^Ngôn ngữ chính thức của El Salvador được quy định tại Điều 62 của Hiến pháp năm 1983 làtiếng Castilia.[1]
^Tiếng Anh cũng là một ngôn ngữ học thuật trong các trường công lập.
^Đô la Mỹ là đơn vị tiền tệ chính được sử dụng. Thông tin tài chính có thể được thể hiện bằng đô la Mỹ và colón El Salvador, nhưng colón hiện không được lưu hành.[7][8]Bitcoin was designated as legal tender in 2021, but is no longer legal tender.[9]
^ Các công ty điện thoại (thị phần): Tigo (45%), Claro (25%), Movistar (24%), Digicel (5.5%), Red (0.5%).
El Salvador,[a] quốc hiệu làCộng hòa El Salvador,[b] là một quốc gia tạiTrung Mỹ, giáp vớiGuatemala về phía tây bắc,Honduras về phía đông bắc vàThái Bình Dương ở phía nam. El Salvador là quốc gia nhỏ nhất cũng như có mật độ dân cư cao nhất trong khu vực Trung Mỹ. Thủ đô và thành phố lớn nhất của El Salvador làSan Salvador.
Tên nguyên thủytiếng Nahuatl của đất này là "Cuzhcatl", có nghĩa là "Đất của báu vật". Địa danh này được người Tây Ban Nha phiên âm là "Cutzcatlan".
Sau cuộc chinh phục củangười Tây Ban Nha, địa danh được đổi thànhProvincia De Nuestro Señor Jesucristo El Salvador Del Mundo tức là "Tỉnh thành của ĐứcChúa Giêsu Ki Tô, Đấng Cứu Thế", sau rút ngắn lại là "El Salvador".
Vào thời kì tiềnColombo, vùng lãnh thổ này chịu ảnh hưởng của nềnvăn minh Maya, rồi đến nền văn minh của ngườiIndian Pipil với việc thành lập vương quốcCuscatlán (vùng Đá quý). Năm 1524,Pedro de Alvarado, người Tây Ban Nha, chinh phục El Salvador. Quốc gia này thoát khỏi sự cai trị củaTây Ban Nha năm 1821 và trở thành một phần của đế quốcMéxico. Thành viên củaLiên hiệp các Tỉnh Trung Mỹ (1823-1838), El Salvador tuyên bố nền cộng hòa năm 1841.[12]
Cuốithế kỷ 19, đất nước lại xảy ra các cuộc xung đột liên tục giữa phe tự do và phe bảo thủ. Dưới chế độ độc tài của TướngMaximiliano Martinez (1931-1944), nông dân nổi dậy chống đối và bị đàn áp dã man (1932). Năm 1950, Đại táOscar Osorio lên cầm quyền và thực hiện những cải cách xã hội.
Năm 1972, quân đội áp đặt ứng cử viên của họ để gạt bỏ ứng cứ viên đối lập,José Napoleón Duarte. Từ đó, chiến tranh du kích và khủng bố hoành hành khắp đất nước. Năm 1977, nội chiến bùng nổ.
Năm 1979, nhóm đảo chính lên cầm quyền và được Hoa Kỳ ủng hộ. Từ năm 1980, Tổng thống J. N. Duarte tiến hành cải cách ruộng đất.
Năm 1992, các cuộc thương lượng giữa chính phủ với lực lượng du kích kháng chiến đã dẫn đến việc ký hiệp định hòa bình, chấm dứt 11 năm nội chiến. Năm 1994,Armando Calderón Sol đắc cử Tổng thống. Năm 1997,Mặt trận Giải phóng Dân tộc Farabundo Marti chuyển thành một đảng phái chính trị chiếm được 27 trong tổng số 84 ghế trong cuộc bầu cử lập pháp. Năm 1999,Francisco Flores trở thành Tổng thống mới.
Ngày 1 tháng 6 năm 2019,Nayib Bukele nhậm chức tổng thống El Salvador[13] sau khi trúng cử tổng thống trongcuộc bầu cử tổng thống năm 2019. Bukele được đảng GANA đề cử làm ứng cử viên tổng thống vì đảng Nuevas Ideas do anh thành lập không đăng ký chính đảng kịp thời để tham gia bầu cử tổng thống.[14]
El Salvador nằm ở eo đấtTrung Mỹ bên bờThái Bình Dương, giữaGuatemala vàHonduras. El Salvador trải dài 270 km từ tây sang đông và 142 km từ bắc xuống nam với diện tích 21.041km2 .Là quốc gia nhỏ nhất Trung Mỹ, El Salvador có đường biên giới chung với Guatemala và Honduras với tổng chiều dài 590 km: 199 km giáp Guatemala, 391 km giáp Honduras.[12] Quốc gia này có đường bờ biển 307 km[12] trên Thái Bình Dương. Đây là quốc gia Trung Mỹ duy nhất không tiếp giáp với vùngbiển Caribe.
El Salvador có hơn 300 con sông, quan trọng nhất trong đó làsông Lempa. Bắt nguồn từ miền nam Guatemala,sông Lempa chảy ngang các dãy núi phía bắc, chảy dọc phần lớn cao nguyên trung tâm và cắt qua dãy núi lửa phía nam để đổ vào Thái Bình Dương. Đây là con sông có khả năng điều hướng duy nhất của El Salvador.[15] Các con sông ngắn thường ngắn và chảy qua các vùng đất thấp của Thái Bình Dương.
Địa hình El Salvador gồm đồng bằng ven biển với đặc điểm khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, hai dãy núi lửa (đỉnhSanta Ana. 2.386 m) bao quanh vùng cao nguyên có không khí trong lành, nơi dòngsông Lempa chảy ngang qua và tập trung phần lớn dân cư trong nước. Điểm cao nhất đất nước làCerro El Pital, ở độ cao 2730m trên biên giới với Honduras.[16] Các dãy núi và cao nguyên trung tâm chiếm 85% diện tích đất đai El Salvador.
Hai đảng chính trị, Liên minh Cộng hòa Quốc gia (ARENA) và Mặt trận Giải phóng Quốc gia Farabundo Martí (FMLN) có xu hướng chiếm ưu thế trong các cuộc bầu cử. Các ứng cử viên của ARENA đã giành chiến thắng trong bốn cuộc bầu cử tổng thống liên tiếp cho đến cuộc bầu cử Mauricio Funes của FMLN vào tháng 3 năm 2009. Tuy nhiên, sự thống trị của hai đảng đã bị phá vỡ sau khiNayib Bukele, một ứng cử viên từLiên Minh Quốc Gia Thống Nhất (GANA) giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống El Salvador năm 2019.
Phá thai bị cấm hoàn toàn, ngay cả trong trường hợp hiếp dâm, loạn luân hoặc tính mạng người mẹ gặp nguy hiểm; 180 phụ nữ đã bị phạt tù vì phá thai trong hai thập kỷ qua, một số người bị phạt tù đến 30 năm.[18] Tình trạng phân biệt đối xử đối vớingười LGBT rất phổ biến tại El Salvador.[19][20] Theo một cuộc khảo sát củaTrung tâm Nghiên cứu Pew vào năm 2013, 53% dân số El Salvador tin rằng xã hội không nên chấp nhậnđồng tính luyến ái.[21] Hôn nhân cùng giới không được công nhận.
Nền kinh tế El Salvador chủ yếu dựa vào kiều hối từ Mỹ và nông nghiệp với những sản phẩm truyền thống miền nhiệt đới. Từ tháng 1 năm 2001, Chính phủ El Salvador quyết định sử dụng đồng đô la Mỹ thay thế cho đồng colón nội tệ. Nguồn thu nhập ngoại tệ cơ bản của đất nước dựa vào gần 3 tỷ USD kiều hối / năm. Chính phủ El Salvador chủ trương mở thị trường xuất khẩu mới, hỗ trợ đầu tư nước ngoài và hiện đại hoá hệ thống thuế.
Nông nghiệp chủ yếu phát triển các loại cây lương thực: ngô, kê, đậu và lúa, mía và cà phê. Đường, bông vải gỗ, cà phê là các mặt hàng xuất khẩu chính. Một số ngành công nghiệp (hóa dầu, lọc dầu, xi măng, dệt...) phát triển nhờ công trình thủy điện sông Lempa. Cuộc nội chiến (1977-1992) đã làm cho đất nước rơi vào tình trạng kiệt quệ. Mặc dù Chính phủ áp dụng biện pháp khắc khổ và kiểm soát được nạn lạm phát nhưng vẫn không tạo được niềm tin đối với các nhà đầu tư nước ngoài.
Tính đến năm 2023,GDP danh nghĩa của El Salvador ước đạt 33,752 tỷ USD, đứng thứ 105 thế giới và đứng thứ 16 trong khu vựcMỹ Latinh.
Năm 2018, dân số của El Salvador là 6.420.746 người,[22][23] tăng từ 2.200.000 vào năm 1950. Năm 2010, 32.1% dân số dưới 15 tuổi, 61% dân số từ 15 đến 65 tuổi, 6,9% dân số trên 65 tuổi.[24]
^"VI Censo de población y V de vivienda 2007"(PDF) (bằng tiếng Tây Ban Nha). Dirección General de Estadística y Censos. tr. 336.Bản gốc(PDF) lưu trữ ngày 20 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2023.
^"2023 Report on International Religious Freedom: El Salvador".www.state.gov.Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2025. Về tỷ lệ theo tôn giáo, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ dẫn chứng một cuộc khảo sát tháng 12 năm 2022 của Viện Dư luận thuộc Đại học Trung Mỹ.
^David Scott FitzGerald (ngày 22 tháng 4 năm 2014).Culling the Masses. Harvard University Press. tr. 363.ISBN978-0-674-36967-2.Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2015.