960, mét được xác định lại theo một số bước sóng nhất định của một đường phát xạ của krypton-86. Năm 1983, định nghĩa hiện tại đã được thông qua.
Trong cách hành văn hàng ngày, nhiều khi một mét còn được gọi là mộtthước.
Nguồn gốc của đơn vị đo này có thể được bắt nguồn từ động từ Hy Lạp μετρέω (metreo) (để đo, đếm hoặc so sánh) và danh từ μέτρον (metron) (đo lường), được sử dụng để đo lường vật lý, đo lượng thơ và mở rộng để kiểm duyệt.
Thước mét tiêu chuẩn bằng platin-iridiTập tin:Atom schematisch.jpgBiểu diễn dưới dạng giản đồ của một nguyên tử để minh họa femtômét vàÅngström. Không theo đúng tỷ lệ.
1771: nhiều người đề nghị lấy độ dài quãng đường một vậtrơi tự do trong một giây làm đơn vị đo độ dài.
Cả hai ý kiến trên đều đã không được chấp nhận.
1790: Một ủy ban được thành lập tạiPháp đã quyết định chọn độ dài một phần mười triệu của đoạnkinh tuyến từxích đạo quaParis đếnBắc Cực làm một độ dài chuẩn gọi là mét.
1799: Ủy ban chế tạo thước mét chuẩn đầu tiên làm bằng 90%platin và 10%iridi.
Thế kỉ 19: cácphép đo chính xác hơn cho thấy rằng độ dài của thước mét bằng platin ngắn hơn độ dài 1/10 triệu đoạnkinh tuyến trên một đoạn 0,08mm.
Tháng 10 năm 1960: Hội nghị Đo lường Quốc tế khóa 11 quyết định: "độ dài một mét bằng 1.650.763,73 lần độ dàibước sóng ánh sángmàu vàng cam củaKprypton-86 phát ra trong chân không".
Ngày 20 tháng 10 năm 1983: Hội nghị Đo lường Quốc tế khóa 17 định nghĩa lại mét: "một mét là khoảng cách mà ánh sáng truyền được trong chân không trong khoảng thời gian của 1 / 299 792 458 giây".