Bài viết này chứa các biểu tượng ngữ âmIPA trongUnicode. Nếu không thích hợp hỗ trợ dựng hình, bạn có thể sẽ nhìn thấy dấu chấm hỏi, hộp, hoặc ký hiệu khác thay vì kí tự Unicode. Để có hướng dẫn thêm về các ký hiệu IPA, hãy xemTrợ giúp:IPA.
Từkanji bắt nguồn từ từtiếng Nhật漢字 (chuyển tự La-tinh:kanji). Cách viết "kanji" của nó được lấy từ hình thức chuyển tự La-tinh của từ tiếng Nhật này. Trong tiếng Nhật, từ漢字kanji được dùng để chỉ cả những chữ Hán được dùng để viếttiếng Nhật lẫn những chữ Hán được dùng để viết các ngôn ngữ khác. Từkanji trongtiếng Việt thường được dùng để chỉ những chữ Hán dùng để viết tiếng Nhật, hiếm khi được dùng để chỉ chữ Hán dùng để viết các ngôn ngữ khác.
Từ tiếng Nhật漢字kanji bắt nguồn từ từ tiếng Hán漢字 (âm Hán Việt:Hán tự).[1] Thư tịch tiếng Hán cổ nhất đã biết có sử dụng tên gọi漢字Hán tự để chỉ chữ Hán là sách梵語千字文Phạm ngữ thiên tự văn (còn có tên gọi khác là唐字千鬘聖語Đường tự thiên man thánh ngữ,梵唐千字文Phạm Đường thiên tự văn) do nhà sư đờiĐườngNghĩa Tịnh viết dưới thời vuaĐường Cao Tông.[2] Thư tịch cổ nhất đã biết do người Nhật viết gọi chữ Hán là漢字Hán tự là sách照権実鏡Chiếu quyền thật kính do nhà sưTối Trừng viết năm Hoằng Nhân (弘仁) thứ 8 (Tây lịch năm 817). Tên gọi漢字Hán tự được dùng trong sách để phân biệt chữ Hán với một loại văn tự khác được đề cập đến trong sách làchữ Phạm.[3]
漢字Hán tự trở thành tên gọi phổ biến của chữ Hán ở Nhật Bản trước khi nó trở nên phổ biến ở Trung Quốc. Tại Trung Quốc, trước thời cận đại, trong tiếng Hán không có tên gọi chỉ riêng chữ Hán được đông đảo người nói tiếng Hán biết đến. Suốt trong khoảng thời gian từ khi xuất hiện tên gọi漢字Hán tự cho đến trước thời cận đại, người nói tiếng Hán thường chỉ gọi chữ Hán là 字tự hoặc 文văn hoặc 文字văn tự. Các tên gọi này đều chỉ có nghĩa là chữ, chữ viết, không phải là tên gọi chỉ riêng chữ Hán. Thời Thanh mạt (1840–1912), một số người Trung Quốc có học vấn sang Nhật Bản, biết được rằng người Nhật gọi chữ Hán là漢字Hán tự, sau khi trở về Trung Quốc đã dùng từ漢字Hán tự để chỉ chữ Hán. Nhờ đó mà tên gọi漢字Hán tự mới trở nên phổ biến trong tiếng Hán.[4]
Khi hiragana và katakana chưa xuất hiện, tiếng Nhật được viết hoàn toàn bằng chữ Hán. Giống nhưâm Hán Việt của người nói tiếng Việt, người nói tiếng Nhật cũng có âm đọc tiêu chuẩn bắt nguồn từ tiếng Hán để đọc chữ Hán trong văn bảnvăn ngôn. Âm đọc của chữ Hán khi được dùng để viết tiếng Nhật có thể giống với âm văn ngôn hoặc không. Nghĩa mà một chữ Hán biểu thị khi được dùng để viết tiếng Nhật có thể giống hoặc khác với nghĩa mà của chữ Hán đó biểu thị khi được dùng để viết văn ngôn. Khi âm và nghĩa của chữ Hán dùng để viết tiếng Nhật đều giống với âm và nghĩa của chữ Hán khi dùng để viết văn ngôn thì chữ Hán được người nói tiếng Nhật thời xưa gọi là真名chân danh. Khi âm hoặc nghĩa hoặc cả âm lẫn nghĩa của chữ Hán dùng để viết tiếng Nhật không giống âm và nghĩa của chữ Hán trong văn ngôn thì chữ Hán được gọi là仮名giả danh. Chữ Hán dùng theo kiểu仮名giả danh về sau phát triển thành chữ平仮名bình giả danh và片仮名phiến giả danh. Hiện nay, chữ仮名giả danh theo nghĩa nêu trên được gọi là万葉仮名vạn diệp giả danh, trong khi仮名giả danh thì thường được dùng để chỉ chung bình giả danh và phiến giả danh.[5]
Có một số bất đồng về cách thức chữ Hán du nhập vàoNhật Bản, nhưng ý kiến được chấp nhận rộng rãi nhất là cácnhà sư đã mang các văn bản chữ Hán vào Nhật vào khoảngthế kỉ thứ 5. Các văn bản này được viết bằng chữ Hán vào và lúc đầu cũng được đọc bằng âm Hán. Tuy nhiên qua thời gian, hệ thống Hán văn (漢文,kanbun) xuất hiện - nó dùng văn bản chữ Hán với dấu thanh cho phép người Nhật đọc nó theo quy tắc ngữ pháp tiếng Nhật.
Lúc bấy giờ tiếng Nhật chưa có dạng chữ viết. Ngay cả hệ thống chữ viếtvạn diệp giả danh (万葉仮名man'yōgana, được dùng trong tuyển tập thơ cổVạn diệp tập) cũng dùng bộ Kanji với số ký tự hạn chế nhằm ký âm, chứ không nhằm diễn đạt ngữ nghĩa. Man'yōgana viết ở dạng đường cong trở thànhhiragana (ひらがな, 平仮名), một hệ thống chữ viết dành cho phụ nữ (không được phép tham gia vào nền giáo dục cao). Hầu hết văn chương của phụ nữ vào thời đạiHeian được viết bằng hiragana. Song song đó,katakana (カタカナ, 片仮名) xuất hiện do được các tu sinh giản lượcmanyogana thành một thành tố đơn. Hiragana và katakana được gọi chung làkana.
Khi hệ thống chữ viết tiếng Nhật trưởng thành và mở rộng, kanji được dùng để viết một số phần trong câu, nhưdanh từ,tính từ vàđộng từ, cònhiragana được dùng để viết đuôi củađộng từ (okurigana), từ chỉ có ở tiếng Nhật và từ khó đọc hay nhớ bằng Kanji. Hiragana cũng được dùng trong sách dùng cho trẻ em và khi muốn giảm nhẹ mức độ của từ hoặc lời yêu cầu, thí dụ như từkudasai (ください, xin vui lòng) vàkodomo (子供, trẻ em). Ngược lại, vì có hình dạng góc cạnh, katakana được dùng để biểu thị từ tượng thanh, các âm thô và đột ngột, âm thanh của động vật và từ vay mượn của nước ngoài. Tuy nhiên cần lưu ý rằng việc dùng katakana để viết từ vay mượn chỉ xuất hiện sau này. Lúc đầu, các từ này được viết bằng kanji, dựa theo nghĩa (煙草 tabako, thuốc lá) hay theo phát âm (tempura天婦羅 hay天麩羅, tên một món ăn). Ngày nay thì ngược lại. Từ vay mượn, đặc biệt là gốctiếng Anh, đang nhanh chóng thay thế cả những từ thường dùng có sẵn dạng tương đương trong tiếng Nhật thay vì được dùng để lấp khoảng trống từ vựng. Một giáo sưngôn ngữ học ước tính đến 1/3 tiếng Nhật văn nói dùng từ vay mượn haywasei-eigo, từ tiếng Anh được phát minh bởi người Nhật và từ kết hợp nhưパソコンpasokon (personalcomputer,máy tính cá nhân)
Trong khi một số từ chữ Hán trong tiếng Nhật và trong tiếng Trung có thể đọc qua lại lẫn nhau, một số từ Kanji của tiếng Nhật không có chữ Hán tương đương trong tiếng Trung. Ngoài những từ được dùng với nghĩa khác, những từ có cùng nghĩa nhưng viết khác, cũng có những từ riêng của tiếng Nhật được gọi làQuốc tự (国字Kokuji), còn được gọi làHoà chế Hán tự (和製漢字Wasei Kanji, tức "chữ Hán do người Nhật tạo ra"). Có hàng trăm Quốc tự (xemdanh sách ở sci.lang.japan AFAQLưu trữ ngày 25 tháng 4 năm 2005 tạiWayback Machine), và mặc dù một số từ này ít được dùng, những từ còn lại đã góp phần quan trọng và ngôn ngữ viết tiếng Nhật. Ví dụ như:
Một số Kanji trong tiếng Nhật có thể được viết theo 2 thể khác nhau: thể kanji cũ được gọi làCựu tự thể (旧字体,Kyūjitai?), và thể kanji mới được gọi làTân tự thể (新字体,Shinjitai?). Dưới đây là một số thí dụ về hai cách viết, trong đó cách viết cũ đứng trước cách viết mới:
國 国koku,kuni ("quốc", tức quốc gia)
號 号gō ("hiệu", nghĩa là số, ký hiệu, dấu hiệu)
變 変hen, ka(waru) ("biến", nghĩa là thay đổi)
Cựu tự thể được dùng trước khiChiến tranh thế giới thứ hai kết thúc; sau chiến tranh chính phủ Nhật đưa ra tân tự thể với lối viết đơn giản hóa. Một số chữ mới này tương tự vớichữ Hán giản thể được dùng tạiCộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Thường thì trong tiếng Nhật, nếu chữ Hán đó có Shinjitai thì Kyujitai sẽ không được sử dụng. Tuy vậy nhiều chữ ở Kyujitai vẫn được dùng thường xuyên dù có Shinjitai, và giữa 2 tự thể còn có thể khác nghĩa. Ví dụ chữ "Long" (ryuu - "rồng"), Kyujitai:龍, Shinjitai:竜, đều dùng phổ biến như nhau. Hay chữ "diệp", Kyujitai:葉 - "は(ha) - lá cây", nhưng ở Shinjitai:叶, nó chỉ được dùng trong động từ "kanaimasu" -叶います - "đáp ứng, phù hợp", và không thể tráo đổi 2 thể này ở từ "lá cây" và "đáp ứng" được (tức là muốn viết chữ "diệp" có nghĩa là "lá cây", phải viết chữ葉, không được viết chữ叶, dù 2 thể của chữ "diệp" này trong tiếng Nhật đều được sử dụng phổ biến).
Có một số chữ Hán Tân tự thể trong tiếng Nhật viết giống Giản thể của tiếng Trung, tuy nhiên Cựu tự thể và Phồn thể của hai bên là khác nhau. Ví dụ như chữ芸, ở Trung Quốc nó là giản thể của chữ蕓 (vân - trong "vân đài", một tên Hán Việt cổ của raucải bẹ xanh), tuy nhiên ở Nhật Bản nó là tân tự thể của chữ藝 (nghệ - trong "nghệ thuật", "kỹ nghệ"). Vì thế chữ芸 nếu sử dụng trong tiếng Trung sẽ mang âm Hán Việt là "vân", còn nếu sử dụng trong tiếng Nhật nó sẽ mang âm Hán Việt là "nghệ".
Cũng có những chữ Hán được dùng trong tiếng Nhật chỉ với mục đích phát âm gọi làateji (当て字 ), và nhiều chữ Hán không được dùng trong tiếng Nhật. Tuy nhiên về mặt lý thuyết, bất cứ chữ Hán nào cũng có thể là chữ Nhật Bản.Đại Hán-Hòa từ điển (大漢和辞典,Morohashi Daikanwa Jiten) là từ điển chữ Hán dùng trong tiếng Nhật lớn nhất cho đến nay; nó có gần 5 vạn mục từ, bao gồm cả những mục từ chưa từng được dùng trong tiếng Nhật.
Trong tiếng Nhật, có một số ký tự đặc biệt được sử dụng khi viết cùng Kanji:
Dấu lặp lại Kanji ngay trước - "々" - được gọi là "kurikaeshi" (くりかえし). Ký tự này khi viết sau 1 chữ Hán, ta sẽ đọc nó theo âm của chữ Hán trước nó (tất nhiên sẽ có vài trường hợp biến âm sang âm đục hay âm bán đục cùng hàng). Ký tự này giúp người viết không cần phải viết lại chữ Hán ở trước nó. VD:
"tokidoki" (ときどき - "thỉnh thoảng") vốn sẽ viết là 2 chữ "thời" -時時 - trong tiếng Nhật ta sẽ viết 1 chữ "thời" với ký tự này -時々.
"hibi" (ひび - "ngày ngày") vốn sẽ viết là 2 chữ "nhật" -日日 - trong tiếng Nhật ta sẽ viết 1 chữ "nhật" với ký tự này -日々.
"iroiro" (いろいろ- "nhiều") vốn sẽ viết là 2 chữ "sắc" -色色 - trong tiếng Nhật ta sẽ viết 1 chữ "sắc" với ký tự này -色々.
Tương tự như vậy trong một số tên của người Nhật: Nene (寧々), Nonohana (野々花),...
Chữ "ke -ケ" của katakana khi viết nhỏ lại (nhỏ bằng chữ "tsu -っ/ッ" với chức năng là âm ngắt) và đứng cạnh chữ Hán, sẽ được đọc là "ka" hoặc "ga".
Do cách thức du nhập vàotiếng Nhật, một ký tự kanji có thể được dùng để viết một hoặc nhiều từ (hayhình vị, trong hầu hết các trường hợp) khác nhau. Từ cách nhìn nhận của người đọc, kanji cũng có một hoặc nhiều cách đọc khác nhau. Để quyết định sử dụng cách đọc nào, người ta phải dựa vào văn cảnh, dụng ý, hoàn cảnh phức hợp, thậm chí là vị trí từ kanji đó trong câu. Một số từ kanji thông dụng có từ 10 cách đọc trở lên. Những cách đọc này thường được phân loại thành nhómon'yomi (hay cách đọcon) hoặckun'yomi (hay cách đọckun).
On'yomi (音読み, "Âm Độc") hay "Hán Ngữ" (漢語 -kango), còn gọi là âm Hán-Nhật, là sự Nhật hóa cách phát âmtiếng Hán của Hán tự (trừ tiếng Hán cổ) vào thời điểm nó được du nhập vào (tương tự nhưâm Hán-Việt của tiếng Việt). Một số ký tự Kanji được du nhập từ các vùng khác nhau củaTrung Quốc vào các thời điểm khác nhau, dẫn đến có nhiềuon'yomi, và thường có nhiều ý nghĩa. Nhữngkanji được phát minh thêm ở Nhật thường không cóon'yomi, nhưng cũng có một số ngoại lệ, chẳng hạn ký tự働 (động) "làm việc", cókun'yomi làhataraku vàon'yomi làdō, hay ký tự腺 (tuyến), chỉ có cách đọcon'yomi làsen.
Cách đọcKan-on (漢音 - "Hán âm" - âm củatiếng Hán) có xuất xứ từ cách phát âm trong thời kỳnhà Đường[6] vào khoảng thế kỷ thứ 7 - 9, chủ yếu lấy cách phát âm ở kinh đôTrường An của nhà Đường làm tiêu chuẩn.
Cách đọcTō-on (唐音 - "Đường âm") có xuất xứ từ cách phát âm của các triều đại sau đó, nhưnhà Tống[7] (宋) vànhà Minh (明). Đây là cách đọc chủ yếu được du nhập trong các thời kỳHeian (平安) cho đếnEdo (江戸). Ngoài ra còn một dạng khác là Tōsō-on (唐宋音 - "Đường Tống âm").
Cách đọcKan'yō-on (慣用音 - "Quán dụng âm"- âm đọc theo thói quen) là những cách đọc ra đời do bị biến đổi, nhầm lẫn và được người Nhật chấp nhận trong ngôn ngữ của họ.
Các ví dụ (những cách đọc hiếm dùng nằm trong dấu ngoặc đơn)
Kanji
Hán Việt
Nghĩa
Go-on
Kan-on
Tō-on
Kan'yō-on
明
minh
sáng
myō
mei
(min)
—
行
hành
đi, đến
gyō
kō
(an)
—
極
cực
cực hạn
goku
kyoku
—
—
珠
châu
ngọc, châu báu
shu
shu
ju
(zu)
度
độ
mức độ, trình độ
do
(to)
—
—
輸
thâu
chuyên chở
(shu)
(shu)
—
yu
雄
hùng
giống đực, mạnh
—
—
—
yū
熊
hùng
con gấu
—
—
—
yū
子
tử
đứa trẻ
shi
shi
su
—
清
thanh
trong
shō
sei
(shin)
—
京
kinh
thủ đô
kyō
kei
(kin)
—
兵
binh
quân, lính
hyō
hei
—
—
強
cường
mạnh khỏe
gō
kyō
—
—
Kiểu đọc thông dụng nhất làkan-on. Cách đọcgo-on đặc biệt thông dụng trong các thuật ngữđạo Phật, chẳng hạngokuraku極楽 "cực lạc". Cách đọctō-on được dùng trong một số từ nhưisu椅子 (ỷ tử) "chiếc ghế" hayfuton布団 (bố đoàn) "tấm nệm".
Trong tiếng Hán, hầu hết các ký tự chỉ có một âm tiết tiếng Hán duy nhất. Tuy nhiên, một số từ đồng chuế khác nghĩa (cùng cách viết, khác ý nghĩa) được gọi là多音字 (đa âm tự -bính âm: duōyīnzì) như行 (hành -bính âm: háng hay xíng) (tiếng Nhật:kō,gyō) có nhiều hơn một cách đọc biểu diễn những ý nghĩa khác nhau, điều này cũng được phản ánh ở sự tiếp nhận trong tiếng Nhật. Ngoài ra, nhiều âm tiết tiếng Hán, đặc biệt là các âm tiết vớithanh nhập (入声), không tương thích với cácâm vị phụ-nguyên âm dùng rộng rãi trong tiếng Nhật cổ. Do đó hầu hếton'yomi được hình thành bởi haimorae (âm tiết hay nhịp), mora thứ hai có thể là sự kéo dài của nguyên âm trong mora thứ nhất, hoặc là một trong các âm tiếtku,ki,tsu,chi, hoặc âm tiếtn, và được lựa chọn một cách tương đương nhất so với các nguyên âm cuối trongtiếng Hán trung cổ. Thực tế,các phụ âm vòm ở trước các nguyên âm không phải lài, cũng như âm tiếtn, có lẽ đã được thêm vào tiếng Nhật để mô phỏng dễ hơn tiếng Hán; không đặc điểm nào trong số này xảy ra trong tiếng Nhật nguyên gốc.
On'yomi được dùng chủ yếu trong các từ ghép kanji (熟語jukugothục ngữ), một số là kết quả do du nhập cùng với chính những ký tự kanji đó từ các từ các từ tiếng Hán do có thể không tồn tại trong tiếng Nhật hoặc không thể phát âm rõ ràng nếu chỉ sử dụng ngôn ngữ bản địa. Quá trình vay mượn ngôn ngữ này tương tự với quá trình vay mượn các từ tiếng Latin hoặc tiếng Pháp Noóc-măng đối với tiếng Anh, hay vay mượn các từ tiếng Pháp hoặc tiếng Anh đối vớitiếng Việt; bởi các thuật ngữ mượn tiếng Hán thường có tính chuyên môn hóa uyên bác, âm tiết kiểu cách hơn so với từ bản địa tương ứng. Ngoại lệ đáng kể nhất trong nguyên tắc này làtên họ, trong đó thường sử dụng cách đọckun'yomi hơn.
Cách đọc kiểu Nhật hay cách đọc bản địa,kun'yomi (訓読み, "Huấn Độc") hay "Hòa Ngữ" (和語 -"wago"), là cách đọc một Kanji lấy nghĩa, dựa trên cách phát âm của một từ tương đươngtiếng Nhật, tứcyamatokotoba. Cách đọc này chuyển nghĩa của kanji sang một chữ tương xứng nhất trong tiếng Nhật. Giống vớion'yomi, mỗi kanji có thể có một hoặc nhiều cách đọc. Có khi kanji đó chỉ cóon'yomi mà không cókun'yomi.
Lấy ví dụ, chữ東 (đông) có cách đọcon'yomi làtō (とう). Tuy nhiên,tiếng Nhật vốn đã có 2 từ mang nghĩa "phía đông" làhigashi (ひがし) vàazuma (あずま). Do đó,東 có những cách đọckun làhigashi vàazuma. Ngược lại, chữ寸 (thốn) biểu thị một đơn vị đochiều dài trong tiếng Hán (xấp xỉ 3 cm),tiếng Nhật bản địa không có từ nào mang nghĩa tương đương. Do đó, nó chỉ có cách đọcon làsun và không có cách đọckun nào. Hầu hết cáckokuji, tức các ký tự kanji do người Nhật tạo ra thêm, chỉ có các cách đọckun.
Đặc trưng củakun'yomi được quyết định bởi cấu trúc âm tiết (phụ)-nguyên củayamatokotoba (大和言葉). Hầu hết cáckun'yomi của danh từ và tính từ thường có độ dài từ 2 đến 3 âm tiết, không tính các ký tựhiragana đi kèm có tên gọiokurigana.Okurigana không được xem là một phần trong bản chất cách đọc của ký tự chữ Hán đó, mặc dù chúng là một phần trong cách đọc của toàn bộ từ. Người mới học tiếng Nhật có thể ít khi gặp phải các ký tự có cách đọc dài, nhưng những cách đọc có ba bốn âm tiết hay thậm chí nhiều hơn không hề hiếm. Những từ như承るuketamawaru và 志kokorozashi có đến 5 âm tiết chỉ để biểu đạt một ký tự kanji, đây là những cách đọc dài nhất trong số các kanji nằm trong bộJōyō kanji. Nếu viết theo hiragana sẽ là うけたまわる và こころざし, khá là dài, vì thế người Nhật hay viết bằng Kanji cho các từ này, đặc biệt là trong nhắn tin và email để giảm dung lượng và số ký tự phải gửi.
Trong một số trường hợp, nhiều hơn một từ kanji được dùng để biểu diễn một từtiếng Nhật duy nhất. Điều này thường xảy ra khi những từ kanji khác nhau biểu diễn những sắc thái ý nghĩa khác nhau. Chẳng hạn, từ なおす (naosu) có nghĩa là "sửa", "chữa", nhưng khi viết là治す thì mang nghĩa là "chữa bệnh" (sinh vật sống), còn khi viết là直す thì mang nghĩa là "sửa chữa cái gì đó" (đồ vật). Đặc điểm phân biệt nhiều khi rất rõ ràng nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Sự khác biệt quan điểm giữa các tài liệu tham khảo không phải là hiếm; một cuốn từ điển có thể nói rằng những từ kanji này là tương đương, trong khi một cuốn từ điển khác lại chỉ ra những điểm khác biết trong cách dùng. Kết quả là, người bản địa cũng có thể không nắm rõ từ kanji nào được dùng, họ dựa vào sở thích cá nhân hoặc đành viết từ đó bằnghiragana. Thói quen này thường gặp đối với những trường hợp phức tạp như từ もとmoto, có thể viết bằng ít nhất 5 kanji:元,基,本,下 và素, ba ký tự đầu trong số đó chỉ có rất ít sự khác biệt về sắc thái.
Những cách đọc kanji trong ngôn ngữ địa phương cũng được phân loại bằngkun'yomi, cách đọc đáng chú ý nhất là trongtiếng Ryukyu.
Có nhiều từ ghép kanji sử dụng kết hợp cách đọcon'yomi vàkun'yomi, gọi là các từjūbako (重箱) hayyutō (湯桶), chúng chính là những ví dụ của loại từ ghép này (chúng là nhữngtừ tự diễn giải): ký tự đầu tiên củajūbako được đọc bằngon'yomi, ký tự thứ hai dùngkun'yomi, những cách đọc khác liên quan đếnyutō. Đó là dạngtừ lai trongtiếng Nhật. Có thể kể một số ví dụ khác, như場所basho "nơi, địa điểm" (cách đọckun-on),金色kin'iro "màu vàng kim" (on-kun) hay合気道aikidō "môn võAikido" (kun-on-on).
Một số kanji cũng có những cách đọc ít được biết đến hơn gọi lànanori (名乗り), hầu hết được dùng chotên người, và thường liên quan đến cách đọckun'yomi. Tên địa danh đôi khi cũng dùng cách đọcnanori hoặc, thỉnh thoảng hơn, có những cách đọc rất riêng không theo quy luật nào cả.
Gikun (義訓) hayjukujikun (熟字訓thục tự huấn) là những cách đọc các từ ghép kanji không tương ứng với cảon'yomi haykun'yomi của mỗi ký tự trong từ đó. Lấy ví dụ,今朝 ("sáng nay") không đọc là*ima'asa - tương ứng vớikun'yomi của mỗi ký tự -, cũng không đọc là*konchō - tương ứng vớion'yomi của mỗi ký tự -, mà được đọc làkesa — một từ tiếng Nhật Bản địa có 2 âm tiết (đây có thể được xem là mộthình vị đơn nhất, hoặc sự hợp nhất của今日kyō (trước đây làkefu), "hôm nay", và朝asa, "buổi sáng").
Nhiềuateji (当て字, kanji chỉ dùng để biểu diễn ngữ âm) có các ý nghĩa được suy ra từ cách dùng của chúng: ví dụ, từ cổ亜細亜ajia trước đây được dùng để biểu diễn "Asia" (châu Á) bằng kanji; ký tự亜 (á) ngày nay có nghĩa là "Asia" (châu Á) trong những từ ghép như東亜tōa, "Đông Á". Từ cách viết亜米利加amerika, "Hoa Kỳ", lấy ra ký tự thứ 2, tạo thành từ gần chính thức米国beikoku, dịch sát nghĩa là "mễ quốc" nhưng vẫn mang nghĩa "Hoa Kỳ".
Mặc dù có nhiều quy tắc khi nào dùng cách đọcon'yomi hay khi nào dùngkun'yomi, trong tiếng Nhật tràn ngập các trường hợp không theo quy tắc, và ngay cả người bản địa không phải lúc nào cũng có thể biết cách đọc của một ký tự nếu không có kiến thức tốt.
Quy tắc vỡ lòng là đối với những kanji độc lập, chẳng hạn một ký tự biểu diễn một từ đơn nhất, thường được đọc bằng cách đọckun'yomi của chúng. Chúng có thể được viết cùng vớiokurigana để biểu đạt biến cách kết thúc của động từ hay tính từ, hay do qui ước. Ví dụ:情けnasake "sự cảm thông",赤いakai "đỏ",新しいatarashii "mới",見るmiru "nhìn",必ずkanarazu "nhất định, nhất quyết".Okurigana là một khía cạnh quan trọng trong cách dùng kanji trong tiếng Nhật; xem bài viết đó để biết thêm vềkun'yomi.
Các từ ghép kanji nhìn chung được đọc bằngon'yomi, trong tiếng Nhật gọi là熟語jukugo (thục ngữ). Ví dụ,情報jōhō "thông tin",学校gakkō "trường học", và新幹線shinkansen "tàu tốc hành" đều tuân theo dạng này. Sự khác nhau giữa quy tắc đọc kanji độc lập và ghép làm cho nhiều từ có ý nghĩa gần giống nhau nhưng lại có cách đọc hoàn toàn khác nhau.東 "đông" và北 "bắc" khi đứng độc lập dùng cách đọckun tương ứng làhigashi vàkita, trong khi từ ghép北東 "đông bắc" lại dùng cách đọcon làhokutō. Điều này còn phức tạp hơn bởi thực tế nhiều kanji có nhiều hơn một cách đọcon'yomi:生 (sinh) đọc làsei trong từ先生sensei "giáo viên" nhưng lại đọc làshō trong一生isshō nghĩa là "cả đời người". Ý nghĩa cũng có thể là tác nhân đối với cách đọc;易 (dị) đọc lài khi nó mang nghĩa "đơn giản" (易しいyasashii), nhưng lại thànheki khi nó mang nghĩa "tiên đoán, bói toán", cả hai cách đọc đều làon'yomi của ký tự này.
Quy tắc vỡ lòng này cũng có rất nhiều ngoại lệ. Số lượng những từ ghép đọc bằngkun'yomi không lớn nhưon'yomi, nhưng cũng không phải là hiếm. Chẳng hạn như 手紙tegami "thư",日傘higasa "cái ô", hay một từ khá nổi tiếng神風kamikaze "ngọn gió thần thánh". Những từ ghép như thế cũng có thể có okurigana, như空揚げ (còn được viết là唐揚げ)karaage "đồ ăn chiên" và折り紙origami "nghệ thuật gấp giấy", mặc dù nhiều khi chúng được viết bỏ đi okurigana (ví dụ,空揚 hay折紙).
Tương tự, một số ký tựon'yomi cũng có thể được dùng như một từ khi đứng độc lập:愛ai "tình yêu",禅Zen "thiện",点ten "dấu chấm". Hầu hết các trường hợp này liên quan đến những kanji không cókun'yomi, nên có thể không có sự nhầm lẫn, mặc dù vẫn có các ngoại lệ. Ký tự độc lập 金 có thể đọc làkin "tiền, vàng" hoặc cũng có thể làkane "tiền, kim loại"; chỉ có cách dựa vào ngữ cảnh mới biết được cách đọc và ý nghĩa trong dụng ý của người viết.
Do có nhiều cách đọc nên số lượng từ cùng cách viết khác ý nghĩa cũng tăng lên, nhiều khi chúng có các ý nghĩa khác nhau phụ thuộc vào cách đọc. Lấy một ví dụ là từ上手, có thể đọc theo 3 cách khác nhau:jōzu (khéo léo, giỏi),uwate (phần trên), hoặckamite (phần trên). Thêm nữa, từ上手い lại được đọc làumai (khéo léo, giỏi). Người ta thườngfurigana trong những trường hợp này để làm rõ sự nhập nhằng về ý nghĩa.
Như đã nói ở trên, cách đọc重箱jūbako và湯桶yutō cũng không hề hiếm. Thực tế, toàn bộ 4 kiểu kết hợp cách đọc đều có thể xảy ra:on-on,kun-kun,kun-on vàon-kun.
Nhiều tên địa danh nổi tiếng, nhưTokyo (東京Tōkyō) hay ngay cả tênNhật Bản (日本Nihon hoặc nhiều khi đọc làNippon) được đọc bằngon'yomi; tuy nhiên, đại đa số địa danh ở Nhật được đọc bằngkun'yomi:大阪Ōsaka,青森Aomori,箱根Hakone. Khi các ký tự được dùng để viết tắt tên địa danh, cách đọc của chúng có thể không như nguyên gốc. Đội bóng chày của Osaka (大阪) và Kobe (神戸) có tên gọi Hanshin (阪神) Tigers, được lấy từ cách đọcon'yomi của kanji thứ 2 trong từŌsaka và đầu tiên trong từKōbe. Tên của tuyến đường sắt Keisei (京成) nối thành phố Tokyo (東京) và Narita (成田) cũng tương tự như vậy, nhưng cách đọc ký tự京 trong東京 lại biến thànhkei, mặc dùkyō là một cách đọcon'yomi trong từTōkyō.
Tên họ của người Nhật cũng thường được đọc bằngkun'yomi:山田Yamada,田中Tanaka,鈴木Suzuki. Tên riêng tuy không hẳn được đọc theo kiểujūbako hayyutō đã đề cập, mà cũng bao gồm lẫn lộnkun'yomi,on'yomi vànanori:大助Daisuke [on-kun],夏美Natsumi [kun-on]. Do các bậc cha mẹ thường tự lựa chọn theo ý riêng, nên cách đọc tên riêng thường không theo bất kỳ quy tắc nào và cũng không thể biết chắc chắn cách đọc tên riêng của một người nếu không xác định lại. Người đặt tên có thể khá sáng tạo, có những đứa trẻ mang tên地球Āsu hay天使Enjeru, nghĩa đen tương ứng là "Địa Cầu" và "Thiên Sứ", những cách phát âm cũng gần giống các từtiếng Anh "Earth" và "Angel" (khi được Nhật hóa phát âm); chúng không phải là tên phổ biến, cách đọc thông thường của 2 từ này tương ứng làchikyū vàtenshi. Tuy nhiên, luôn có những quy tắc phổ biến giúp người đọc có kinh nghiệm có thể đoán trước khá chính xác cách đọc của hầu hết tên riêng.
Do thường xảy ra các trường hợp tối nghĩa, kanji nhiều khi được viết kèm theo cách phát âm trong văn cảnh đó, bằng cách dùng các ký tự rubi (ルビ) gọi làfurigana (những ký tựkana nhỏ viết kèm theo bên trên - khi viết theo hàng ngang - hoặc bên phải - khi viết theo hàng dọc - của ký tự kanji) haykumimoji (những ký tựkana nhỏ nằm ngay trên dòng viết ngay sau ký tự kanji). Kiểu viết này đặc biệt thường gặp trong các văn bản dành cho trẻ em hoặc người nước ngoài, và trongmanga (truyện tranh Nhật Bản). Nó cũng thường được dùng trênbáo chí để diễn đạt những cách đọc hiếm dùng hay những ký tự không có trong bảngkanji thường dùng đã được công nhận chính thức.
Đây đang là con số bị tranh cãi. Đại Hán Hòa Từ điển - từ điển chữ Hán được Haruo Shirane đánh giá là cực kỳ đáng tin cậy - có chứa khoảng 5 vạn chữ Hán và được cho là khá đầy đủ. Tuy nhiên những từ điển tiếng Trung gần đây có đến trên 8 vạn chữ Hán, nhiều ký tự bao gồm cả những biến thể rất ít biết đến. Hầu hết số đó đều không phổ biến ở cả Nhật Bản và Trung Quốc.
Để học được tiếng Nhật Bản người học chỉ cần nhớ khoảng trên 2 nghìn đến 3 nghìn chữ Hán thường gặp.
Bảng chữ Hán trong nhóm "Thường dụng Hán tự" - tức các chữ Hán thông dụng trong sách báo tiếng Nhật - bao gồm 2.230 chữ Hán, trong đó các chữ Hán trong giảng dạy ("giáo dục Hán tự") in màu đỏ. Theo hệ thống sắp xếp KLD của Halpern trongTừ điển cho người học Kanji, Kodansha.
Học sinh tiểu học ở Nhật được dạy và cố gắng nắm được 1.006 ký tự kanji cơ bản trong "Kyōiku kanji" (教育漢字 -Giáo dục Hán tự) trước khi kết thúc lớp sáu. Thứ tự các ký tự được học đã được thay đổi. Danh sáchKyōiku kanji là một phần của danh sách lớn hơn bao gồm 1.945 chữ Hán gọi là "Jōyō kanji" (常用漢字 -Thường dụng Hán tự) - đây là những ký tự cần phải nắm được để có thể đọc tốt sách báotiếng Nhật. Các học sinh Nhật thường nắm bắt được danh sách lớn hơn trước khi kết thúc lớp chín.[8] Học sinh tiểu học học các ký tự này bằng cách bắt chước và học cácbộ thủ.
Các học viên học tiếng Nhật như một ngoại ngữ thường phải học kanji mà không nắm được trước những từ vựng liên quan đến chúng. Do vậy, giải pháp cho những học viên này rất đa dạng, từ những phương pháp bắt chước, học thuộc lòng, hay các phương pháp sao cho dễ nhớ hơn, như dùng hình ảnh, hay những cách liên tưởng. Với những học viên tiếng Nhật là người nói tiếng Việt thường tận dụng thêm phiên âm Hán Việt của chữ Hán (trừ những kokuji do người Nhật tự sáng chế) để dễ đoán nghĩa các từ vựng được viết bằng ký tự đó, hoặc một số người học thuộc các nét bộ thủ như khi học tiếng Trung.
Chính phủ Nhật Bản đưa ra các kỳ thi "Hán tự kiểm định" (Kanji kentei), viết tắt của日本漢字能力検定試験 (Nihon kanji nōryoku kentei shiken, "Nhật Bản Hán tự Năng lực Kiểm định Thí nghiệm", có nghĩa là "Kỳ thi kiểm định năng lực Kanji trong tiếng Nhật") để kiếm tra khả năng đọc và viết Kanji. Cấp độ cao nhất của kỳ thi này kiểm tra trong phạm vi khoảng 6.000 Kanji.