| Citrine | |
|---|---|
Một mẫu cắt của thạch anh citrine ở Brazil | |
| Thông tin chung | |
| Thể loại | Khoáng vật |
| Công thức hóa học | Silica (silicon dioxide,SiO2) |
| Phân loại Strunz | 4.DA.05 (Oxide) |
| Phân loại Dana | 75.1.3.1 |
| Hệ tinh thể | Hệ ba phương |
| Lớp tinh thể | Hình thang diện (lớp 3 2) |
| Nhóm không gian | Qz |
| Nhận dạng | |
| Màu | Tự nhiên: màu vàng nhạt, đôi khi kèm sắc cam, xanh lá hoặc xám khói Thạch anh tím qua xử lý nhiệt: màu vàng-cam, cam-đỏ hoặc cam-nâu |
| Song tinh | Phổ biến: Luật Dauphiné, Luật Brazil, Luật Nhật Bản |
| Cát khai | Không có |
| Vết vỡ | Dạng vỏ sò |
| Độ cứng Mohs | 7 |
| Ánh | Thủy tinh |
| Màu vết vạch | Trắng |
| Tính trong mờ | Trong suốt đến bán trong suốt |
| Tỷ trọng riêng | 2,65 |
| Thuộc tính quang | Trục đơn (+) |
| Chiết suất | 1.544-1.553 |
| Khúc xạ kép | 0,009 |
| Đa sắc | Tự nhiên: dichroism yếu (các sắc thái khác nhau của vàng hoặc cam) Thạch anh tím qua xử lý nhiệt: không có dichroism |
| Tán sắc | 0,013 |
| Tạp chất phổ biến | aluminium,iron |
| Tham chiếu | [1][2] |
Citrine là một biến thểthạch anh trong suốt, có màu vàng. Tên gọi của khoáng vật này bắt nguồn từ từcitrus trongtiếng Latinh (chỉcây chanh), thông qua các dạngtiếng Phápcitrin hoặccitron mang nghĩa 'quả chanh'.[3] Citrine là một trong những loạiđá quý màu vàng phổ biến nhất và đã được sử dụng từ thờiAi Cập cổ đại. Nguồn gốc tạo màu của khoáng vật này vẫn còn gây tranh cãi. Không phải mọi dạngthạch anhmàu vàng đều được xem là citrine; ví dụ, những mẫu bị nhuộm vàng do bao thể sắt hoặc do lớp phủ sắt thì không được coi là citrine. Citrine tự nhiên khá hiếm; phần lớn citrine được bán trên thị trường tạo ra bằng cách nungamethyst hoặcthạch anh ám khói.
Citrine tự nhiên có màu từ vàng đến vàng cam hoặc vàng lục. Nguyên nhân tạo màu của khoáng vật này hiện vẫn chưa được thống nhất.[2] Có bằng chứng cho thấy màu sắc của khoáng vật này có liên quan đến sự hiện diện của cáctâm màu gốcnhôm trongcấu trúc tinh thể của nó, tương tự như ởthạch anh ám khói.[4][5] Citrine vàthạch anh ám khói có thể tồn tại trong cùng mộtmôi trường địa chất và thường được tìm thấy trong cùng mộttinh thể, được gọi là "thạch anh vàng khói". Ngoài ra, cũng có ý kiến cho rằng màu sắc của citrine có thể do một lượng nhỏ sắt gây ra;[2] nhiều nguồn cho rằng màu sắc của citrine có nguồn gốc từoxide sắt.[1][6][7] Tuy nhiên, cáctinh thể tổng hợp nuôi trong dung dịch giàu sắt không tái tạo được màu sắc hoặclưỡng sắc của citrine tự nhiên. Độ nhạy vớitia cực tím cũng cho thấy màu sắc này không chỉ do cácnguyên tố vi lượng gây ra.[2]
Citrine tự nhiên rất hiếm; phần lớn citrine được bán trên thị trường thực chất làthạch anh tím đã qua xử lý nhiệt.[2][6] và do đó không được coi là citrine thực sự theo định nghĩakhoáng vật học nghiêm ngặt.[2] Thạch anh tím sẽ mất màu tím tự nhiên khi được nung nóng đến nhiệt độ trên 200–300 °C (392–572 °F).[8] Citrine tự nhiên thường có màu nhạt, trong khi thạch anh tím đã qua xử lý nhiệt thường có màu vàng đậm hơn, cam, đỏ hoặc thậm chí lànâu.[1] Trong đó, loại thứ hai đôi khi được coi là "thạch anh tím bị nung".[9] Không giống như citrine tự nhiên, màu sắc của thạch anh tím đã qua xử lý nhiệt được cho là chỉ xuất phát từ một lượng nhỏoxide sắt, chủ yếu làhematit vàgoethit. Lượng sắt này vốn đã có trongthạch anh tím ban đầu và bịoxy hóa trong quá trình nung nóng. Thạch anh tím được xử lý nhiệt, tương tự như cáctinh thể tổng hợp, không thể hiện tínhlưỡng sắc của citrine tự nhiên. Bên cạnh đó,thạch anh ám khói cũng có thể được xử lý nhiệt để trông giống citrine. Khác với thạch anh tím, thạch anh ám khói vốn có tínhlưỡng sắc và vẫn giữ được đặc điểm này sau khi xử lý nhiệt.[2]
Thạch anh tím có hàm lượng sắt nhất định có thể được nung nóng để tạo racitrine madeira, có màu cam đậm và xuất hiện các ánh đỏ. Tên gọi này bắt nguồn từ từmadeira trongtiếng Bồ Đào Nha, nghĩa là "gỗ".[7]Thạch anh trong suốt có thể được chiếu xạ để tạo ralemon quartz (thạch anh 'chanh'), có màu là vàngneon hoặc vàng lục.[1]

Thạch anh trong suốt có thể chứa tạp chất sắt tự nhiên hoặc vết ốlimonit, khiến nó trông giống citrine. Tuy nhiên, những tinh thể này chỉ có màu trên bề mặt hoặc ở một số điểm nhất định bên trong. Do đó,thạch anh có màu do lớp phủ hoặc tạp chất không được coi là citrine.[2]

Tương tựthạch anh tím tự nhiên, thạch anh tím đã qua xử lý nhiệt thường chỉ có màu ở một số vùng, không lan tỏa đều khắp tinh thể.[8][10] Ở các tinh thể hình thành từđá cuội, màu sắc thường đậm ở gần đỉnh, còn gần đáy thì nhạt hoặctrắng.[8] Citrine tự nhiên thường có các vùng mờ hoặc đốm đen,[2] Nhưng các mẫu citrine dạngtinh hốc và các phần hốc tinh thể thường làthạch anh tím đã được xử lý nhiệt.[11]

Rất khó để phân biệt citrine vàtopaz vàng bằng mắt thường. Tuy nhiên, về độ cứng của hai khoáng vật này lại có sự chênh lệch nhỏ, thạch anh có độ cứng là 7, trong khi của topaz là 8 trênthang Mohs.[12]
Thêm vào đó, citrine cũng dễ bị nhầm vớiscapolite vàng, nhưng citrine lại phổ biến hơn nhiều.[1] Về tính đa sắc, citrinelưỡng sắc yếu, cònscapolite từ trung bình đến mạnh và thường có độkhúc xạ kép cao hơn.[13]
Hầu hết citrine, bao gồm cả thạch anh tím tự nhiên[1] vàthạch anh tím đã xử lý nhiệt,[12] đều có nguồn gốc từBrazil. Citrine tự nhiên cũng có thể tìm thấy ởNga vàMadagascar.[12] Trong khi đó, các nướcUruguay,Zambia, Madagascar và bangRio Grande do Sul (Brasil) là những nơi tiên phong trong việc sản xuấtcitrinemadeira.[7] Các nơi sản xuất citrine đáng chú ý khác gồm:Bolivia, Cộng hòa Dân chủCongo,Mexico,Myanmar,Namibia,Peru,Nam Phi và Hoa Kỳ.[1]
Thạch anh và các biến thể thạch anh đã được dùng làm đá quý hàng ngàn năm.Người Ai Cập cổ đại dùng citrine và các loại thạch anh khác làmbùa hộ mệnh,người Hy Lạp dùng để khắc biểu tượng, còn cácthầy tế lễLa Mã dùng làm nhẫn. Ở Anh, Nữ vươngVictoria rất yêu thích loại đá quý này; nhiềutrâm cài, mặt dây chuyền từ thời kỳ đó vẫn còn tồn tại.[14] Trước khikhoáng vật học hiện đại ra đời, citrine thường bị nhầm vớitopaz, vì nhiều nền văn hóa dùng tên topaz cho bất kỳ loại đá quý vàng kim nào. Tên citrine lần đầu xuất hiện trongtừ điển tiếng Anh vàothế kỷ 14.[15] Bên cạnh đó, citrine còn được biết đến với tên gọi là 'đá của thươnggia' hay 'đá tiền bạc', do có nhiều quan niệm cho rằng nó mang lại sự thịnh vượng.[16]
Citrine hiện là đá quý màu vàng-cam bán chạy nhất thời điểm hiện tại,[6] và nó được sử dụng rộng rãi trong trang sức. Trong vài thập niên gần đây, citrine trở nên phổ biến hơn nhờchiến lược tiếp thị mạnh mẽ vàxu hướng thời trang tông màu đất.[1] Citrine đôi khi được dùng như lựa chọn thay thế rẻ hơn so vớitopaz vàng – loại đá tượng trưng cho tháng 11.[12]