Ông sinh năm 1896 tạiGenova, Ý. Từ nhỏ do bị ốm nặng không đến trường được nên ông đọc rất nhiều sáchvăn học,triết học, thu lượm nhiều kiến thức vềvăn hóa,âm nhạc,hội họa, tư tưởngnghệ thuật của những triết gia hàng đầuchâu Âu. TrongChiến tranh thế giới thứ nhất ông là sĩ quan bộ binh, chiến đấu ở mặt trận nướcÁo 2 năm. Ông làm giám đốc thư viện Gabinetto Vieusseux trong 10 năm.
Năm 1925 ông xuất bản tập thơ đầu tiênOssi di seppia (Những chiếc mai cá mực) được dư luận chú ý bởi giọng thơ cách tân khác biệt với những nhà thơ đương thời. Phong cách thơ của Montale gần gũi vớiT. S. Eliot, không ngẫu nhiên mà ông dịchThe Waste Land (Đất hoang) của Eliot ratiếng Ý. Năm 1948 ông bắt đầu viết phê bình văn học và âm nhạc cho tờCorriere della Sera, một nhật báo uy tín ởMilano. Năm 1956 Montale cho ra đời tập thơ được đánh giá là tiêu biểu nhất của ôngLa bufera e altro (Giông tố và những bài thơ khác). Các tác phẩm của ông mang đậm vẻ đẹp của nềnvăn hóa Ý và nêu cao tinh thần chống chủ nghĩa phát xít. Ngôn ngữ thơ ông gần vớitiếng Ý bình dân. Năm 1967, ông được bổ nhiệm là thượng nghị sĩ trọn đời củaQuốc hội Ý. Năm 1975 Montale nhậngiải Nobel vì "các tác phẩm thơ ca đặc sắc thể hiện quan điểm và cảm xúc lớn lao về một cuộc sống bị tước bỏ ảo ảnh". Sự tìm tòi một ngôn ngữ thơ nguyên thủy khiến Montale trở thành một trong những nhà thơ lớn nhất củaÝ trongthế kỷ 20. Thơ của ông được dịch ra nhiều thứ tiếng, trong đó cótiếng Việt.