Movatterモバイル変換


[0]ホーム

URL:


Bước tới nội dung
WikipediaBách khoa toàn thư mở
Tìm kiếm

Eugenio Montale

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bài viết nàycần thêmchú thích nguồn gốc đểkiểm chứng thông tin. Mời bạn giúphoàn thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích tớicác nguồn đáng tin cậy. Các nội dung không có nguồn có thể bị nghi ngờ và xóa bỏ. (Tìm hiểu cách thức và thời điểm xóa thông báo này)
Eugenio Montale
Sinh12 tháng 10 năm1896
Genoa,Ý
Mất12 tháng 9 năm1981
Milano,Ý
Nghề nghiệpNhà thơ
Quốc tịchngười Ý

Eugenio Montale (12 tháng 10 năm1896 -12 tháng 9 năm1981) là nhà thơ, nhà văn, dịch giả và biên tập viên, nhà phê bình văn học ngườiÝ, đoạtgiải Nobel Văn học năm 1975. Ông được công nhận là nhà thơ Ý trữ tình vĩ đại kể từ sauGiacomo Leopardi.

Tiểu sử

[sửa |sửa mã nguồn]

Ông sinh năm 1896 tạiGenova, Ý. Từ nhỏ do bị ốm nặng không đến trường được nên ông đọc rất nhiều sáchvăn học,triết học, thu lượm nhiều kiến thức vềvăn hóa,âm nhạc,hội họa, tư tưởngnghệ thuật của những triết gia hàng đầuchâu Âu. TrongChiến tranh thế giới thứ nhất ông là sĩ quan bộ binh, chiến đấu ở mặt trận nướcÁo 2 năm. Ông làm giám đốc thư viện Gabinetto Vieusseux trong 10 năm.

Sự nghiệp

[sửa |sửa mã nguồn]
Eugenio Montale

Năm 1925 ông xuất bản tập thơ đầu tiênOssi di seppia (Những chiếc mai cá mực) được dư luận chú ý bởi giọng thơ cách tân khác biệt với những nhà thơ đương thời. Phong cách thơ của Montale gần gũi vớiT. S. Eliot, không ngẫu nhiên mà ông dịchThe Waste Land (Đất hoang) của Eliot ratiếng Ý. Năm 1948 ông bắt đầu viết phê bình văn học và âm nhạc cho tờCorriere della Sera, một nhật báo uy tín ởMilano. Năm 1956 Montale cho ra đời tập thơ được đánh giá là tiêu biểu nhất của ôngLa bufera e altro (Giông tố và những bài thơ khác). Các tác phẩm của ông mang đậm vẻ đẹp của nềnvăn hóa Ý và nêu cao tinh thần chống chủ nghĩa phát xít. Ngôn ngữ thơ ông gần vớitiếng Ý bình dân. Năm 1967, ông được bổ nhiệm là thượng nghị sĩ trọn đời củaQuốc hội Ý. Năm 1975 Montale nhậngiải Nobel vì "các tác phẩm thơ ca đặc sắc thể hiện quan điểm và cảm xúc lớn lao về một cuộc sống bị tước bỏ ảo ảnh". Sự tìm tòi một ngôn ngữ thơ nguyên thủy khiến Montale trở thành một trong những nhà thơ lớn nhất củaÝ trongthế kỷ 20. Thơ của ông được dịch ra nhiều thứ tiếng, trong đó cótiếng Việt.

Ông mất năm 1981 tạiMilano, thọ 85 tuổi.

Tác phẩm

[sửa |sửa mã nguồn]
  • Ossi di seppia (Những chiếc mai cá mực, 1925), thơ
  • Lacasa dei doganieri edaltri versi (Ngôi nhà hải quan và các bài thơ khác, 1932), thơ
  • Le Occasioni (Cơ hội, 1939), thơ
  • Finisterre (Cuối đất, 1943), thơ
  • La bufera e altro (Giông tố và những bài thơ khác, 1956), thơ
  • Xenia (1966), thơ
  • Satura (1971), thơ
  • Diario del 71 del 72 (Nhật ký năm 71 và 72), thơ
  • New poem (Thơ mới, 1976), thơ
  • Quaderno di quattro anni (Sổ ghi chép trong bốn năm, 1977), thơ
Vittorini và Montale

Tham khảo

[sửa |sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài

[sửa |sửa mã nguồn]
1901 – 1925
1926 – 1950
1951 – 1975
1976 – 2000
2001 – nay
Wikimedia Commons có thêm hình ảnh và phương tiện vềEugenio Montale.
Lấy từ “https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Eugenio_Montale&oldid=73393730
Thể loại:
Thể loại ẩn:

[8]ページ先頭

©2009-2026 Movatter.jp