Movatterモバイル変換


[0]ホーム

URL:


Bước tới nội dung
WikipediaBách khoa toàn thư mở
Tìm kiếm

Liban

Đây là một bài viết cơ bản. Nhấn vào đây để biết thêm thông tin.
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Cộng hòa Liban
Tên bản ngữ

Quốc ca
Vị trí của Liban (xanh) trên thế giới
Vị trí của Liban (xanh) trên thế giới
Vị trí của Liban (đỏ) trong khu vực
Vị trí của Liban (đỏ) trong khu vực
Tổng quan
Thủ đô
và thành phố lớn nhất
Beirut
31°47′B35°13′Đ / 31,783°B 35,217°Đ /31.783; 35.217
Ngôn ngữ chính thứcTiếng Ả Rập
Ngôn ngữ được công nhậnTiếng Ả Rập
Tiếng Pháp
Sắc tộc
(2021)[2]
Tôn giáo
(2024)[3][4]
Tên dân cưNgười Liban
Chính trị
Chính phủĐơn nhấtcộng hòa nghị viện
Joseph Aoun
Najib Mikati
Nabih Berri
Lập phápNghị viện Liban
Lịch sử
Thành lập
1 tháng 9 năm 1920
23 tháng 5 năm 1926
22 tháng 11 năm 1943
24 tháng 10 năm 1945
17 tháng 4 năm 1946
24 tháng 5 năm 2000
30 tháng 4 năm 2005
Địa lý
Diện tích 
• Tổng cộng
10.452 km2[a] (hạng 161)
4.036 mi2
• Mặt nước (%)
1,8%
Dân số 
• Ước lượng 2024
5.364.482[5] (hạng 117)
513/km2
1.329/mi2
Kinh tế
GDP  (PPP)Ước lượng 2022
• Tổng số
Tăng 78,233 tỷ đô la Mỹ[6] (hạng 108)
Tăng 11.793 đô la Mỹ[6] (hạng 114)
GDP  (danh nghĩa)Ước lượng 2022
• Tổng số
Tăng 21,78 tỷ đô la Mỹ[6] (hạng 103)
• Bình quân đầu người
Tăng 3.283 đô la Mỹ[6] (hạng 133)
Đơn vị tiền tệBảng Liban (LBP)
Thông tin khác
Gini? (2011)Giảm theo hướng tích cực 31.8[9]
trung bình
HDI? (2022)Tăng 0.723[10]
cao · hạng 109
Múi giờUTC+2 (EET)
• Mùa hè (DST)
UTC+3 (EEST)
Giao thông bênphải[7]
Mã điện thoại+961[8]
Mã ISO 3166LB
Tên miền Internet

Liban (tiếng Ả Rập:لبنانLibnān;IPA:[lɪbˈnæːn]), quốc hiệu chính thức làCộng hòa Liban (tiếng Ả Rập:الجمهورية اللبنانيةal-Jumhūrīyah al-Lubnānīyah;IPA:[elˈʒʊmhuːɾɪjjel.ˈlɪbnæːnɪjje]), là một quốc gia ởTrung Đông. Liban có nhiều núi, nằm cạnh bờ biển đông củaĐịa Trung Hải, giáp vớiSyria về phía Bắc và Đông,Israel về phía nam, nước này có bờ biển hẹp dọc theo ranh giới phía Tây.

Trướcnội chiến (1975-1990), Liban là một quốc gia thịnh vượng. Sau nội chiến, cho tới tháng 6 năm 2006, tình trạng căng thẳng chính trị mới dần được cải thiện. Tuy nhiên, xung đột giữa Israel vàHezbollah đã ảnh hưởng lớn đến quốc gia này.

Tên gọi

[sửa |sửa mã nguồn]

Cái tênLiban (cũng được viết là "Loubnan" hay "Lebnan") có nguồn gốc từnhóm ngôn ngữ Semit, nghĩa là "trắng", để chỉ đỉnh núi tuyết phủ ởnúi Liban.

Lịch sử

[sửa |sửa mã nguồn]
Bài chi tiết:Lịch sử Liban

Từ đầu thiên niên kỉ 3TCN,người Canaanngười Phoenicia đến xâm chiếm các vùng ven biển và lập các thành bang (Babylon,Berytos,SidonTyr). Từ thế kỷ VII TCN, đến thế kỷ I TCN, vùng lãnh thổ này lần lượt rơi vào ách thống trị của cácđế quốc Assyria,Babylon,Ba TưHy Lạp, rồi sáp nhập vào tỉnhSyria thuộc quyền kiểm soát củangười La Mã (Thế kỷ I TCN),người Byzantine. Vàothế kỷ VII, cuộc chinh phục củangười Ả Rập đã đẩy lùi những cộng đồng ngườiKitô giáo về phía các miền núi. Vùng này bịngười Franc chiếm đóng (1098-1291), rồi đến ngườiAi Cập trước khi hoàn toàn rơi vào sự thống trị củađế quốc Ottoman (1516).

Từthế kỷ XVII, các tiểu vương quốcHồi giáongười Druze đã thống nhất vùng núi Liban và tìm cách giành quyền tự trị, trong khi ảnh hưởng của cộng đồngCông giáo Maronite ngày càng lớn mạnh. Năm1861, tiếp theo những xung đột giữa cộng đồng Hồi giáo và cộng đồng Công giáo, Pháp đã can thiệp nhằm bảo vệ ngườiCông giáo và thành lập vùng tự trị Mont-Liban cho ngườiCông giáo năm1864. SauChiến tranh thế giới thứ I, Liban trở thành lãnh thổ ủy trị củaPháp. Năm 1943, Liban tuyên bố độc lập. Một "Hiệp ước dân tộc" được ký kết nhằm duy trì sự cân bằng quyền lựcchính trị giữa các cộng đồngHồi giáo Sunni,Shiangười Druze,Chính thống Hy LạpChính thống Armenia. Chức vụ Tổng thống thuộc về một thành viên thuộc cộng đồng người Maronite nhờ ưu thế đa số của ngườiCơ Đốc giáo, Thủ tướng là một ngườiHồi giáo Sunni; Chủ tịch nghị viện là một ngườiHồi giáo Shi'a.

Năm 1945, Liban tham gia thành lậpLiên minh Ả Rập.

Thịnh vượng kinh tế đi kèm theo những gia tăng bất công xã hội làm phát sinh những căng thẳng giữa các cộng đồng, dẫn đến cuộc nội chiến đầu tiên năm 1958.Quân đội Hoa Kỳ được gởi đến theo yêu cầu của Tổng thốngCamille Chamoun và rút quân sau khi thành lập chính quyền mới.

Năm1967, sau cuộcChiến tranh Ả Rập-Israel 1948, người Palestine ồ ạt chạy sang lánh nạn ở Liban. Sự hiện diện của khoảng 350.000 người tị nạnPalestineTổ chức Giải phóng Palestine (PLO) bịJordan trục xuất (1970- 1971) đã khiến cho cuộc nội chiến lần thứ hai bùng nổ năm 1976. Tình hình trở nên trầm trọng hơn khi quân độiSyria hiện diện ở một phần lãnh thổ Liban (1976) và sự can thiệp quân sự củaIsrael (1978). Năm 1982,quân đội Israel phong tỏa thủ đôBeyrouth và đánh đuổi lực lượng vũ trang của tổ chứcPLO. Năm 1985, quân đội Israel rút khỏi Liban, nhưng vẫn duy trì sự hiện diện ở phần lãnh thổ phía nam, được gọi là "vùng an toàn". Cuộc nội chiến vẫn tiếp tục kéo dài tình hình càng trở nên phức tạp hơn do những cuộc đối đầu giữa các khuynh hướngHồi giáo khác nhau. Từ năm 1985, nhóm Hồi giáoHezbollah gia tăng các vụ bắt cóc con tin ngườiphương Tây. Tình hình này đã khiến cho quân đội Syria quay trở lại chiếm đóng ở Tây Beyrouth năm1987. Nhiệm kì của Tổng thốngAmine Gemayel kết thúc năm1988 nhưng không có cuộc bầu cử người kế nhiệm. Hai chính phủ được hình thành: mộtchính phủ thuộcdân sựHồi giáo doSelim Hoss lãnh đạo đặt trụ sở tại Tây Beyrouth, chính phủ còn lại thuộc về giới quân sự và ngườiCơ Đốc giáo do TướngMichel Aoun lãnh đạo có trụ sở ở Đông Beyrouth. Năm1989,Elias Hraoui trở thành Tổng thống. Hiến pháp mới năm 1990 thành lập Đệ Nhị Cộng hòa ở Liban đồng thời thừa nhận lại các thỏa thuận được ký kết tạiTaif năm 1989. Thoả thuận được ký kết tạiTaif dự kiến lập lại sự cân bằng đại diện hợp pháp giữa các cộng đồngHồi giáo và cộng đồngCơ Đốc giáo trong đó quân đội Liban được sự ủng hộ củaSyria đã chấm dứt cuộc đối đầu của tướng Aoun. Năm 1991, hiệp ước Damascus lập quyền bảo hộ củaSyria tại Liban. Năm1996, cuộc chiến giữa tổ chứcHezbollahquân đội Israel lại diễn ra ác liệt ở miền Nam Liban.Tháng 5 năm2000,quân đội Israel rút quân khỏi miền Nam Liban, nhưng tình trạng xung đột giữaIsrael và tổ chức Hồi giáoHezbollah vẫn tiếp tục diễn ra.[11]

Vụ ám sát cựu Thủ tướngRafik Hariri ngày2 tháng 2 năm2005 làm dấy lên các cuộc biểu tình chống lại sự hiện diện củaquân đội Syria tại Liban và buộcSyria rút hết quân khỏi Libantháng 4 năm2005. Tháng 5 và tháng 6 năm 2005, Liban tổ chức cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên sau nội chiến không có sự can dự của nước ngoài dẫn đến thắng lợi cho liên minh củaSaad Hariri (con trai cựu Thủ tướng Hariri bị sát hại) chiếm gần 2/3 số ghế Quốc hội. Sau 18 tháng khủng hoảng chính trị và 6 tháng bỏ trống ghế tổng thống, ngày25 tháng 5 năm2008. Quốc hội Liban đã bầu ôngMichel Suleiman làm Tổng thống mới, chấm dứt cuộc khủng hoảng chính trị nói trên. Tuy nhiên, sau khi nhiệm kỳ ông Michel Suleiman kết thúc, khủng hoảng lại xảy ra. Ghế tổng thống bị bỏ trống hơn hai năm. Trong khi đó, chính phủ thì tê liệt và xảy ra một cuộc khủng hoảngrác. Ngày31 tháng 10 năm2016, sau hơn 30 cuộc họp, nghị viện đã bầu ôngMichel Aoun, cựu tướng quân đội, từng làm tổng thống từ năm 1988 đến năm 1990 làm tổng thống,[12] và ngày18 tháng 12,Saad Hariri được bổ nhiệm làm thủ tướng, chấm dứt khủng hoảng.

Chính trị

[sửa |sửa mã nguồn]
Chính trị và chính phủ
Liban
Bài chi tiết:Chính trị Liban

Liban là một nướccộng hòa trong đó ba chức vụ cao nhất được dành cho các thành viên thuộc các nhóm tôn giáo cụ thể:

Sự sắp đặt này là một phần của "Hiệp ước Quốc gia" (tiếng Ả Rập: الميثاق الوطني -al Mithaq al Watani), một thỏa thuận không được ghi thành văn bản được đưa ra năm 1943 trong cuộc gặp gỡ giữa tổng thống đầu tiên của Liban (một tín đồ Maronite) và thủ tướng đầu tiên (một tín đồ Sunni), dù nó không được chính thức hóa trongHiến pháp Liban cho tới tận năm 1990, tiếp sauThỏa thuận Taif. Hiệp ước gồm cả một lời hứa của những ngườiKitô giáo không tìm kiếm sự bảo vệ củaPháp và chấp nhận "bộ mặtẢ Rập" cho Liban, và lời hứa của ngườiHồi giáo công nhận sự độc lập và tính hợp pháp của nhà nước Liban trong biên giới được vạch ra năm 1920 và từ bỏ tham vọng liên bang vớiSyria. Hiệp ước này dù khi ấy chỉ là một thỏa hiệp tạm thời, vẫn rất cần thiết cho tới khi Liban thật sự có được một sự đồng nhất quốc gia. Nó vẫn tiếp tục hiện diện và các cuộc nội chiến tiếp diễn sau đó tiếp tục có ảnh hưởng thống trị tới chính trị Liban.

Hiệp ước cũng quy định rằng số ghế trong Nghị viện phải được phân chia theo tôn giáo và theo vùng, với tỷ lệ 6 thành viên Kitô giáo trên 5 thành viênHồi giáo, một tỷ lệ dựa trên cuộc điều tra dân số năm 1932, được tiến hành ở thời điểm các tín đồKitô giáo vẫn chiếm một đa số nhỏ.Thỏa thuận Taif thêm rằng tỷ lệ số ghế của haitôn giáo sẽ là ngang nhau.

Hiến pháp cho phép người dân thay đổi chính phủ. Mặc dù, từ giữathập niên 1970 cho tới cuộc bầu cử nghị viện năm 1992, cuộc nội chiến đã không cho phép người dân thực thi quyền này. Theo hiến pháp, các cuộc bầu cửnghị viện trực tiếp phải được tiến hành bốn năm một lần. Cuộc bầu cử gần đây nhất diễn ra năm 2000; cuộc bầu cử dự định năm 2004 đã bị trì hoãn một năm.

Thành phần nghị viện dựa trên sắc tộc và tôn giáo nhiều hơn ý thức hệ. Sự phân chia số ghế trong nghị viện gần đây đã được thay đổi.

Nghị viện bầu raTổng thống nước cộng hòa với nhiệm kỳ sáu năm. Tổng thống bị cấm giữ nhiệm kỳ liên tục. Quy định hiến pháp này đã được thông qua bởi hai lần sửa đổi gần đây, tuy nhiên, dưới sức ép củachính phủSyria. Nhiệm kỳ củaElias Hrawi đúng ra đã kết thúc năm 1995, nhưng được kéo dài thêm ba năm nữa. Việc này lại được lặp lại năm 2004 cho phépEmile Lahoud tiếp tục giữ ghế tới năm 2007. Những người ủng hộ dân chủ đã phản đối những hành động này.

Cuộc bầu cử tổng thống cuối cùng diễn ra năm 1998.Tổng thống chỉ địnhThủ tướng dựa trên sự đề xuất củaNghị viện. Liban có nhiềuđảng chính trị, nhưng vai trò của chúng kém quan trọng trong đa số các hệ thống nghị viện. Trên thực tế, đa số chỉ đại diện cho quyền lợi của riêng mình; nhiều người trong số họ được lọt vào danh sách ứng cử viên chỉ vì là người nổi tiếng trong nước hay trênthế giới. Phiếu bầu thường dựa theo các cuộc đàm phán giữa các lãnh đạo địa phương, lãnh đạo dòng họ, các nhóm tôn giáo và các đảng chính trị; những liên minh lỏng lẻo này chỉ tồn tại trong thời gian bầu cử và hiếm khi hợp tác chặt chẽ với nhau thành một khối trong Nghị viện sau đó.

Hệ thống tư pháp Liban dựa trênLuật Napoléon. Các bồi thẩm đoàn không hiện diện tại các phiên xử. Hệ thống tòa án Liban có ba mức - tòa sơ thẩm, tòa phúc thẩm, và tòa phá án. Cũng có một hệ thống tòa án tôn giáo có quyền tái phán đối với các cá nhân bên trong cộng đồng của họ, phán xử các vụ như hôn nhân, ly dị, và thừa kế. Luật pháp Liban không quản lýhôn nhân dân sự (dù nó vẫn quản lý các cuộc hôn nhân có yếu tố nước ngoài); những nỗ lực của cựuTổng thốngElias Hrawi nhằm hợp pháp hóa hôn nhân vào cuối thập kỷ 1990 về vấn đề này chỉ nhận được sự phản đối từ các giáo sĩHồi giáo. Ngoài ra, Liban có một hệ thống các tòa án quân sự cũng có quyền tài phán đối với cá nhân dân sự đối với các tội như gián điệp, phản bội, và các tội khác bị coi có liên quan tới an ninh. Các tòa án quân sự này bị các tổ chứcnhân quyền nhưÂn xá quốc tế chỉ trích vì "vi phạm nghiêm trọng các tiêu chuẩn quốc tế về xét xử công bằng" và có "quyền tài phán quá rộng đối với các công dân".

Các vùng hành chính

[sửa |sửa mã nguồn]
Bài chi tiết:Phân cấp hành chính Liban

Liban được chia thành sáutỉnh (muhafazah, số nhiềumuhafazat); các tỉnh này lại được chia thành 25quận (qadaa, số nhiềuaqdya), dưới nữa là nhiều khu đô thị bao quanh một nhóm các thành phố hay làng mạc.

Phân chia hành chính

Địa lý

[sửa |sửa mã nguồn]
Bài chi tiết:Địa lý Liban
Xem thêm:Vùng phía nam Liban

Là một quốc gia ở phía tây vùngTrung Đông, Liban giáp vớiĐịa Trung Hải ở phía tây (bờ biển: 225 km) và phía đông giáp vớiVùng trũng Syria-Châu Phi. Liban có 375 km biên giới ở phía bắc vớiSyria và 79 km biên giới ở phía nam vớiIsrael. Biên giới với Israel đã đượcLiên hiệp quốc thông qua (xemĐường Xanh (Liban)), dù một phần lãnh thổ nhỏ, gọi làShebaa Farms nằm trongCao nguyên Golan được Liban tuyên bố chủ quyền nhưng bị Israel chiếm đóng, Israel tuyên bố trên thực tế vùng đất này thuộc Syria. Liên hiệp quốc đã chính thức tuyên bố vùng này thuộc Syria và không phải lãnh thổ của Liban, nhưngHezbollah thỉnh thoảng tung ra các đợt tấn công vào Israeli vào các vị trí bên trong đó, với danh nghĩa giải phóng lãnh thổ Liban.

Kinh tế

[sửa |sửa mã nguồn]
Bài chi tiết:Kinh tế Liban

Liban có một nềnkinh tế thị trườngđang phát triển. Kinh tế theo định hướng lấydịch vụ làm chủ đạo, các lĩnh vực tăng trưởng chính bao gồmngân hàngdu lịch. Không hề có hạn chế trao đổingoại tệ hay di chuyển đồngvốn, và độbảo mật ngân hàng rất chặt chẽ. Đặc biệt không hề có hạn chế đối vớiđầu tư nước ngoài. Tính đến năm 2016,GDP danh nghĩa của Liban đạt 51.815tỷUSD, đứng thứ 80thế giới, đứng thứ 28châu Á và đứng thứ 10Trung Đông.

Cuộc nội chiến giai đoạn 1975-1991 đã tàn phá nghiêm trọng hạ tầng kinh tế Liban, làm giảm một nửa sản lượngsản xuất, và chấm dứt vị trí trung tâm phân phối vùng đôngTrung Đông và đầu mốingân hàng của nước này. Hòa bình giúp chính phủ trung ương tái kiểm soát quyền lực ởBeirut, bắt đầu thuthuế và tái kiểm soátcảng biển chính và các cơ sở chính phủ. Kinh tế hồi phục nhờ một hệ thốngtài chính ngân hàng lành mạnh và nhờ sự phục hồi nhanh chóng các cơ sở sản xuất nhỏ và vừa với các khoản tiền hỗ trợ gia đình gửi về từ nước ngoài, các dịch vụ ngân hàng,xuất khẩu sản phẩmnông nghiệp, trợ giúp nước ngoài và các nguồn trao đổingoại tệ.

Trong những năm qua, nền kinh tế Liban đã có bước phát triển đáng kể. Mức tài sản của các ngân hàng đạt tới tới hơn 70 tỷ dollar. Thậm chí với mức giảm sút 10% trong lĩnh vực du lịch năm 2005, vẫn có hơn 1.2 triệukhách du lịch đã tới nước này. Sự tư bản hóathị trường đang ở mức cao nhất. Tư bản hóa đạt hơn 7 tỷ dollar vào cuối tháng 1 năm 2006. Tuy nhiên, với hậu của những cuộc tấn công từ phíaIsrael vào tháng 7 năm 2006, nền kinh tế nước này bắt đầu bước vào giai đoạn suy thoái nghiêm trọng.[cần dẫn nguồn]

Nhân khẩu

[sửa |sửa mã nguồn]
Bài chi tiết:Nhân khẩu Liban
Nhà thờ Kitô giáo và Hồi giáo bên cạnh nhau, Liban là đất nước đa dạng tôn giáo nhất Trung Đông.
Tôn giáo tại Liban (2014)
  1. Hồi giáo (54,0%)
  2. Thiên Chúa giáo (40,4%)
  3. Druze (5,60%)

Dân số Liban gồm ba nhóm sắc tộc và tôn giáo chính:Hồi giáo (Shi'ites,Sunnis,Alawite), giáo pháiDruze, vàKitô giáo (đa số làCông giáo Maronite,Chính thống giáo Hy Lạp,Tông truyền Armenia,Công giáo Melkite, cũng nhưChính thống giáo Syria,Công giáo Armenia,Công giáo Syria,Công giáo Chaldea,Công giáo Latinh,Cảnh giáo,Chính thống giáo CopticTin Lành). Liban là quốc gia có số dân theo Kitô giáo đông nhất khu vực Trung Đông.

Không có số liệu điều tra dân số chính thức nào được tiến hành từ năm 1932, phản ánh sự nhạy cảm chính trị tại Liban về sự cân bằng tôn giáo. Theo ước tính khoảng 27% dân số là ngườiHồi giáo Sunni, 27% là ngườiHồi giáo Shia, 39% là ngườiKitô giáo và 5% ngườiDruze. Từng có một số lượng nhỏ ngườiDo Thái, chủ yếu sống tại trung tâm Beirut. Tương tự, một cộng đồng nhỏ (chưa tới 1%) người Kurds (cũng được gọi là Mhallamis hay Mardins) sống tại Liban. Có gần 15 triệu người Liban sống trên khắp thế giới, chủ yếu là tín đồ Kitô giáo,Brasil là nước có cộng đồng người Liban ở nước ngoài lớn nhấtArgentina,Úc,Canada,Colombia,Pháp,México,VenezuelaHoa Kỳ cũng là những nước có số người nhập cư vào Liban đông đảo.

360.000 người tị nạnPalestine đã đăng ký vớiCơ quan cứu trợ và việc làm Liên hợp quốc (UNRWA) tại Liban từ năm 1948, ước tính số người này hiện còn khoảng từ 180.000 đến 250.000.

Dân số thành thị, tập trung chủ yếu tạiBeirutNúi Liban, có số lượng doanh nghiệp thương mại rất đáng chú ý. Một thế kỉ rưỡi di cư rồi quay trở lại khiến mạng lưới thương mại của người Liban mở rộng trên toàn cầu từBắcNam Mỹ tớiChâu Âu,Vịnh Ba TưChâu Phi. Liban có lực lượng lao động trình độ và tay nghề cao gần tương đương với đa số các nước châu Âu.

Giáo dục

[sửa |sửa mã nguồn]
Bài chi tiết:Giáo dục tại Liban

Lịch sử giáo dục Liban

[sửa |sửa mã nguồn]

Hai bộ đầu tiên quản lý giáo dục ở Liban là Bộ giáo dục và giáo dục cao học, và Bộ nghề nghiệp và đào tạo kỹ thuật, để thúc đẩy hệ thống giáo dục Liban. Năm 1946, sau khi giành độc lập (26 tháng 11 năm 1941) chính phủ đã thông báo chương trình giảng dạy cũ, từ thời bảo hộ Pháp, bằng các chương trình đào tạo mới và ngôn ngữ Ả Rập được dùng làm ngôn ngữ giảng dạy chính tại mọi trường, mang tính bắt buộc đối với mọi cấp học. Chính phủ cũng cho phép mọi sinh viên quyền tự do chọn lựa ngôn ngữ thứ hai hay thứ ba (tiếng Pháp, tiếng Anh, vân vân). Sau đó vào năm 1968 và 1971, chương trình giảng dạy lại được sửa đổi một lần nữa. Mỗi bậc giáo dục được quy định với mục tiêu chi tiết và nội dung các kỳ thi cũng được tiêu chuẩn hóa. Trước chiến tranh, năm 1975, Liban có tỷ lệ biết chữ thuộc hàng cao nhấtthế giới Ả Rập. Hơn 80% người dân Liban biết đọc và viết. Nhưng kể từ đó, Liban trở thành một đất nước hỗn loạn làm héo hon nhân dân, tất cả đều vì lý do nội chiến và sự can thiệp nước ngoài. Khi cuộc chiến được tuyên bố "kết thúc", người dân Liban đã bắt đầu tái thiết lại xã hội của mình, thúc đẩy giáo dục thông qua các biện pháp tự do hóa và khuyến khích.

Trường học tại Liban

[sửa |sửa mã nguồn]

Các trường học ở Liban được chia theo ba tiêu chí -trường tư,trường công và bán công. Các trường công thuộc quyền quản lý của chính phủ (Bộ Giáo dục) và miễn phí, được hỗ trợ từ tiền thuế. Bộ Giáo dục cung cấp cho các trường công mọi cuốn sách cần thiết, đối với mỗi cấp giáo dục, số học phí hầu như không đáng kể và thường là miễn phí. Các trường bán công, đa số là trường của nhà thờ như Ecoles des Saint Coeurs, hoạt động như các trường tư nhưng cũng không thu học phí giống như trường công. Các trường còn lại có thu học phí nhưng vẫn được hưởng trợ cấp của chính phủ.

Chính phủ buộc mọi trường học ở Liban đều phải theo một chương trình giảng dạy do Bộ giáo dục đưa ra. Các trường tư có thể thêm các môn học khác nhưng phải được sự đồng ý của Bộ Giáo dục. Ví dụ, các tiết học máy tính có tại hầu hết các trường học dù không thuộc trong chương trình giảng dạy chính thức. Đối với các trường học không có cơ sở vật chất dạy môn này, mọi sinh viên quan tâm đều có thể theo học các khoá máy tính tại các học viện hay các trung tâm khác có mặt ở hầu hết các vùng của Liban.

Tổng số trường công là 192 trường trung học và 1,125 trường tiểu học. Trong số trường trung học, 16 trường dành riêng cho nam sinh và 12 cho nữ sinh, 164 trường còn lại cho cả hai giới. Các trường tiểu học có tổng số 238.556 học sinh với 24.463 giáo viên. Ở tất cả các trường, học sinh được học với các giáo viên chuyên trách từng môn, không có giáo viên chung cho tất cả các môn. Mỗi lớp có khoảng 25 học sinh (một số trường công có thể lên tới 40 học sinh vì thiếu giáo viên). Các môn học chính làToán học,Khoa học,Lịch sử,Giáo dục công dân,Địa lý,tiếng Ả Rậptiếng Pháp/tiếng Anh/hay cả hai. Các cơ sở vật chất phục vụ giáo dục khác nhưGiáo dục thể chất,nghệ thuật,thư viện (không phải ở mọi trường), và chủ yếu tại các trường tư có thêm chuyên gia tư vấn.

Chương trình giảng dạy tại các trường Liban

[sửa |sửa mã nguồn]

Trường công, trường tư và bán công phải theo một chương trình giảng dạy đồng nhất do Bộ giáo dục đề ra đối với trẻ em từ 6 đến 11 tuổi

  • Trung học cơ sở – Bốn năm, học sinh được cấpBằng trung học khi hoàn thành
  • Trung học – Ba năm, học sinh qua các kỳ thi chính thức được cấpBằng tú tài toán, khoa học thực nghiệm và triết học

Giáo dục là miễn phí đối với mọi học sinh và là bắt buộc theo luật. Tuy nhiên, "bắt buộc" không hoàn toàn được tôn trọng. Đã có các kế hoạch nhằm thay đổi vấn đề này trong tương lai gần.

Các trường cao đẳng và đại học

[sửa |sửa mã nguồn]

Sau trung học, sinh viên Liban có thể lựa chọn học tập tại một trường đại học, một trường cao đẳng, một học viện hay một "trường kỹ thuật cao cấp". Số năm học thay đổi tuỳ theo từng trường.

Liban có 15 trường đại học trong số đóĐại học Hoa Kỳ tại Beirut (AUB) vàĐại học Hoa Kỳ Liban được công nhận quốc tế. AUB là trường đại học sử dụng tiếng Anh đầu tiên mở cửa tại Liban, trong khi trường đại học đầu tiên làĐại học Saint-Joseph của Pháp. 15 trường đại học, cả công và tư đều có sử dụng tiếng Ả Rập, tiếng Pháp hay tiếng Anh bởi vì đây là những ngôn ngữ được dùng nhiều nhất ở Liban. Có bốn học viện Pháp, 7 học viện Anh và 1 học viện Armenia. Nói chung, các trường đều dạy tiếng Ả Rập và bởi vì đây là ngôn ngữ được dùng nhiều nhất, vì thế nó cũng là ngôn ngữ căn bản trong chương trình học.

Tại các trường đại học dùng tiếng Anh, sinh viên nào đã tốt nghiệp từ một trường sử dụng chương trình dạy kiểu Mỹ vào học sẽ được cấp bằng tương đương với bằng của Bộ giáo dục cao học Liban. Bằng này chứng nhận cho họ được theo học các mức cao hơn. Các sinh viên đó cần có trình độSAT I,SAT IITOEFL để không phải qua các kỳ thi chính thức.

Giao thông vận tải

[sửa |sửa mã nguồn]
Bài chi tiết:Vận tải tại Liban

Văn hóa

[sửa |sửa mã nguồn]
Bài chi tiết:Văn hóa Liban

Liban từng là ngã ba đường giữa các nền văn minh trong nhiều thiên niên kỷ, vì vậy không ngạc nhiên khi một đất nước nhỏ lại sở hữu một nền văn hóa giàu có và mạnh mẽ đến như vậy. Số lượng lớn các nhóm sắc tộc, tôn giáo ở Liban khiến nước này có một nền văn hóaẩm thực, âm nhạc và các truyền thống văn học cũng như lễ hội rất lớn và đa dạng. Các trường phái nghệ thuật ởBeirut phát triển đầy sinh khí với nhiều cuộc trưng bày nghệ thuật sắp đặt, triển lãm, các buổi trình diễn thời trang, và các buổi hòa nhạc được tổ chức quanh năm tại các gallery, các bảo tàng, nhà hát và các tụ điểm công cộng. Liban có một xã hội hiện đại, giáo dục cao và có lẽ có thể so sánh được với các nước châu Âu ở vùng Địa Trung Hải. Đa số người Liban có thể sử dụng hai thứ tiếng,tiếng Ả rậptiếng Pháp, điều này giải thích việc Liban là một thành viên củaCộng đồng Pháp ngữ (La Francophonie); tuy nhiên,tiếng Anh cũng đã dần trở nên phổ biến, đặc biệt trong các sinh viên đại học. Đất nước này không chỉ là nơi giao hòa giữa Thiên chúa giáo và Hồi giáo mà Liban còn là cánh cổng nối thế giới Ả Rập với châu Âu cũng như là cây cầu cho châu Âu tới Ả Rập.

Liban cũng có nhiềutrường đại học lớn, gồm Đại học Liban,Đại học Hoa Kỳ tại Beirut,Đại học Saint-JosephĐại học Hoa Kỳ Liban.

Nhiều lễ hội quốc tế được tổ chức tại Liban, với những nghệ sĩ và khán giả từ Liban cũng như từ nước ngoài. Những lễ hội mùa hè nổi tiếng nhất tại Baalbek, Beiteddine và Byblos.

Xem thêm

[sửa |sửa mã nguồn]

Chú thích

[sửa |sửa mã nguồn]
  1. ^Khashan, Hilal (tháng 12 năm 1990)."The Political Values of Lebanese Maronite College Students".The Journal of Conflict Resolution.34 (4):723–744.doi:10.1177/0022002790034004007.JSTOR 174186.S2CID 145632505.The heritage of the Maronites is perceived as anything Phoenician, Greco-Roman, Mediterranean, or internationalist, but not Arab.
  2. ^"Lebanon – the World Factbook". ngày 23 tháng 9 năm 2021.Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2021.
  3. ^International Foundation for Electoral Systems (tháng 9 năm 2011)."Overview of the current 26 electoral districts"(PDF).
  4. ^دراسة نقدية في قانون الانتخاب النسبي. Lebanon Files
  5. ^"Lebanon".The World Factbook (ấn bản thứ 2026).Cơ quan Tình báo Trung ương. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2024. (Archived 2024 edition.)
  6. ^abcd"World Economic Outlook Database, October 2023 Edition. (Lebanon)".Quỹ Tiền tệ Quốc tế. ngày 10 tháng 10 năm 2023.Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2023.
  7. ^"Driving in Lebanon". adcidl.com.Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2013.
  8. ^Lỗi chú thích: Thẻ<ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tência
  9. ^"Gini Index coefficient". CIA World Factbook.Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2021.
  10. ^"Human Development Report 2023/24"(PDF) (bằng tiếng Anh).Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc. ngày 13 tháng 3 năm 2024. tr. 275.Lưu trữ(PDF) bản gốc ngày 13 tháng 3 năm 2024. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2024.
  11. ^http://www.mofa.gov.vn/vi/cn_vakv/nr040830134623/nr040819103013/ns080619151144#OmJVZEXL8g5f. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2015.{{Chú thích web}}:|title= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  12. ^Lỗi chú thích: Thẻ<ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tênAoun

Liên kết ngoài

[sửa |sửa mã nguồn]
Tìm hiểu thêm về
Lebanon
tạicác dự án liên quan
Tìm kiếm WiktionaryTừ điển từ Wiktionary
Tìm kiếm CommonsTập tin phương tiện từ Commons
Tìm kiếm WikinewsTin tức từ Wikinews
Tìm kiếm WikiquoteDanh ngôn từ Wikiquote
Tìm kiếm WikisourceVăn kiện từ Wikisource
Tìm kiếm WikibooksTủ sách giáo khoa từ Wikibooks
Tìm kiếm WikiversityTài nguyên học tập từ Wikiversity
 Vị trí địa lý
Quốc gia

chủ quyền
Quốc gia được
công nhận hạn chế
Lãnh thổ phụ thuộc
Đặc khu hành chính
Anh
Trung Quốc
Úc
Thành viên
Thành viên
Afghanistan • Albania • Algérie • Azerbaijan • Bahrain • Bangladesh • Bénin • Burkina Faso • Brunei • Cameroon • Tchad • Comoros • Bờ Biển Ngà • Djibouti • Ai Cập • Gabon • Gambia • Guinée • Guiné-Bissau • Guyana • Indonesia • Iran • Iraq • Jordan • Kuwait • Kazakhstan • Kyrgyzstan • Liban • Libya • Maldives • Malaysia • Mali • Maroc • Mauritanie • Mozambique • Niger • Nigeria • Oman • Pakistan • Palestine • Qatar • Ả Rập Xê Út • Sénégal • Sierra Leone • Somalia • Sudan • Suriname • Syria • Tajikistan • Thổ Nhĩ Kỳ • Tunisia • Togo • Turkmenistan • Uganda • Uzbekistan • Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất • Yemen
Quan sát viên
Quốc gia và vùng lãnh thổ
Cộng đồng Hồi giáo
Tổ chức quốc tế
Thành viên và Quan sát viênPhong trào không liên kết
Thành viên

Afghanistan · Algérie · Angola · Bahamas · Bahrain · Bangladesh · Barbados · Belarus · Belize · Bénin · Bhutan · Bolivia · Botswana · Brunei · Burkina Faso · Burundi · Campuchia · Cameroon · Cabo Verde · Cộng hòa Trung Phi · Tchad · Chile · Colombia · Comoros · Cộng hòa Congo · Bờ Biển Ngà · Cuba · Cộng hòa Dân chủ Congo · Djibouti · Cộng hòa Dominica · Ecuador · Ai Cập · Eritrea · Eswatini · Ethiopia · Gabon · Gambia · Ghana · Grenada · Guatemala · Guinea Xích Đạo · Guinée · Guiné-Bissau · Guyana · Honduras · Ấn Độ · Indonesia · Iran · Jamaica · Jordan · Kenya · Kuwait · Lào · Liban · Lesotho · Liberia · Libya · Madagascar · Malawi · Malaysia · Maldives · Mali · Maroc · Mauritanie · Mauritius · Mông Cổ · Mozambique · Myanmar · Namibia · Nepal · Nicaragua · Niger · Nigeria · Bắc Triều Tiên · Oman · Pakistan · Palestine · Panama · Papua New Guinea · Perú · Philippines · Qatar · Rwanda · St. Lucia · St. Vincent và Grenadines · São Tomé và Príncipe · Ả Rập Xê Út · Sénégal · Seychelles · Sierra Leone · Singapore · Somalia · Nam Phi · Sri Lanka · Sudan · Suriname · Syria · Tanzania · Thái Lan · Đông Timor · Togo · Trinidad và Tobago · Tunisia · Turkmenistan · Uganda · Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất · Uzbekistan · Vanuatu · Venezuela  · Yemen · Zambia · Zimbabwe

Quan sát viên



Lỗi chú thích: Đã tìm thấy thẻ<ref> với tên nhóm “lower-alpha”, nhưng không tìm thấy thẻ tương ứng<references group="lower-alpha"/> tương ứng

Lấy từ “https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Liban&oldid=74657372
Thể loại:
Thể loại ẩn:

[8]ページ先頭

©2009-2026 Movatter.jp