Krypton là mộtnguyên tố hóa học có ký hiệuKr vàsố nguyên tử bằng 36. Là mộtkhí hiếm không màu, krypton có mặt trongkhí quyển Trái Đất dưới dạng dấu vết và được cô lập bằng cách chưng cất phân đoạn không khí lỏng, và nó thường được sử dụng cùng các khí hiếm khác trong cácđèn huỳnh quang. Krypton mang các đặc tính hóa học củakhí trơ trong phần lớn các ứng dụng thực tế nhưng người ta đã biết rằng nó có thể phản ứng tạo ra hợp chất vớiflo. Krypton cũng có thể tạo ra cácmắt lưới vớinước khi các nguyên tử của nó bị mắc kẹt lại trong lưới các phân tử nước.
Krypton, trước đây được gọi là một khí trơ do có độ hoạt động hóa học rất yếu, được đặc trưng bởiquang phổ màuxanh lục vàda cam rực rỡ. Nó là một trong các sản phẩm phân rã hạt nhân củaurani. Krypton ở dạng rắn là chất kết tinh màu trắng với cấu trúc tinh thể là hình lập phương tâm mặt, đây cũng là tính chất chung của mọi "khí hiếm".
Krypton (tiếng Hy Lạpkryptos có nghĩa là "ẩn") đượcWilliam Ramsay vàMorris Travers phát hiện năm1898 trong phần còn lại của không khí lỏng khi cho bay hơi gần hết mọi thành phần.Neon được phát hiện bằng cách tương tự trong cùng một công trình chỉ vài tuần sau đó.[10] William Ramsay được traogiải Nobel hóa học năm 1904 vì phát hiện ra các nguyên tố thuộcnhóm khí hiếm. Năm1960 một thỏa thuận quốc tế đã xác định độ dài củamét theo thuật ngữ của bước sóng ánh sáng phát ra từ một đồng vị của krypton. Thỏa thuận này đã thay thế chomét tiêu chuẩn cũ được đặt ởParis – là một thanh kim loại được làm từ hợp kimplatin-iridi (mét cũ này được ước lượng bằng một phần mười triệu của một phần tư chu viTrái Đất tính theo hai cực). Vàotháng 10 năm1983 thì tiêu chuẩn krypton này cũng đã đượcBureau International des Poids et Mesures (Ủy ban đo lường quốc tế) thay thế. Mét hiện nay được định nghĩa như là khoảng cách mà ánh sáng có thể vượt qua trongchân không trong 1/299.792.458s.[11][12][13]
Trái Đất lưu giữ tất cả khí hiếm kể từ khi nó có mặt lúc Trái Đất hình thành trừheli. Nồng độ của khí này trong khí quyển Trái Đất là khoảng 1ppm. Nó có thể tách ra từ không khí hóa lỏng bằngchưng cất phân đoạn.[14] Lượng krypton trong không gian thì chưa chắc chắn và có nguồn gốc từ hoạt động củathiên thạch và từgió Mặt Trời. Các đo đạc đầu tiên cho rằng krypton rất phong phú trong không gian.[15]
Giống như các khí hiếm khác, krypton nói chung được coi là trơ về mặt hóa học. Tuy nhiên, các nghiên cứu từ năm1962 trở đi đã khám phá ra một sốhợp chất hóa học của krypton. Đifluoride krypton đã được tạo ra với khối lượng tính bằnggam và có thể sản xuất bằng một số cách khác nhau. Các fluoride vàmuối khác củaôxôaxít krypton cũng đã được tìm thấy. Cácphân tử-ionArKr+ và KrH+ cũng đã được nghiên cứu và có chứng cứ cho thấy sự tồn tại của KrXe hay KrXe+.
Krypton nguồn gốc tự nhiên bao gồm 5đồng vị ổn định và 1 đồng vị phóng xạ nhẹ. Vạch quang phổ của krypton dễ dàng được tạo ra với một số đường rất sắc nét. Kr81 là sản phẩm của các phản ứng trong khí quyển của các đồng vị nguồn gốc tự nhiên khác của krypton. Nó là đồng vịphóng xạ vớichu kỳ bán rã 250.000 năm. Giống nhưxenon, krypton rất dễ bay hơi khi nó gần với nước bề mặt và vì thế Kr81 được sử dụng để xác định niên đại củanước ngầm cổ (50.000–800.000 năm).Kr85 là đồng vị phóng xạ với chu kỳ bán rã 10,76 năm, được tạo ra bằng các phản ứngphân rã hạt nhân củaUranium vàPlutonium. Các nguồn tạo ra nó bao gồm các thử nghiệmbom nguyên tử,lò phản ứng hạt nhân và sự giải phóng Kr85 trong quá trình tái chế các thanhnhiên liệu từ các lò phản ứng hạt nhân. Người ta cũng ghi nhận là có sự chênh lệch về nồng độ của Kr85 ởBắc cực vàNam cực là khoảng 30%. Ở Bắc cực nồng độ này cao hơn do một thực tế là phần lớn đồng vị này được tạo ra ởBắc bán cầu và sự hòa trộn không khí giữa hai bán cầu diễn ra tương đối chậm.
Hợp chất bị phân hủy ngay sau khi việc cung cấp năng lượng bị ngừng lại. Trong quá trình phân hủy, lượng năng lượng dư thừa được lưu trữ trong hợp chất sẽ được thoát ra dưới dạng năng lượnglaser mạnh.
^"Section 4, Properties of the Elements and Inorganic Compounds; Melting, boiling, triple, and critical temperatures of the elements".CRC Handbook of Chemistry and Physics (ấn bản thứ 85). Boca Raton, Florida: CRC Press. 2005.
^Shuen-Chen Hwang, Robert D. Lein, Daniel A. Morgan (2005). "Noble Gases". Kirk Othmer Encyclopedia of Chemical Technology. Wiley. pp. 343–383. doi:10.1002/0471238961.0701190508230114.a01.
^William Ramsay, Morris W. Travers (1898). "On a New Constituent of Atmospheric Air".Proceedings of the Royal Society of London. Quyển 63. tr. 405–408.doi:10.1098/rspl.1898.0051.
^Cardelli, Jason A.; Meyer, David M. (1996). "The Abundance of Interstellar Krypton".The Astrophysical Journal Letters. Quyển 477 số 1. tr. L57 –L60.Bibcode:1997ApJ...477L..57C.doi:10.1086/310513.