Mile (dặm Anh đôi khi được gọi tắt làdặm, tuy nhiên cũng nên phân biệt với một đơn vị đo lường cổ được người Việt , người Hoa sử dụng cũng được gọi là dặm) là mộtđơn vịchiều dài, thường được dùng để đokhoảng cách, trong một số hệ thống đo lường khác nhau, trong đó cóHệ đo lường Anh,Hệ đo lường Mỹ vàmil của Na Uy/Thụy Điển.Chiều dài của mỗi hệ chênh lệch nhau, nhưng nói chung là hơn 1km và dưới 3 km. Trong các ngữ cảnhtiếng Anh hiện naymile có thể là:
Dặm pháp định bằng 5.280 feet (khoảng 1.609 m), hoặc 63360inch
Hải lý (nautical mile) bằng chính xác 1.852 m (khoảng 6.076 feet).
Có nhiều cách viết tắt cho mile: mi, ml, m, M.NIST hiện nay sử dụng và đề nghị cách viết tắt "mi", nhưngdặm trên giờ thường được viết ngắn lại là "mph", "m.p.h." hoặc "MPH" thay vì "mi/h".
Đơn vị khoảng cách gọi làmile được sử dụng lần đầu bởi những ngườiLa Mã để chỉ một khoảng cách là 1000pace (bước chạy) (1pace là 2step - hay bước đi, 1000 pace trongtiếng Latin làmille passus) hoặc 5000 feet La Mã, và tương ứng với khoảng 1480 mét, hoặc 1618 yard hiện đại.[1]
Định nghĩa hiện nay của một mile là 5.280 feet (chứ không phải 5000 như thời La Mã). Tỷ lệ này có từthế kỷ 13, và sau được xác nhận bởi quy định pháp luật dưới triều đạiNữ hoàng Elizabeth I. Việc điều chỉnhchiều dài củamile là để thích ứng vớirod, một đơn vịchiều dài nằm trong các văn bản pháp luật cổ của Anh (xem thảo luận vềfurlong).
Trong cách dùng ngày nay, có nhiều khoảng cách khác nhau được định nghĩa làmile.
Nó bắt nguồn từĐạo luật của nghị viện Anh vào năm 1592 dưới thời trị vì củaElizabeth I của Anh. Luật này định nghĩa Mile pháp định là 5.280feet hoặc 1.760 yard; hoặc 63.360inch. Lý do xuất hiện những con số khá bất quy tắc này là do 5280 feet tạo thành từ támfurlong (chiều dài vết xe tạo ra trước khi ngựa đổi hướng,furlong =furrow (vết xe) +long (dài)). Đến lượt 1 furlong bằng 10 chain (xích) (xích của viên thanh tra, được dùng cho đến khi dụng cụ đo bằnglaser thay thế); một chain bằng 22 yard và một yard bằng 3 feet, do đó thành ra là 5280 feet. 22 yard cũng làchiều dài của sân thi đấu môncricket, một trò chơi bắt nguồn từ Anh và vẫn còn được chơi ở một số nước trước đây là một phần củaĐế quốc Anh.
Trước khi có đạo luật của nghị viện Anh thìchiều dài củamile chưa thống nhất. Mile của ngườiIreland bằng 2240 yard (6720 ft) và mile của ngườiScotland, được gọi làMile Hoàng gia ởEdinburg, là khoảng cách từ Lâu đài đến Cung điện Holyroodhouse, và bằng 1976 yard (5928 ft). Ở Anh, một dặm La Mã bằng 5.000 feet cũng thường được dùng, mộtchiều dài không chẵn cho furlong và yard (5000 ft = 1666 2/3 yard). Vào những năm 1500, sự đo đạc bản đồ chính xác đã bắt đầu phổ biến, như bản đồ Các Hạt ở nước Anh của Saxton. Do đó, một dặm tiêu chuẩn trở thành vấn đề quan trọng hơn bao giờ hết, đã dẫn đến Đạo luật Nghị viện. Nó cũng liên quan đến khả năng thu thuế, vì một chuẩn đo thống nhất trên toàn quốc sẽ là cần thiết để tránh những tranh cãi trong từng vùng vềchiều dài và diện tích.
Ngày nay,dặm pháp định quốc tế đã được thống nhất trên khắp thế giới.Mile được định nghĩa chính xác là 1.760yard quốc tế (bằng 0,9144 m) và do đó bằng chính xác 1.609,344 mét (hay 1,609344 km). Một kilômét bằng 0,621371192 dặm.Mile này cũng được dùng ởHoa Kỳ vàVương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland như một phần củaHệ đo lường Mỹ vàHệ đo lường Anh. Các thành phần của dặm pháp định quốc tế cũng giống như Đạo luật Nghị viện Anh vào năm 1592, đó là 8furlong, 80chain hoặc 5.280feet quốc tế.
Tất cả sự chuyển đổi sang hệ mét đều theo một thỏa thuận quốc tế được tạo ra vào năm 1960, đó là một inch bằng chính xác 25,4 milimét (2,54 xentimét). Có 12 inch trong một foot và tất cả các sự chuyển đổi từ feet sang mét (và ngược lại) đều theo chuẩn đó.
Dặm khảo sát Hoa Kỳ dựa trên một inch được định nghĩa chính xác là 1 mét = 39,37 inch. Mile này đo được 5.280 feet khảo sát của Mỹ, hoặc xấp xỉ 1.609,347 mét. Vì vậydặm quốc tế chênh lệch với dặm khảo sát với tỷ lệ 1 dặm pháp định: 0,999 998 dặm khảo sát. Dặm khảo sát được dùng trongHệ thống Khảo sát Đất đai Công cộng của Hoa Kỳ.
Sự hữu ích của hải lý Mỗi vòng tròn là mộtvòng tròn lớn – tương tự như một đường thẳng trong lượng giác cầu – và do đó là đường thẳng ngắn nhất nối liền hai điểm trên bề mặt cầu.
Hải lý hayDặm biển (nautical mile) trước đây được định nghĩa bằngchiều dài góc 1phút củacungkinh tuyến (hoặc là bất kỳvòng tròn lớn nào) củaTrái Đất. Mặc dù khoảng cách này thay đổi tùy vào vĩ độ của kinh tuyến (hoặc vòng tròn lớn) nơi đang sử dụng, trung bình nó khoảng 6.076 feet (khoảng 1852m hoặc 1,15dặm pháp định).
Hải lý trên giờ có tên làknot (tiếng Việt gọi là gút hay nút).
Những người đi biển sử dụng com-pa để "bước đi" trên đường thẳng nối giữa hai điểm cần đo, sau đó đặt com-pa mở vào thước đo độ vĩ ở góc bản đồ, từ đó đọc được khoảng cách tính theo hải lý. Vì ngày nay ta biết rằng Trái Đất hìnhellipsoid chứ không phảihình cầu, nên cách tính khoảng cách hải lý như thế sẽ khác nhau khi thay đổi từxích đạo lên các địa cực. Ví dụ, sử dụng WGS84 Ellipsoid, Mô hình Trái Đất được chấp nhận phổ biến hiện nay, 1 phút vĩ độ tại xích đạo WGS84 là 6.087 feet và tại địa cực là 6.067 feet.
Ở Mỹ, một hải lý được định nghĩa vào thế kỷ thứ 19 là 6.080,2 feet (1.853,249 m), trong khi ở AnhHải lý Hải quân được định nghĩa là 6.080 feet (hay 1.853,184 m), tương đương với 1 phút độ vĩ theo các vĩ tuyến ở phía Nam nước Anh. Những nước khác có những định nghĩa khác về hải lý, nhưng hiện nay nó đã được định nghĩa trên toàn thế giới là bằng chính xác 1.852 mét.
Hải lý hầu như được sử dụng trên toàn thế giới khi du hành bằng đường hàng không, hàng hải, và các lĩnh vực liên quan đến hàng hải vì mối liên hệ của nó với độ và phút của độ vĩ và khả năng sử dụng thước đo tỷ lệ vĩ độ của bản đồ để đo khoảng cách.
Một thuật ngữ khác -dặm biển - vẫn còn được sử dụng cho khoảng cách của một phút độ vĩ.
Dặm La mã (tiếng Latin:mille passus, số nhiềumilia passuum), bằng 1000 bước kép (passus, số nhiềupassūs) mỗi bước bằng 5 feet La Mã (pēs, số nhiềupedēs).Chiều dài của nó là 5.000 feet La Mã, khoảng gần chính xác 1500 m.
Dặm Ý còn được gọi làdặm La Mã (~1,52kilômét hay 0,944 dặm pháp định) là một ngàn bước, mỗi bước là 5 feet La Mã (foot La mã bằng một phần 5 của mộtinch ngắn hơn foot London).
Thuật ngữDặm Metric được dùng trong thể thao như mônđiền kinh vàtrượt băng tốc độ để chỉ khoảng cách là 1,5kilômét. Ở các giải thi đấu ở cấp phổ thông ở Mỹ, thuật ngữ này đôi khi được dùng cho một cuộc đua dài 1,6 kilômét.
mil của Na Uy/Thụy Điển (dặm Thụy Điển, hiện được dùng ởNa Uy vàThụy Điển) được định nghĩa bằng 10kilômét từ ngày1 tháng 1 năm1889, khihệ mét được giới thiệu tại Thụy Điển.mil, đơn vị tồn tại trước khi hệ mét ra đời, trước đây có tên làrast, nghĩa làngừng, nghỉ, dài khoảng 11,3 kilômét ở Na Uy (xemDặm dài ở dưới) và 10.688,54 mét ở Thụy Điển, đại diện cho khoảng cách thích hợp giữa hai chặng nghỉ khi đi bộ. Trong các tình huống thông thường và không chính xác liên quan đến những khoảng cách dài hơn vài cây số, theo một quy định, mil được dùng thay vì kilômét. Nó cũng được dùng phổ biến để đo mức tiêu thụ nhiên liệu của xe cộ;lít trên mil có nghĩa là số lít nhiên liệu tiêu thụ trên mỗi 10 kilômét[1]Lưu trữ ngày 20 tháng 4 năm 2006 tạiWayback Machine.
Dặm dài, được sử dụng trước đây bởi ngườiNa Uy,Thụy Điển vàHungary, gần bằng một dặm Đức rưỡi hoặc khoảng 11 kilômét.
Đơn vị tương ứng củaPhần Lan,virsta, là 1068,8m. Mườivirsta tạo thành mộtpeninkulma (có nghĩa là "tầm nghe của chó săn", khoảng cách xa nhất có thể nghe được tiếng sủa của chó trong không khí), 10,688km. Ngày naypeninkulma để chỉ 10 km trong cách dùng thông dụng của Phần Lan (giống nhưmil trong cách dùng của Na Uy và Thụy Điển).
Dặm của người bơi là 1500 mét hoặc 30 vòng trong một hồ 25 mét. Nó có thể chuyển đổi (thô) thành 1650 yard trong hồ nước 25 yard (33 vòng), khoảng cách chuẩn trong các cuộc thi Liên trường Đại học ở Hoa Kỳ.
Dặm quốc gia được sử dụng thông tục để chỉ một khoảng cách rất dài.