Movatterモバイル変換


[0]ホーム

URL:


Bước tới nội dung
WikipediaBách khoa toàn thư mở
Tìm kiếm

Fregat

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Fregat
Mô hình Fregat tại triển lãmMAKS Airshow, 2013
Nhà sản xuấtNPO Lavochkin
Quốc giaNga
Được sử dụng trênHiện tại:Soyuz-2
Đã ngừng sử dụng:Soyuz-FG,Soyuz-ST,Soyuz-U,Zenit-3F
Lịch sử phóng
Trạng tháiĐang hoạt động
Tổng số lần phóng114
Thành công
(chỉ tầng đẩy)
111
Thất bại2
Khác1 (partial failure)
Chuyến bay đầu tiên2 tháng 2, 2000
Đặc điểm chung[1]
Chiều cao
  • Fregat: 1.875 m (6.151 ft 7 in)
  • Fregat-MT: 1.945 m (6.381 ft 3 in)
  • Fregat-SB: 2.435 m (7.988 ft 10 in)
Đường kính
  • Fregat: 3,44 m (11 ft 3 in)
  • Fregat-MT: 3,8 m (12 ft 6 in)
  • Fregat-SB: 3,875 m (12 ft 8,6 in)
Khối lượng
  • Fregat: 945 kg (2.083 lb)
  • Fregat-MT: 1.035 kg (2.282 lb)
  • Fregat-SB: 1.080 kg (2.380 lb)
Khối lượng tổng
  • Fregat: 6.235 kg (13.746 lb)
  • Fregat-MT: 7.640 kg (16.840 lb)
  • Fregat-SB: 11.680 kg (25.750 lb)
Khối lượng nhiên liệu
  • Fregat: 5.307 kg (11.700 lb)
  • Fregat-MT: 6.650 kg (14.660 lb)
  • Fregat-SB: 10.330 kg (22.770 lb)
Cung cấp bởi1 × S5.92
Lực đẩy tối đaCao: 19,85 kN (4.460 lbf)
Thấp: 13,93 kN (3.130 lbf)
Xung lực riêngCao: 333,2 s (3,268 km/s)
Thấp: 320 s (3,1 km/s)
Thời gian đốtLên đến 1.350 giây (lên đến 7 lần khởi động)
Nhiên liệuN
2
O
4
 / UDMH

Fregat (tiếng Nga:Фрегат,n.đ.'khinh hạm') là một tầng trên doNPO Lavochkin phát triển, được thiết kế để tương thích phổ dụng với nhiều loại tên lửa đẩyhạng trung và hạng nặng. Fregat chủ yếu được sử dụng cùng cáctên lửa SoyuzZenit, và bắt đầu đi vào hoạt động từ tháng 2 năm 2000.

Fregat dùngđộng cơ đẩy nhiên liệu lỏng, đốt nhiên liệuunsymmetrical dimethylhydrazine (UDMH) và chất oxy hoádinitrogen tetroxide (N
2
O
4
) đây là một cặp chất đẩyhypergolic (tự bốc cháy khi tiếp xúc với nhau). Với tỉ lệ thành công khoảng 97,3%, bao gồm hai lần thất bại hoàn toàn và một lần thất bại một phần, Fregat được xếp vào nhóm tầng trên tin cậy nhất hiện nay. Tầng đẩy này đã triển khai hơn 300 tải trọng lên nhiều loại quỹ đạo khác nhau, và có khả năng đưa từ ba vệ tinh trở lên vào các quỹ đạo riêng biệt trong một lần phóng, nhờ động cơ có thể khởi động lại tối đa bảy lần và tổng thời gian cháy lên tới khoảng 1.350 giây.

Description

[sửa |sửa mã nguồn]

Tầng trên Fregat là một phương tiện đa năng, tự hành, được thiết kế để đưa các tải trọng lớn vào nhiều dạng quỹ đạo khác nhau, bao gồm quỹ đạotầm thấp, tầm trung , vàđịa tĩnh; và cũng có thể đóng vai trò tầng thoát ly để gửi tàu thăm dò lên quỹ đạo liên hành tinh (ví dụ như các sứ mệnhVenus ExpressMars Express).

Được NPO Lavochkin phát triển trong thập niên 1990, Fregat sử dụng sáu bình cầu, bốn bình chứa chất đẩy và hai bình chứa thiết bị điện tử được bố trí thành một vòng tròn. Động cơ chính nằm ở giữa, cho phép tạo ra một kết cấu gọn với đường kính lớn hơn chiều cao. Kết cấu cơ khí được gia cường bằng tám thanh giằng xuyên qua các bình, đồng thời đảm nhiệm việc truyền lực đẩy xuống tên lửa phía dưới. Fregat hoạt động hoàn toàn độc lập với các tầng bên dưới, với hệ thống dẫn đường, điều khiển tư thế, theo dõi và đo xa riêng.[2]

Thiết kế của Fregat kế thừa sâu từ nền tảng của tàuPhobos trong chương trình thăm dòsao Hoả cuối thập niên 1980, mà bản thân lại bắt nguồn từ kiến trúc dùng cho các tàu thăm dò Mặt Trăng do NPO Lavochkin phát triển từ thập niên 1960.[3] Fregat cũng tích hợp nhiều hệ con và linh kiện đã được bay thử từ các tàu và tên lửa trước đó, nhờ vậy vừa tăng độ tin cậy, vừa rút ngắn thời gian phát triển. Fregat được chứng nhận đủ điều kiện bay vào tháng 2 năm 2000 và hoàn thành bốn nhiệm vụ thành công chỉ trong năm đó.[4]

Hiện nay, Fregat thường được sử dụng như tầng thứ tư của các tên lửa Soyuz. Động cơS5.92 của Fregat có thể đánh lửa tối đa 25 lần,[3] trong đó bảy lần đánh lửa đã được chứng minh trên quỹ đạo. Nhờ đó, Fregat có thể thực hiện những nhiệm vụ phức tạp mà bản thân tên lửa không thể đảm đương.[5] TTầng trên này hỗ trợ cả ổn định ba trục lẫn quay ổn định cho tải trọng.[6] Fregat sử dụng chất đẩy tồn trữ được là cặp hypergolicunsymmetrical dimethylhydrazine (UDMH) là nhiên liệu vàdinitrogen tetroxide (N
2
O
4
, còn gọi là NTO hay amyl) như chất oxi hóa, tự bốc cháy khi tiếp xúc, nên rất phù hợp cho nhiều lần khởi động lại. ến nay, Fregat đã triển khai hơn 300 chuyến hàng lên nhiều loại quỹ đạo và vẫn là tầng trên duy nhất có khả năng đưa tải trọng vào từ ba quỹ đạo riêng biệt trở lên trong một lần phóng.[7]

Tính đến năm 2018[cập nhật], chi phí bổ sung một tầng trên Fregat cho một lần phóngSoyuz-2 vào khoảng13,5 million đô la Mỹ.[8][9]

Tham khảo

[sửa |sửa mã nguồn]
  1. ^"Multipurpose Fregat".Lavochkin Association (bằng tiếng Nga). Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2024.
  2. ^"Soyuz User's Manual"(PDF).Starsem. tháng 4 năm 2001. tr. 26. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2024.
  3. ^ab"Fregat space tug".RussianSpaceWeb. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2014.
  4. ^"Cluster II on track after maiden flight of Fregat upper stage". ngày 9 tháng 2 năm 2000.
  5. ^"Универсальный разгонный блок "Фрегат"". Laspace.ru. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2022.
  6. ^"Soyuz".
  7. ^"Photo-Report from Lavochkin Scientific and Production Association, One Day at Fregat Upper Stage Manufacturing Facility".Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2020.
  8. ^"Russian launch service provider reveals cost of Soyuz-2.1 rocket launch".Russian Aviation. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2020.
  9. ^"The Soyuz-2 rocket series". Russian Space Web. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2020.
Lấy từ “https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Fregat&oldid=74522537
Thể loại:
Thể loại ẩn:

[8]ページ先頭

©2009-2026 Movatter.jp