| Chữ Hán | ||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Chữ viết | ||||||||||
| ||||||||||
| Thuộc tính | ||||||||||
| Biến thể | ||||||||||
| ||||||||||
| Cải cách | ||||||||||
| ||||||||||
| Đồng tự khác nghĩa | ||||||||||
| Sử dụng trong các chữ viết cụ thể | ||||||||||
Kim văn (金文) hay còn gọi làminh văn (銘文) haychung đỉnh văn (钟鼎文), là loại văn tự được khắc hoặc đúc trên đồ đồng, là sự kế thừa củagiáp cốt văn, xuất hiện cuối đờinhà Thương, thịnh hành vào đờiTây Chu. Nội dung thường liên quan mật thiết đến cuộc sống đương thời, đặc biệt là cuộc sống của tầng lớp thống trị, như việc tế lễ, sắc lệnh, việc chiến tranh, săn bắn... Mọi người thường coi kim văn trênMao công đỉnh thờiChu Tuyên Vương là đại diện cho kim văn. TừTây Chu trở về sau, kim văn được sử dụng rộng rãi. Theo thống kê, người ta tìm được 3005 chữ kim văn, đã đọc được 1804 chữ, nhiều hơngiáp cốt văn một chút. Do thời kì Thương Chu rất thịnh hành đồ đồng, mà trong đóchung (cái chuông) vàđỉnh (cái vạc) là những nhạc khí, lễ khí tiêu biểu nên kim văn còn có tên gọi là chung đỉnh văn.
Kim văn có thể chia làm bốn loại, đó làÂn kim văn (khoảng năm 1300 tr.CN - 1070 tr.CN),Tây Chu kim văn (khoảng 1070 tr.CN - 771 tr.CN),Đông Chu kim văn (khoảng 771 tr.CN - 222 tr.CN) vàTầnHán kim văn (221 tr.CN - 219 s.CN).
Từ trước đờinhà Thương đã có kim văn, nhưng kim văn thực sự hình thành là từ sau khiBàn Canh dời đô. Ban đầu chỉ có vài chữ, đến đầu đờinhà Chu đã có hơn 1200 chữ. Những đồ đồng có đúc kim văn thờinhà Thương là khá nhiều, nhưng nội dung đơn giản, chủ yếu là tên họ của người đúc hoặc của tổ tiên người đó. Đến khi nhà Thương bị diệt, mới xuất hiện những bài văn khắc bằng kim văn, nhưng bài dài nhất cũng chỉ có hơn 40 chữ.
Từ khinhà Chu lên thaynhà Thương, kim văn dần thịnh hành, viết những chuyện của vua chúa như việcChiêu Vương tuần du phương nam,Mục Vương đi săn ở phía tây... đều được ghi chép lại.
Bài viết này vẫn cònsơ khai. Bạn có thể giúp Wikipediamở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. |