Movatterモバイル変換


[0]ホーム

URL:


Bước tới nội dung
WikipediaBách khoa toàn thư mở
Tìm kiếm

Edwin McMillan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từEdwin M. McMillan)
Edwin Mattison McMillan
Sinh(1907-09-18)18 tháng 9, 1907
Redondo Beach,California,Hoa Kỳ
Mất7 tháng 9, 1991(1991-09-07) (83 tuổi)
El Cerrito,California, Hoa Kỳ
Quốc tịchMỹ
Trường lớpHọc viện Công nghệ California
Đại học Princeton
Nổi tiếng vìnguyên tố sau urani (transuranium element) đầu tiên
Giải thưởngGiải Nobel Hóa học (1951)
Giải Nguyên tử vì Hòa bình (1963)
Sự nghiệp khoa học
NgànhHóa học
Nơi công tácĐại học California tại Berkeley
Phòng thí nghiệm bức xạ Berkeley
Người hướng dẫn luận án tiến sĩEdward Condon
Ernest Lawrence

Edwin Mattison McMillan (18.9.1907 – 7.9.1991) là nhàvật lý ngườiMỹ và là người đầu tiên đã tạo ranguyên tố sau urani (transuranium element). Ông đã đoạtGiải Nobel Hóa học chung vớiGlenn Seaborg năm 1951.

Cuộc đời và Sự nghiệp

[sửa |sửa mã nguồn]

McMillan sinh tạiRedondo Beach,California, nhưng năm sau gia đình ông di chuyển vềPasadena, California. Ông bắt đầu vào học ởHọc viện Công nghệ California từ năm 1924. Ông làm một dự án nghiên cứu vớiLinus Pauling. Ông đậu bằngcử nhânkhoa học năm 1928 và bằngthạc sĩkhoa học năm 1929.Năm 1932 ông đậu bằngtiến sĩĐại học Princeton với bản luận án mang tên"Deflection of a Beam of HCI Molecules in a Non-Homogeneous Electric Field" dưới sự giám sát củaEdward Condon.

Ông gia nhập nhóm củaErnest LawrenceĐại học California tại Berkeley ngay sau khi nhận bằng tiến sĩ, và vào làm việc trongPhòng thí nghiệm bức xạ Berkeley khi phòng này được thành lập năm 1934.

Những kỹ năng thí nghiệm của ông đã dẫn tới việc khám phá raoxy-15 chung vớiM. Stanley Livingstonberyli-10 chung vớiSamuel Ruben.

Năm 1940 ông vàPhilip Abelson tạo raneptuni, khi sử dụngcyclotron (máy gia tốc cộng hưởng từ) ở đây làm một thí nghiệm phân hạt nhân củaurani-239 cùng vớineutron. Chất đồng vị của neptuni mới được tìm thấy đã được tạo ra bằng việc hấp thu neutron vào urani-239 và sự phân rã beta tiếp theo. McMillan hiểu rõ nguyên tắc cơ bản của phản ứng và bắt đầu bắn phá urani-239 bằngdeuteri để tạo ranguyên tố 94. Sau đó ông chuyển tới nghiên cứuradarHọc viện Công nghệ Massachusetts, vàGlenn T. Seaborg đã hoàn thành công việc nói trên.

TrongChiến tranh thế giới thứ hai, ông tham gia nghiên cứu vềradar,sonar tạiHọc viện Công nghệ MassachusettsCambridge, Massachusetts, gầnSan Diego, và khoảng tháng 11 năm 1942 ông được tuyển mộ tham giadự án ManhattanPhòng thí nghiệm Quốc gia Los Alamos.

Sau chiến tranh, ông vào làm việc trongPhòng thí nghiệm bức xạ Berkeley, và trở thành trưởng phòng, sau khi Ernest Lawrence qua đời năm 1958.

Năm 1945 ông đã đưa ra ý tưởng cải thiện cyclotron, dẫn đến sự phát triển củasynchrotron[1]. Synchrotron được sử dụng để tạo ra các nguyên tố mới ở Phòng thí nghiệm bức xạ Berkeley, mở rộngBảng tuần hoàn vượt xa 92 nguyên tố đã được biết trước năm 1940.

Năm 1946, ông trở thành giáo sư ở Đại học California tại Berkeley. Năm 1954 ông được bổ nhiệm làm phó giám đốc Phòng thí nghiệm bức xạ Lawrence, thăng chức giám đốc năm 1958. Ông tiếp tục làm việc ở đây cho tới khi nghỉ hưu năm 1973.

Ông được bầu vàoViện Hàn lâm Khoa học quốc gia Hoa Kỳ năm 1947, làm chủ tịch viện này từ năm 1968 tới 1971.

Giải thưởng

[sửa |sửa mã nguồn]

Tham khảo

[sửa |sửa mã nguồn]
  1. ^một kiểu đặc biệt của máy gia tốc hạt
  2. ^"Nobel Prize Medal in Chemistry". National Museum of American History, Smithsonian Institution. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2008.

Tác phẩm

[sửa |sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài

[sửa |sửa mã nguồn]
1901–1925
1926–1950
1951–1975
1976–2000
2001–nay
Lấy từ “https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Edwin_McMillan&oldid=71735549
Thể loại:
Thể loại ẩn:

[8]ページ先頭

©2009-2025 Movatter.jp