Quá trình di cư của người Hungary (Magyar)Người Hungary tiến vào đồng bằng Carpath
Sau khi Đế chếTây La Mã sụp đổ trước sự xâm nhập của các bộ tộc Đức và Carpath, nhiều dân tộc khác nhau đã di chuyển đếnchâu Âu sinh sống. Một trong số sớm nhất đó làngười Hung, những người đã xây dựng hẳn một đế chế hùng mạnh tại châu Âu với vị thủ lĩnh nổi tiếng là vuaAttila. Trước đây có ý kiến cho rằng Attila là vị vua đầu tiên khai sinh ra dân tộc Hungary nhưng ngày nay, nhiều ý kiến lịch sử lại cho rằng nguồn gốc tên gọi "Hungary" không phải đến từ bộ lạc du mục ngườiTrung Á này mà bắt nguồn từ người Magyar (chính là người Hungary sau này) vàothế kỷ VII, lúc đó là một phần của Liên minh Bulgar với tên gọi On-Ogour, có nghĩa là "Mười Mũi Tên".
Sau khi đế chế của người Hung suy tàn, bộ tộc Đức Ostrogoth và sau đó là người Lombard đã đến vùng đồng bằng Pannonia, người Gepid đồng thời cũng hiện diện tại phía đông bồn địa Carpath trong vòng 100 năm. Vào khoảng năm 560, người Avar thành lập nước Avar Khaganate hùng mạnh, chinh phục các dân tộc láng giềng. Đất nước này sau đó bị suy yếu bởi những cuộc chinh chiến liên miên rồi kết thúc sự tồn tại 250 năm sau đó khi ngườiFrank dưới sự lãnh đạo củaCharlemagne tiến vào chinh phục từ phía tây và ngườiBulgaria dưới sự lãnh đạo của Krum uy hiếp từ phía đông. Không một quốc gia nào được thành lập trên lãnh thổ Hungary sau đó cho đến khi Arpad, thủ lĩnh của người Magyar (Hungary) thống nhất các bộ lạc Magyar lại và tiến vào vùng đồng bằng Pannonia sinh sống năm 896.
Vương miện thánh và các bảo vật của nhà vua Hungary
Hungary là một trong những quốc gia có lịch sử lâu đời nhất tạichâu Âu. Đất nước này được thành lập năm 996, trước khi những tiểu vương quốc ởPháp hayĐức được thành lập và sớm hơn cả sự thống nhất các vương quốc Anglo-Saxon tạiđảo Anh. Nước Hungary trung cổ có diện tích lớn hơn nước Pháp và dân số đứng hàng thứ ba tại châu Âu lúc bấy giờ. Vàothế kỷ IX, Arpad, một thủ lĩnh người Magyar đã thống nhất các bộ lạc Magyar lại rồi đưa họ vào vùng đồng bằng Pannonia sinh sống. Với một lực lượng quân đội hùng mạnh, người Hungary đã mở nhiều cuộc chiến tranh chinh phục và thậm chí đã từng tấn công sang tận Tây Ban Nha. Đến thời hoàng tử Geza, ông đã quyết định đưa đất nước Hungary tiến theo mô hình chính trị và xã hội của các nước Tây Âu và trở thành một quốc gia theoCông giáo.
Năm 1000 sau công nguyên, Vương quốc Hungary theo Công giáo được thành lập với sự kiện vuaIstván I đăng quang với chiếc vương miện được gửi đến từgiáo hoàng. Ông là con trai của Geza và mang dòng máu của thủ lĩnh Arpad. Năm 1006, vua István I củng cố quyền lực, tiêu diệt những người đối lập theo truyền thống tôn giáo nguyên thủy hoặc định liên minh vớiĐế chế Byzantine. Ông hoàn thành việc biến Hungary thành một nhà nước phong kiến theo Công giáo, đồng thời mở rộng đáng kể lãnh thổ và dân cư.
Năm 1222, vua HungaryAndrás II khởi xướng Bộ luật Vàng (Golden Bull) của Hungary, có thể coi như bản hiến pháp đầu tiên trên lục địa châu Âu và tương tự như Magna Carta tại Anh mà sau đó, tất cả các vua Hungary khi đăng quang phải tuyên thệ. Bộ luật Vàng này hạn chế bởi quyền hạn của nhà vua và mở rộng quyền lực của giới quý tộc, hợp pháp hóa quyền bất tuân lệnh cũng như các quyền lợi khác của họ. Sau đó không lâu, Nghị viện Hungary được thành lập.
Khoảng năm 1241-1242, đất nước Hungary bị tàn phá nặng nề trước sự xâm lăng hung hãn của quânMông Cổ, lúc đó đang tấn công khắp nhiều vùng đất từchâu Á đếnchâu Âu. Các nhà sử học đã ước tính có khoảng một nửa trong số 2 triệu dân của Hungary bấy giờ đã thiệt mạng trong chiến tranh. Sau khi quân Mông Cổ rút đi, vuaBéla IV đã củng cố lại sức mạnh phòng thủ của đất nước và cho xây dựng lại nhiều pháo đài bằng đá. Kết quả là khi người Mông Cổ lại sang xâm lấn năm 1286, họ đã bị hệ thống phòng thủ của người Hungary chặn lại và bị đánh thua tại Pest.
Vương triều Arpad tồn tại đến năm 1301 thì chấm dứt. Sau đó, vuaKároly Róbert, người có họ ngoại với Arpad đã lên ngôi và trở thành vị vua đầu tiên của triều đại Angevin. Dưới sự cai trị của ông, nhiều chính sách tài chính và tiền tệ đã được tiến hành, thúc đẩy nền kinh tế Hungary phát triển, nhiều đô thị phát triển rực rỡ. Vị vua tiếp nới của triều đại Angevin làLajos I Đại đế (1342-1382) đã đưa lãnh thổ Hungary mở rộng từ bờBiển Đen đến biển Adriatic và sau đó còn trở thành vua củaBa Lan, tạo tiền đề cho mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước Hungary - Ba Lan.
SauÝ, Hungary là quốc gia đầu tiên tại lục địa châu Âu xuất hiện phong tràoPhục Hưng. Năm 1472, một xưởng in chính thức được thành lập tại thành phố Buda. Dưới triều vuaMátyás Corvin (1458-1490), Hungary trở thành một trung tâm văn hóa lớn của châu Âu. Thư viện Bibliotheca Corviniana là bộ sưu tập lớn nhất châu Âu các bộ biên niên sử, các tác phẩm triết học và khoa học trongthế kỷ XV. Thư viện này đã đượcUNESCO công nhận làDi sản văn hóa thế giới.
Vào cuốithế kỷ XV, vương quốc Hungary bắt đầu suy tàn dưới sự cai trị của vị vua bất tàiUlászló II. Năm 1514, một cuộc khởi nghĩa nông dân bùng nổ tại Hungary nhưng sau đó bị giới quý tộc đàn áp đẫm máu. Trong khi đó,Đế chế Ottoman ngày một lớn mạnh và đem quân tấn công Hungary. Năm 1521, pháo đài quan trọng bậc nhất của Hungary tạiBeograd ngày nay thất thủ, và đến năm 1526, quân đội Hungary bị tiêu diệt gần như toàn bộ trongtrận Mohács. Cuộc cải cách tôn giáo diễn ra cùng thời gian đó tại châu Âu càng khiến Hungary trở nên hỗn loạn và tiến đến bờ vực sụp đổ.
Thất bại tại trận Mohács với sự kiện vuaLajos II tử trận đã mở đầu một thời kỳ hỗn loạn kéo dài tại đất nước Hungary. Giới quý tộc Hungary cùng lúc bầu lên hai vị vua làFerdinand Habsburg (1526-1540) vàJános Szapolyai (1527-1540), hai bên xây dựng quân đội của riêng mình và đánh lẫn nhau khiến đất nước ngày càng suy yếu. Năm 1541, người Ottoman chinh phục được thành phố Buda và khiến Hungary vỡ thành ba mảnh: một phần ba ở phía tây bắc nằm dưới sự cai trị của triều đình Habsburg, một phần ba ở miền trung (thuộc lãnh thổ Hungary ngày nay) bị Ottoman và một phần ba ở phía đông trở thànhCông quốc Transilvania, một nước lớn bán độc lập, chư hầu của Ottoman. Khoảng 150 năm sau đó, triều đình Habsburg đã giành toàn bộ quyền kiểm soát Hungary.
Trong thời gian này, thành phố Pozsony, tứcBratislava (thủ đôSlovakia ngày nay) đã trở thành thủ đô mới của Hungary. Thành phố Nagyszombat (nay là Trnava) trở thành một trung tâm tôn giáo lớn. Từ năm 1604 đến năm 1711, những cuộc chiến chống lại ách áp bức của người Áo cũng tăng lên, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa củaRakoczi Ferenc nhưng sau đó đã bị thất bại.
Ngày15 tháng 3 năm 1848, những cuộc biểu tình lớn nổ ra trên các đường phố Pest và Buda trong cao trào cách mạng tư sản đang lan khắp châu Âu năm 1848. Đối mặt với những cuộc nổi dậy liên tiếp ngay tại chính kinh đôViên, triều đìnhHabsburg đã phải tạm thời chấp nhận những yêu cầu của người Hungary. Nhưng sau khi cuộc cách mạng tại Áo bị đàn áp, triều đình Habsburg đã kích động người Croatia, Serbia và Romania chống lại chính phủ Hungary. Chính phủ cách mạng của Hungary cũng nhận được sự ủng hộ của một bộ phận lớn người Slovak, Đức, Rusyn,Do Thái. TướngJános Damjanich, một ngườiSerbia đã trở thành người anh hùng lịch sử của dân tộc Hungary khi lãnh đạo một đội quân cách mạng của nước này. Lúc ban đầu, quân đội Hungary đã giành được một số thắng lợi bước đầu nhưng sau khi triều đình Habsburg cầu viện nướcNga, quânNga hoàng đã tràn vào và dập tắt cuộc khởi nghĩa. Ngày 6 tháng 10 năm 1849, 13 vị tướng lĩnh trong quân đội cách mạng Hungary và thủ tướng Lajos Batthyany đã bị xử tử.
Sau khi nước Áo bị quânPhổ đánh bại năm 1866, để củng cố quyền lực của mình tại châu Âu, đế quốc Áo đã liên kết với vương quốc Hungary để thành lậpĐế quốc Áo-Hung (năm 1867). Đế quốc Áo-Hung gồm 2 phần là Áo và Hungary, mỗi nước có chính phủ và các chính sách riêng biệt nhưng đều thuộc quyền cai trị của Hoàng đế Áo. Thời kỳ này, Vương quốc Hungary đã có những bước tiến ấn tượng về mặt kinh tế, bước đầu được công nghiệp hóa mặc dù cơ cấu kinh tế vẫn chủ yếu dựa trênnông nghiệp, còn khá lạc hậu so với các nước tư bảnTây Âu.
TrongChiến tranh thế giới thứ nhất, Áo-Hung chiến đấu bên phe Liên minh Trung tâm củaĐế chế Đức,Bulgaria vàĐế chế Ottoman. Những khó khăn về kinh tế, các thất bại quân sự cũng như sự bất mãn của người dân đã khiến Đế quốc Áo-Hung sụp đổ hoàn toàn vào năm 1918, trên cơ sở đó hình thành các quốc gia mới làÁo,Tiệp Khắc và Hungary.
Vào tháng 3 năm 1919, những người cộng sản giành chính quyền ở Hungary. Vào tháng 4,Béla Kun tuyên bố thành lậpCộng hòa Xô viết Hungary, tuy nhiên chính thể xô viết này chỉ tồn tại được một thời gian ngắn ngủi.
Vào ngày13 tháng 6 năm1919, Hội nghị Hòa bình Versailles đã ra lệnh cho Hungary phải từ bỏ các lãnh thổ phía bắc và Romania phải rời khỏiTiszántúl. Hungary đã tuân thủ mệnh lệnh đó tính cho đến ngày30 tháng 6 năm1919. Nhưngquân đội Romania đã từ chối không chịu rời khỏi Tiszántúl.
Chiến tranh nổ ra sau đó giữa Hungary và Romania đã dẫn tới thất bại củaHồng quân Hungary. Tính đến tháng 8 năm 1919, hơn một nửa của Hungary ngày nay, bao gồm cảBudapest, bị chiếm đóng bởi Romania. Sự chiếm đóng của quân Romania kéo dài đến tháng 11 năm 1919 khi quân đội Romania rút đi.
Lực lượng quân đội cánh hữu Hungary, lãnh đạo bởi cựu Đô đốc Áo-HungaryMiklós Horthy, tiến vào Budapest ngay sau khi quân đội Romania rút đi và lấp đầy chỗ trống của quyền lãnh đạo nhà nước. Vào tháng 1 năm 1920, bầu cử diễn ra để bầu một quốc hội đa nguyên. Đô đốc Horthy được bầu vào chức thủ tướng, do đó đã phục hồi lại chính thức hoàng gia Hungary. Tuy nhiên, không còn có "Vua của Hungary" nữa mặc cho các cố gắng của nhà cai trị Habsburg trước đó để trở lại vị trí nắm quyền. Horthy đã nắm quyền thủ tướng cho đến 16 tháng 10 năm 1944. Nhưng sau năm 1932, các xu hướng độc tài đã dần dần trở lại vì ảnh hưởng của chủ nghĩa Phát xít vàĐại khủng hoảng.
Vào4 tháng 6 năm1920,Hòa ước Trianon được ký kết, thiết lập các đường biên giới của Hungary. Hungary mất 71% lãnh thổ và khoảng 66% dân số. Khoảng 1/3 dân số Magyar trở thành dân tộc thiểu số ở các nước lân cận. Hungary cũng bị mấtcảng biển duy nhất tại Fiume (ngày nay làRijeka). Do đó,chính trị Hungary và văn hóa thời kỳ giữa hai cuộc thế chiến bị ảnh hưởng lớn bởi chủ nghĩa khôi phục lại tổ quốc trong quá khứ. Xuyên suốt thời kì nàykinh tế Hungary hết sức mất ổn định, tuy trở nên phồn thịnh sau chiến tranh nhưng lại tổn thất nặng trong và sau Đại khủng hoảng, và ổn định chỉ hơi ổn định một chút trước khởi đầu củaChiến tranh thế giới thứ hai. Nước này xích lại gần hơn các quốc gia phát xítĐức vàÝ trong những năm của thập kỉ 1930 với cố gắng làm đảo ngược một số hậu quả của Hòa ước Trianon, với việc một số lãnh thổ bị mất trước kia được Đức và Ý nhượng lại cho Hungary.
Vào năm 1941, Hungary tham dựcuộc xâm lược Nam Tư, chiếm được một số đất đai và tham dự vàoPhe Trục trong quá trình đó (để phản đối, thủ tướngPál Teleki đã tự sát). Vào22 tháng 61941, khi quân Đức xâm lược Liên Xô trongChiến dịch Barbarossa, Hungary tuyên chiến vào ngày 26 tháng 6, tham dựChiến tranh thế giới thứ hai. Vào cuối năm 1941, quân Hungary ở Mặt trận phía đông đã chiến thắng tạiTrận Uman. Đến năm 1943, sau khiQuân đoàn Hungary thứ 2 chịu thất bại nặng nề tại sông Don, nhà nước Hungary tìm cách thương lượng đầu hàng quânĐồng Minh. Vào ngày19 tháng 3 năm1944, để đối phó với sự trở mặt này, quân Đức lặng lẽ chiếm Hungary trongChiến dịch Margarethe. Nhưng, đến bây giờ thì người ta biết rõ là người Hungary không muốn làm vệ tinh cho Đức. Vào ngày15 tháng 101944, Horthy đã cố gắng yếu ớt để đưa đất nước ra khỏi cuộc chiến. Lúc này quân Đức mởChiến dịch Panzerfaust và Horthy được thay thế bởi một nhà nước bù nhìn dưới quyền thủ tướng thân ĐứcFerenc Szálasi. Szálasi vàĐảng Mũi tên Chữ thập thân phát xít của ông ta trung thành với quân Đức cho đến hết cuộc chiến. Vào cuối năm 1944, quân Hungary ở Mặt trận phía đông lại chiến thắng một lần nữa ởtrận đánh Debrecen. Nhưng ngay lập tức sau đó là sự xâm lăng Hungary của quân độ Xô viết vàtrận đánh Budapest. Trong khi quân Đức chiếm đóng vào tháng 5-6 năm 1944, Đảng Mũi tên Chữ thập và cảnh sát Hungary đã trục xuất gần 440.000 dân Do Thái, đa số là đếntrại tập trung Auschwitz.[36] Cuộc chiến đã làm Hungary thiệt hại nặng nề và tổn thất 60% nền kinh tế làm tổn thất nhiều nhân mạng. Vào13 tháng 2 năm1945, thành phố thủ đô Hungary đầu hàng không điều kiện. Vào8 tháng 5 năm1945, Chiến tranh thế giới thứ hai ở châu Âu chính thức chấm dứt.
Sau khi Phát xít Đức thất bại, quân đội Xô viết đã tiến vào hầu hết nước này. Chính phủ thân Đức Quốc xã bị giải tán, và qua ảnh hưởng của Liên Xô, Hungary dần dần trở thành mộtnước xã hội chủ nghĩa thân cận với Liên Xô. Sau năm 1948, lãnh đạo Cộng sảnRákosi Mátyás đã thiết lập chế độ kiểu Stalin với bắt buộc hợp tác xã hóa vàkinh tế kế hoạch. Sự cầm quyền của nhà nước Rákosi đã vượt quá sức chịu đựng của người dân Hungary sau chiến tranh. Điều này đã dẫn tới cuộcchính biến tại Hungary 1956 và Hungary tạm thời rút lui khỏi khốiHiệp ước Warszawa. Liên Xô đã trả đũa mạnh mẽ với biện pháp vũ trang, gửi trên 150.000 quân và 2.500 xe tăng.[37] Gần 200.000 người đã bỏ chạy khỏi đất nước để tránh chiến sự khi các biên giới để ngỏ vào năm 1956. Từ những nămthập niên 1960 đến cuối những nămthập niên 1980, tình hình trong nước Hungary tương đối yên tĩnh, kinh tế phát triển nhanh nhờcông nghiệp hóa. Trong thời kỳ này, đời sống nhân dân được cải thiện nhanh chóng, các ngành công nghiệp Hungary có sự phát triển nhanh. Điều này xảy ra dưới thời cầm quyền của nhà lãnh đạo mà vai trò còn nhiều tranh cãi,János Kádár. Người lính Xô viết cuối cùng rời đất nước Hungary vào năm 1991 và kết thúc sự hiện diện của quân đội Liên Xô ở Hungary.
Trong cuối thập kỉ 1980, Hungary đã dẫn đầu phong trào giải tánHiệp ước Warszawa và chuyển sang một thể chế đa đảng. Điều này nghĩa là mặc dù có nhiều ứng cử viên, đảng cộng sản,MSZMP, vẫn không được đem ra bàn cãi. Tuy nhiên, các ứng cử viên độc lập được bầu lên để phản đối lại đảng. Vào thời điểm đó, áp lực cải cách tăng dần từ bên trong đảng. Họ cũng di chuyển về phía một nềnkinh tế thị trường. Vào23 tháng 10 năm1989,Mátyás Szűrös tuyên bố thành lậpCộng hòa Hungary thứ III và trở thành tổng thống lâm thời. Bầu cử đa đảng ở Hungary diễn ra lần đầu tiên vào năm 1990. Theo sau sự tan rã của Liên Xô vào năm 1991, Hungary phát triển một mối quan hệ gần gũi hơn vớiTây Âu cũng như các nước Trung Âu. Nước này trở thành một thành viên củanhóm Visegrad vào năm 1991, gia nhậpNATO năm 1999, và trở thành một nước thành viên củaLiên minh châu Âu vào1 tháng 5 năm2004.
Hungary nằm ởTrung Âu, Bắc giápSlovakia, Đông giápUkraina vàRomânia, Nam giápSerbia vàCroatia, Tây giápSlovenia vàÁo. Địa lý của Hungary theo truyền thống được xác định bởi hai con sông chính:sông Danube vàsông Tisza. Đất nước được chia thành ba miền địa lý: Dunántúl ("vượt qua sông Danube",Transdanubia), Tiszántúl ("ngoại Tisza"), và Duna-Tisza köze ("giữa sông Danube và Tisza"). Dòng Danube chảy theo hướng bắc-nam thông qua trung tâm Hungary hiện tại, và cả đất nước này nước nằm trong lưu vực thoát nước.
Transdanubia, trải dài về phía tây trung tâm của đất nước cho đếnÁo, là một vùng đồi núi chủ yếu với địa hình đa dạng bởi các ngọn núi thấp. Chúng bao gồm dảiAlps ở phía đông, Alpokalja ở phía tây của đất nước. Dãy núi Transdanubian ở vùng trung tâm Transdanubia, dãy núi Mecsek và dãy núi Villány ở phía nam. Các vùng đồng bằngAlfold ở bắc Transdanubia. HồBalaton và hồHévíz là các hồ lớn nhất ởTrung Âu và hồ nhiệt đới lớn nhất trên thế giới, cũng như ở Transdanubia.Kisalfold trải dài trên hầu hết các khu vực phía đông và đông nam của đất nước. Phía bắc của vùng đồng bằng là chân núi Carpathians gần biên giới Slovakia. Kékes là ngọn núi cao nhất ở Hungary với độ cao 1.014 m. TheoWWF, lãnh thổ của Hungary thuộc vùng sinh thái của rừng hỗn giao Pannonian.
Hungary có 10 vườn quốc gia, 145 khu bảo tồn thiên nhiên nhỏ và 35 khu bảo vệ cảnh quan.
Khí hậu Hungary nằm trong miền khí hậu lục địa khô, mùa đông lạnh, mùa hè nóng và ẩm. Chính kiểu khí hậu này tạo điều kiện cho sự phát triển các thảm thực vật thảo nguyên phục vụ cho ngành chăn nuôi trên các đồng cỏ. Lượng mưa lớn và giảm dần từ Tây sang Đông.
Ô nhiễm không khí; ô nhiễm đô thị và công nghiệp (hồ Balaton); vấn đề cải thiện môi trường khi gia nhậpLiên hiệp châu Âu đòi hỏi một khoản đầu tư khá lớn (4 tỉ USD/ 6 năm).
Hungary là một nướccộng hòa đại nghị.Tổng thống là nguyên thủ quốc gia, do Quốc hội bầu với nhiệm kỳ 5 năm.Quốc hội gồm 199 nghị sĩ được bầu theo hệ thống đầu phiếu song song, nhiệm kỳ của mỗi khóa Quốc hội là 4 năm.Thủ tướng làngười đứng đầu chính phủ do Quốc hội bầu. Thủ tướng bổ nhiệm, miễn nhiệm thành viênChính phủ với sự phê chuẩn chính thức của tổng thống.
Hungary được chia thành 19 hạt (megye). Ngoài ra,Budapest, là một thực thể độc lập, không thuộc bất cứ tỉnh nào. Các hạt và thủ đô là 20 đơn vịNUTS cấp 3 của Hungary. Các tỉnh được chia tiếp thành 174 quận (járás) tính đến ngày 1 tháng 1 năm 2013.[40] Ngoài ra còn có 23 thị trấn có quy chế cấp quận (megyei jogú város). Chính quyền địa phương của các thị trấn này được mở rộng quyền hạn, nhưng các thị trấn này thuộc về lãnh thổ của quận tương ứng thay vì là các đơn vị lãnh thổ độc lập. Hội đồng quận và các đô thị có vai trò khác nhau và trách nhiệm riêng biệt liên quan đến chính quyền địa phương. Vai trò của các quận về cơ bản là hành chính và tập trung vào phát triển chiến lược, trong khi các trường mẫu giáo, các công trình nước công cộng, xử lý rác thải, chăm sóc người cao tuổi và các dịch vụ cứu hộ được quản lý bởi các đô thị.Từ năm 1996, các quận trên và thành phố Budapest đã được gộp lại thành 7 vùng nhằm mục đích thống kê và phát triển. Bảy khu vực này tạo thành các đơn vị cấp hai của NUTS ở Hungary, bao gồm: Vùng Trung tâm Hungary, vùng Trung Transdanubia, vùng Bắc Đồng bằng Lớn, vùng Bắc Hungary, vùng Nam Transdanubia, vùng Nam Đồng bằng lớn, và vùng Tây Transdanubia.
Hungary có ảnh hưởng đáng kể ởTrung vàĐông Âu và là một cường quốc trong các vấn đề quốc tế.[41][42] Các chính sách đối ngoại của Hungary được dựa trên bốn cam kết cơ bản: Hợp tác với các nước Đại Tây Dương, hội nhập châu Âu, phát triển quốc tế và tuân theo luật pháp quốc tế. Nền kinh tế Hungary khá cởi mở và dựa rất nhiều vào thương mại quốc tế.
Từ năm 1989, mục tiêu chính sách đối ngoại hàng đầu của Hungary đã đạt được sự hội nhập vào các tổ chức kinh tế và an ninh phương Tây. Hungary đã tham gia chương trình Đối tác vì Hòa bình vào năm 1994 và đã tích cực hỗ trợ các nhiệm vụ hòa bình ở Bosna. Hungary từ năm 1989 cũng đã cải thiện mối quan hệ láng giềng bằng cách ký kết các hiệp ước cơ bản vớiRomânia,Slovakia vàUkraina. Những điều này từ bỏ tất cả các yêu sách lãnh thổ nổi bật và đặt nền tảng cho các mối quan hệ mang tính xây dựng. Tuy nhiên, vấn đề về quyền dân tộc thiểu số Hungary ởRomânia,Slovakia vàSerbia khiến căng thẳng song phương bùng lên. Kể từ năm 2017, quan hệ vớiUkraina nhanh chóng xấu đi về vấn đề người Hungary ở Ukraina.[45] Hungary từ năm 1989 đã ký kết tất cả các hiệp ước liên quan đếnOSCE và làm Chủ tịch Văn phòng của OSCE vào năm 1997.
Hungary quan hệ thương mại chủ yếu với các nướcChâu Âu. Năm 2010, xuất khẩu của Hungary đạt 93,7 tỷ USD, các mặt hàng xuất chủ yếu gồm máy móc, thiết bị (chiếm 61%), các sản phẩm chế tạo khác (28,7%),thực phẩm (6,5%),nguyên liệu (2%)... Các đối tác chủ yếu là Đức (chiếm 25,5% tổng kim ngạch),Italia (5,7%),Anh (5,4%),Pháp (5,4%),România (5,3%),Slovakia (5%),Áo (4,5%). Nhập khẩu đạt 87,4 tỷ USD, các mặt hàng nhập chủ yếu gồm máy móc, thiết bị (50%), nhiên liệu và điện (11%), thực phẩm và nguyên liệu... Các đối tác chủ yếu làĐức (25%),Trung Quốc (8,6%),Nga (7,3%),Áo (6%),Hà Lan (4,7%),Pháp (4,5%),Slovakia (4%),Italia (4%),Ba Lan (4%).
Tính tới ngày31 tháng 12 năm2010, Hungary đã thu hút được 72,6 tỷ USD vốnFDI và đã đầu tư ra nước ngoài 20,5 tỷUSD.
Từ năm 2004, Hungary bắt đầu dành ngân sách cho việc cấpODA và ngân sách ODA năm 2010 đã đạt mức 0,17% tổng thu nhập quốc gia (GNI), đúng như cam kết vớiEU. Các lĩnh vực Hungary ưu tiên cấp ODA bao gồm: chia sẻ kinh nghiệmchính trị -kinh tế của Hungary, chuyển giaophần mềmcông nghệ thông tin,giáo dục, y tế,nông nghiệp,công nghiệpthực phẩm, xử lý nước, phát triển hạ tầng, vận tải, đo vẽ bản đồ, bảo vệ môi trường.
Năm 2021, dân số của Hungary là 9.689.000 người. Hungary là quốc gia đông dân thứ năm ở Trung Âu và Đông Âu và là mộtquốc gia vừa trong Liên minh châu Âu. Giống như những quốc gia khác từng thuộcKhối phía Đông, dân số của Hungary đã suy giảm mạnh sau khi chế độ cộng sản sụp đổ từ đỉnh điểm là 10,8 triệu người vào năm 1980.[51]
Đa số người Hungary bắt đầu theoKitô giáo vàothế kỷ 11. Vua đầu tiên của Hungary làIstván I, trở thành vị vua phương Tây đầu tiên theoCông giáo, mặc dù mẹ của ông là Sarolt, được rửa tội theo nghi lễChính Thống giáo Đông phương. Dân số Hungary vẫn chủ yếu là Công giáo cho đếnthế kỷ XVI, khi cuộcCải cách Kháng Cách diễn ra doLuther đề xướng đầu tiên và ngay sau đó làJohn Calvin, đã đưa Kháng Cách trở thành phái Kitô giáo lớn trong dân số.
Trong nửa sau của thế kỷ XVI, các giáo sĩdòng Tên đã dẫn đầu một chiến dịch khôi phục lại Công giáo trong toàn cõi Hungary. Các tu sĩ Dòng Tên đã thành lập các cơ sở giáo dục, bao gồm cảĐại học Công giáo Pázmány Péter, là một trong các trường đại học lâu đời nhất vẫn còn tồn tại ở Hungary. Vàothế kỷ XVII, Hungary một lần nữa trở thành quốc gia Công giáo.
Hiến pháp Hungary đảm bảo quyềntự do tôn giáo nhưng công nhận "vai trò lập quốc của Kitô giáo" trong lời mở đầu[55] và cho phép nhà nước hợp tác với các giáo hội "vì các mục đích cộng đồng".[56] Theo kết quả điều tra dân số năm 2022, 42,5% dân số Hungary theo Kitô giáo, bao gồmCông giáo (27,5%),Giáo hội Calvin (9,8%),Giáo hội Luther (1,8%), Giáo hội Công giáo Hy Lạp (1,7%) và những hệ phái khác (1,7%).Do Thái giáo (0,1%),Phật giáo (0,1%) vàHồi giáo (0,1%) là những tôn giáo thiểu số. 40,1% dân số không tuyên bố tôn giáo, 16,1% xác định bản thân làkhông tôn giáo.[57]
Phần phía đông của đất nước, đặc biệt là xung quanh thành phốDebrecen, vẫn còn có các cộng đồngTin Lành đáng kể. Giáo hội Cải cách ở Hungary là nhà thờ lớn thứ hai ở Hungary với 1.622.000 tín hữu, và 600.000 tín hữu tích cực. Giáo hội có 1.249 hội chi nhánh và 27Mục sư và 1.550 Truyền đạo. Giáo hội Cải cách hỗ trợ 129 cơ sở giáo dục và có 4 chủng viện thần học tạiDebrecen,Sárospatak, vàBudapest.[58]
Trong lịch sử, Hungary cũng từng có một cộng đồngDo Thái giáo lớn, đặc biệt là khi nhiềungười Do Thái, bị khủng bố ởNga, đã tìm thấy nơi trú ẩn trong Vương quốc Hungary vàothế kỷ XIX. Điều tra dân số của tháng 1 năm 1941 cho thấy 6,2% dân số, tức là 846.000 người, được coi là người Do Thái theo pháp luật phân biệt chủng tộc của thời điểm đó. Trong số này, 725.000 được coi là tín đồ Do Thái giáo.[60] Một số người Do Thái Hungary đã có thể thoát khỏiHolocaust trongThế chiến II, nhưng hầu hết (có lẽ 550.000 người), hoặc bị đưa đên các trại tập trung, từ đó phần lớn họ đã không trở lại, hoặc bị giết bởi phát xít Đức. Người Do Thái còn lại ở Hungary hiện nay sống ở trung tâm Budapest, đặc biệt là trong khu vực VI. Cácgiáo đường Do Thái lớn nhất châu Âu nằm ở Budapest.[61]
Trong những thập kỷ gần đâyPhật giáo đã lan rộng đến Hungary, chủ yếu là Phật giáoKim cương thừa thông qua các hoạt động truyền giáo của các tăng sĩPhật giáo Tây Tạng. Vì ở Hungary, tôn giáo được khuyến khích nên các tổ chức Phật giáo khác nhau đã hình thành, trong đó có Giáo hội Phật giáo Hungary (Magyarországi Buddhista Egyházközösség), và những tổ chức khác, chủ yếu vẫn là Phật giáo hệ phái Kim cương thừa.
Hungary thực hiệnbảo hiểm y tế toàn dân do nhà nước phần lớn chi trả; 100% dân số tham giabảo hiểm y tế toàn dân.[28] Ngoài ra, bảo hiểm y tế miễn phí đối với trẻ em, học sinh sinh viên, người nghỉ hưu, người có thu nhập thấp, người khuyết tật và nhân viên nhà thờ.[62][63] Tổng số chi tiêu cho y tế của Hungary là 7,2% GDP, bình quân đầu người là 2.045 đô la Mỹ, trong đó 1.365 đô la Mỹ là do nhà nước chi trả.[64]
^University of British Columbia. Committee for Medieval Studies,Studies in medieval and renaissance history, Committee for Medieval Studies, University of British Columbia, 1980, p. 159
^"Hungary". CIA The World Factbook.Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2014.
^"Hungary in the Carpathian Basin"(PDF). Lajos Gubcsi, PhD. ngày 6 tháng 6 năm 2017.Lưu trữ(PDF) bản gốc ngày 12 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2017.
^Kristó Gyula – Barta János – Gergely Jenő: Magyarország története előidőktől 2000-ig (History of Hungary from the prehistory to 2000), Pannonica Kiadó, Budapest, 2002,ISBN963-9252-56-5, p. 687, pp. 37, pp. 113 ("Magyarország a 12. század második felére jelentős európai tényezővé, középhatalommá vált"/"By the 12th century Hungary became an important European constituent, became a middle power", "A Nyugat részévé vált Magyarország .
^"1989. évi XXXI. törvény az Alkotmány módosításáról" [Act XXXI of 1989 on the Amendment of the Constitution].Magyar Közlöny (bằng tiếng Hungary). Quyển 44 số 74. Budapest: Pallas Lap- és Könyvkiadó Vállalat. ngày 23 tháng 10 năm 1989. tr. 1219.
^"Benefits of EU Membership". Hungarian Chamber of Commerce and Industry. ngày 6 tháng 6 năm 2017.Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2017.