Movatterモバイル変換


[0]ホーム

URL:


Bước tới nội dung
WikipediaBách khoa toàn thư mở
Tìm kiếm

Christian VIII của Đan Mạch

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Christian VIII của Đan Mạch
Hoạ phẩm củaLouis Aumont, năm 1831
Vua của Đan Mạch
Tại vị3 tháng 12 năm183920 tháng 1 năm1848
8 năm, 48 ngày
Đăng quang28 tháng 6 năm1840
Nhà thờ Cung điện Frederiksborg
Tiền nhiệmFrederik VI
Kế nhiệmFrederik VII
Vua Na Uy
Tại vị17 tháng 5 năm181410 tháng 10 năm1814
146 ngày
Tiền nhiệmFrederik VI
Kế nhiệmKarl II
Thông tin chung
Sinh18 tháng 9 năm1786
Cung điện Christiansborg,Copenhagen,Đan Mạch
Mất20 tháng 1 năm1848 (61 tuổi)
Cung điện Amalienborg,Copenhagen,Đan Mạch
An tángNhà thờ Roskilde
Phối ngẫu
Hậu duệFrederik VII của Đan Mạch
Tên đầy đủ
Christian Frederick
Hoàng tộcNhà Oldenburg
Thân phụFrederik, Thế tử Đan Mạch (chính thức)
Frederik von Blücher (tin đồn)
Thân mẫuSophie Frederike xứ Mecklenburg-Schwerin
Tôn giáoGiáo hội Luther

Christian VIII (18 tháng 9 năm178620 tháng 1 năm1848) làVua của Đan Mạch từ năm 1839 đến năm 1848 và làVua Na Uy với hiệu làChristian Frederik, năm 1814.[1]

Christian Frederik là trưởng nam của Thế tửFrederik, người con trai thứ của Quốc vươngFrederik V của Đan Mạch và Na Uy. Do người anh họ của ông là Quốc vươngFrederik VI không có con trai, Christian Frederik trở thành người thừa kế dự định (heir presumptive) của ngai vàng kể từ năm 1808.

Những năm đầu đời

[sửa |sửa mã nguồn]

gia đình

[sửa |sửa mã nguồn]

Vương tử Christian Frederik của Đan Mạch–Na Uy chào đời vào cuối buổi sáng ngày 18 tháng 9 năm 1786, tại cung điện Christiansborg, chính điện của vương thất Đan Mạch, tọa lạc trên đảo Slotsholmen, giữa kinh thành Copenhagen.[2] Ông được chính thức công nhận là trưởng nam của Thế tửFrederik của Đan Mạch–Na Uy và Công nữSophia Frederica xứ Mecklenburg-Schwerin. Cha của ông là con trai út của Tiên vươngFrederik V của Đan Mạch–Na Uy và Kế hậuJuliana Maria xứ Brunswick-Wolfenbüttel; còn mẫu thân là con gái của Công tướcLudwig xứ Mecklenburg-Schwerin.[3]

Ngày 28 tháng 9 năm 1786, Vương tử được rửa tội với tênChristian Frederick trong phòng của mẹ ông tại Cung điện Christiansborg bởi cha giải tội hoàng gia Christian Bastholm chủ trì.[4] Những người làm cha mẹ đỡ đầu cho ông gồm có: Quốc vương Christian VII (chú), thái hậu Juliana Maria (bà nội), Thái tửFrederik (anh họ), Vương nữLouise Augusta (chị họ) và Công thế tửFrederik Christian xứ Augustenburg.[5]

Tuy nhiên, trong nội bộ hoàng gia, người ta rộng rãi thừa nhận rằng cha ruột thực sự của đứa trẻ rất có thể làFrederick von Blücher, phụ tá quân sự kiêm Hofmarschall (Tổng quản nội đình). Nhân vật này cũng được cho là phụ thân của ba người em kế của Vương tử:Juliane Sophie,Louise CharlotteFrederik Ferdinand.[6][7][8][9]


Trong một bức thư viết năm 1805, Thái tử Frederik gửi cho em rể là Công tước Frederik Christian II xứ Augustenburg, ông có nhắc đến sự dung túng của Thế tử đối với vị Tổng quản này, và viết rằng:

“… chú của ta quá trân trọng người đã tạo ra bốn vị vương tử và vương nữ vô cùng đáng yêu ấy, đến mức không nỡ đuổi ông ta đi.”[10]

Khi Christian Frederik chào đời, bác của ông, Quốc vương Christian VII khi ấy đang tại vị trên ngai vàng Đan Mạch–Na Uy. Tuy nhiên, do bệnh lý tinh thần, Quốc vương không thể thân chấp chính sự. Kể từ năm 1772, Thế tử Frederik đã nhiếp chính, cùng với thái hậu Juliana Maria và cận thầnOve Høegh-Guldberg. Đến năm 1784, Thái tử Frederik con trai duy nhất của Quốc vương Christian VII (về sau là Quốc vương Frederik VI) đã tiến hành một chính biến cung đình, đoạt lấy thực quyền, trở thành người cầm quyền thực sự của vương quốc.

Trong suốt thời thơ ấu của Vương tử Christian Frederik, do những xung đột quyền lực nói trên, mối quan hệ giữa gia đình và nhánh Thái tử khá căng thẳng. Tuy nhiên, theo thời gian, quan hệ giữa hai nhánh của hoàng thất dần được hòa hoãn và bình thường hóa.

Thời thơ ấu và giáo dục

[sửa |sửa mã nguồn]
Vương tử Christian Frederick. Chân dung của Jens Juel, 1802.

Trong những năm đầu đời, Vương tử Christian Frederik cùng các anh chị em sinh sống tại cung điện Christiansborg rộng lớn và lộng lẫy, kiến trúc theo phong cách Baroque. Đến năm 1789, cha họ mua cung điện Sorgenfri, một dinh thự ngoại ô nhỏ làm hành cung mùa hạ cho gia đình. Cung điện này tọa lạc bên bờ sông Mølleåen, tại Kongens Lyngby, phía bắc kinh thành Copenhagen.

Ngày 26 tháng 2 năm 1794, gia đình Vương tử chịu một biến cố lớn, khi cung điện Christiansborg bị hỏa hoạn thiêu rụi, khiến họ mất đi phủ đệ tại kinh thành. Sau đó, Hoàng thân Kế vị đã mua cung điện Levetzau, một tòa phủ đệ đô thị thế kỷ XVIII, nay là một phần của quần thể cung điện Amalienborg, nằm trong khu Frederiksstaden, trung tâm Copenhagen.

Đến tháng 11 cùng năm, khi mới tám tuổi, Vương tử phải chịu nỗi tang thương lớn nhất thời ấu niên: mẫu thân, vốn lâu nay thể trạng suy nhược, qua đời tại cung Sorgenfri ở tuổi 36.

Christian Frederik được giáo dưỡng theo khuynh hướng bảo thủ, tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc của cựu đại thần Ove Høegh-Guldberg, người từng bị thất thế trong chính biến năm 1784 cùng với cha ông. Việc giáo dục mang tính toàn diện và uyên bác, bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau, đồng thời được tiếp xúc sớm với giới nghệ sĩ và học giả, những người thường xuyên lui tới triều đình của phụ thân. Ông thừa hưởng tư chất xuất chúng của mẫu thân, đặc biệt là niềm say mê khoa học và nghệ thuật, được bồi đắp ngay từ thuở thiếu thời và theo ngài suốt cuộc đời. Tư chất ôn hòa, cùng dung mạo tuấn tú, được cho là đã khiến Vương tử rất được lòng dân chúng kinh thành Copenhagen.[11]

Ngày 22 tháng 5 năm 1803, Vương tử được làm Lễ xác nhận đức tin trongGiáo hội Luther tại nhà nguyện cung điện Frederiksberg, cùng với hai muội muội là Công chúa Juliane Sophie và Công chúa Louise Charlotte.[12]

Khoảng một năm rưỡi sau, vào ngày 7 tháng 12 năm 1805, Thế tử Frederik mất, ở tuổi 52. Khi ấy, Christian Frederik, mới 19 tuổi, kế thừa địa vị thứ hai trong trật tự kế vị ngai vàng, đồng thời tiếp nhận hai phủ đệ gia tộc là cung điện Levetzau và cung điện Sorgenfri.

Đến ngày 13 tháng 3 năm 1808, Quốc vương Christian VII băng hà; Thái tử Frederik tức vị, trở thành Quốc vương Frederik VI của Đan Mạch–Na Uy. Do tân vương vẫn chưa có con trai, nên Vương tử Christian Frederik từ đó chính thức trở thành người thừa kế dự định (Thái tử dự định) của vương triều.

Hôn nhân thứ nhất

[sửa |sửa mã nguồn]

Trong một lần đến thăm họ hàng bên ngoại ởMecklenburg, Vương tử Christian Frederik lưu lại triều đình của cậu ruột tạiSchwerin, nơi ông phải lòng người người chị họ của mình là Công nữCharlotte Frederica xứ Mecklenburg-Schwerin, là con gái của Công tước đương nhiệmFriedrich Franz I xứ Mecklenburg-SchwerinLouise xứ Saxe-Gotha-Altenburg. Hai người thành hôn sau đó hai năm, vào ngày 21 tháng 6 năm 1806, tại Ludwigslust.

Sau hôn lễ, đôi vợ chồng trẻ ban đầu định cư tại lâu đài Plön, thuộcCông quốc Holstein. Chính tại đây, Charlotte Frederica sinh hạ trưởng nam, cũng tên là Christian Frederik, nhưng đứa trẻ sinh ra và qua đời ngay trong ngày 8 tháng 4 năm 1807. Từ năm 1808, hai người dời về kinh thành Copenhagen, cư trú luân phiên tại cung điện Levetzau ở Amalienborg và cung điện Sorgenfri. Ngày 6 tháng 10 năm 1808, con trai thứ hai, đồng thời là đích tử duy nhất sống sót, chào đời: Vương tửFrederik Carl Christian, người về sau đăng cơ với tôn hiệu Quốc vương Frederik VII của Đan Mạch.

Tuy nhiên, đời sống hôn nhân của hai người sớm rạn nứt. Charlotte Frederica thuở thiếu thời được ca ngợi là dung mạo tuyệt sắc, song tính tình lại bị đánh giá là thất thường, bốc đồng, phù phiếm và hay bịa đặt, những đặc điểm mà hậu thế cho rằng sau này được cho là lặp lại ở con trai bà, Frederik VII. Việc bị cáo buộc tư thông với thầy dạy thanh nhạc của mình,Édouard Du Puy, một ca sĩ kiêm nhạc sĩ gốc Thụy Sĩ, đã khiến bà bị trục xuất khỏi triều đình. Vì sự việc này, Christian Frederik đã chính thức đoạn tuyệt hôn nhân vào năm 1810, đày vợ cũ đi nội cư tại thị trấn Horsens, đồng thời nghiêm cấm bà vĩnh viễn không được gặp lại đứa con duy nhất của họ.[13]

Vua Na Uy

[sửa |sửa mã nguồn]
Chân dung năm 1813 bởi Friedrich Carl Gröger.

Vào tháng 5 năm 1813, với tư cách là người thừa kế dự định của hai vương quốc Đan Mạch–Na Uy, Christian Frederik được phái sang Na Uy giữ chứcStattholder (Tổng trấn / Toàn quyền), với sứ mệnh củng cố lòng trung thành của người Na Uy đối với vương triều Oldenburg. Khi ấy, uy tín của vương triều tại Na Uy đã bị tổn hại nghiêm trọng do Quốc vương Frederik VI đứng về phíaNapoléon I của Pháp, một lựa chọn chính trị dẫn đến hậu quả thảm hại khi thế lực của Napoléon suy sụp. Bằng uy tín cá nhân, Christian đã nỗ lực hết sức nhằm thắt chặt mối liên kết giữa người Na Uy và hoàng gia. Mặc dù những cố gắng ấy bị “đảng Thụy Điển” trong nước phản đối, phe chủ trương liên minh vương triều với Thụy Điển, song sau khi Hiệp ước Kiel buộc Đan Mạch phải nhượng Na Uy cho Thụy Điển, ông đã đứng ra lãnh đạo phe chủ trương độc lập của Na Uy. Ngày 16 tháng 2 năm 1814, ông được bầu làm Nhiếp chính của Na Uy.[11][14] Quyết định này được Quốc hội Lập hiến Na Uy, triệu tập tạiEidsvoll ngày 10 tháng 4, chính thức phê chuẩn. Đến ngày 17 tháng 5, Hiến pháp Na Uy được ký kết, và Christian được nhất trí tôn lập làm Quốc vương Na Uy, với vương hiệu Christian Frederik (tiếng Na Uy:Kristian Frederik).

Sau khi đăng cơ, Quốc vương Christian Frederik tìm cách vận động các cường quốc châu Âu ủng hộ chính nghĩa của Na Uy, nhưng không đạt được kết quả. Khi bị các ủy viên của khối Đồng minh gây sức ép, yêu cầu ông thi hành điều khoản Hiệp ước Kiel, chấp nhận liên hiệp Na Uy–Thụy Điển, rồi thoái vị để hồi quốc Đan Mạch, ông đáp rằng: với tư cách là quân chủ lập hiến, ông không thể hành động nếu không có sự chấp thuận của Quốc hội (Storting) — cơ quan này chỉ có thể được triệu tập sau khi Thụy Điển đình chiến. Thụy Điển bác bỏ các điều kiện của Christian Frederik, dẫn đến một chiến dịch quân sự ngắn ngủi.[11][15]Quân đội Na Uy bại trận trước lực lượng của Thái tử Thụy ĐiểnCharles John (Jean-Baptiste Bernadotte). Cuộc chiến kết thúc bằngCông ước Moss, ký ngày 14 tháng 8 năm 1814. Theo các điều khoản của hiệp ước, Christian Frederik đã chuyển giao quyền hành pháp cho Quốc hội, sau đó tự nguyện thoái vị, rời Na Uy để trở về Đan Mạch. Về phần mình, Quốc hội Na Uy tiến hành tu chính Hiến pháp, tạo cơ sở pháp lý cho liên hiệp cá nhân với Thụy Điển, và đến ngày 4 tháng 11 năm 1814, tôn cử Quốc vương Thụy ĐiểnCharles XIII làm Quốc vương Na Uy, với vương hiệu Charles II.[16]

Người thừa kế dự định của Đan Mạch

[sửa |sửa mã nguồn]

Hôn nhân thứ hai

[sửa |sửa mã nguồn]

Sau khi hồi quốc từ Na Uy, Christian Frederik kết hôn lần thứ hai vớiCaroline Amalie xứ Schleswig-Holstein-Sonderburg-Augustenburg, con gái của Vương nữLouise Augusta của Đan Mạch, em gái duy nhất của Frederick VI. Hôn lễ được cử hành tại cung điện Augustenborg vào ngày 22 tháng 5 năm 1815. Cuộc hôn nhân này không có con nối dõi. Hai người sống khá ẩn dật, giữ vai trò bảo trợ và dẫn dắt giới văn học – khoa học tại Copenhagen, cho đến khi Christian chính thức đăng cơ Quốc vương Đan Mạch.[17]

Ngoài hôn nhân chính thức, Christian có mười người con ngoài giá thú, ông chu cấp, sắp đặt chu đáo cho tất cả. Có giả thuyết cho rằng trong số những người con ấy có thể bao gồm nhà văn truyện cổ tíchHans Christian Andersen, tuy nhiên, có rất ít bằng chứng để chứng minh điều này.[18]

Vua Đan Mạch

[sửa |sửa mã nguồn]
Christian VIII và vợ, Caroline Amalie trong lễ tấn phong vào ngày 28 tháng 6 năm 1840 tại nhà nguyện Cung điện Frederiksborg.

Ngày 3 tháng 12 năm 1839, Vua Frederick VI qua đời, Christian Frederik chính thức lên ngôi vua Đan Mạch, lấy vương hiệu Christian VIII của Đan Mạch. Khi ấy, đảng Tự do đặt kỳ vọng rất lớn vào vị quân vương được họ gọi là “người ban hiến pháp”. Tuy nhiên, đến thời điểm đăng cơ, Christian đã trở nên bảo thủ hơn, dần dần khiến những người ủng hộ thất vọng khi liên tục bác bỏ mọi đề án cải cách mang tính tự do. Cải cách hành chính là lĩnh vực duy nhất ông sẵn sàng cam kết tiến hành.[11] Trong cách ứng xử với làn sóng bất ổn dân tộc đang dâng cao tại hai công quốc Schleswig và Holstein, ông thường tỏ ra do dự, nửa vời, điều này làm suy yếu uy tín của ông tại khu vực này. Mãi đến năm 1846, ông mới công khai ủng hộ quan điểm coi Schleswig là lãnh thổ Đan Mạch.[19]

Về mặt bảo trợkhoa học, Christian VIII tiếp tục chính sách của tiên vương, đặc biệt trongthiên văn học: ông banhuy chương vàng cho những phát hiệnsao chổi bằngkính thiên văn và tài trợ tài chính choHeinrich Christian Schumacher trong việc xuất bản tạp chí khoa họcAstronomische Nachrichten. Cũng dưới triều đại của ông, những lãnh địa cuối cùng của Đan Mạch tại Ấn Độ, gồm Tranquebar ở miền nam và Serampore tạiBengal đã được bán cho Anh quốc vào năm 1845.

Con trai hợp pháp duy nhất của ông, Vương tử Frederik (1808–1863), kết hôn ba lần nhưng không có con hợp pháp. Nhận thấy nguy cơ khủng hoảng kế vị, Christian VIII đã chủ động sắp đặt vấn đề truyền ngôi cho Đan Mạch. Kết quả là việc chọnChristian làm Thế tử kế vị, quyết định này được hợp thức hóa bằng đạo luật ban hành ngày 31 tháng 7 năm 1853, sau một hiệp ước quốc tế ký tại Luân Đôn.

Qua đời

[sửa |sửa mã nguồn]
Lăng mộ của Christian VIII.

Christian VIII băng hà vì nhiễm trùng huyết tại cung điện Amalienborg vào năm 1848, và được an táng tại nhà thờ Roskilde, trên đảo Zealand, nơi an nghỉ truyền thống của các Vua Đan Mạch từ thế kỷ XV. Một số sử gia và nhà viết tiểu sử cho rằng, nếu sống lâu hơn, Christian VIII có thể đã ban cho Đan Mạch một bản Hiến pháp tự do. Lời trăng trối của ông đôi khi được ghi lại là:

“Ta đã không kịp.” (Jeg nåede det ikke)[20]

Tham khảo

[sửa |sửa mã nguồn]
  1. ^"Christian 8". Den Store Danske. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2016.
  2. ^"Kongelige i kirkebøgerne" [Royals in the church records].historie-online.dk (bằng tiếng Đan Mạch). Dansk Historisk Fællesråd.Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2013.
  3. ^Thorsøe 1889, tr. 515.
  4. ^Hindø, Lone; Boelskifte, Else (2007). "Kammerfrøkenen bar den unge prins rundt" [The lady-in-waiting carried the young prince around].Kongelig Dåb. Fjorten generationer ved Rosenborg-døbefonten [Royal Baptisms. Fourteen generations at the Rosenborg baptismal font] (bằng tiếng Đan Mạch). Forlaget Hovedland. tr. 57–65.ISBN 978-87-7070-014-6.
  5. ^Lỗi chú thích: Thẻ<ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tênkongeligedaab2
  6. ^Lỗi chú thích: Thẻ<ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tênStoreDanske
  7. ^Bramsen 1985, tr. 29–31 & 36–37.
  8. ^Bo Bramsen (2002).Huset Glücksborg. Europas Svigerfader og hans efterslægt (bằng tiếng Đan Mạch). Quyển 1. Copenhagen. tr. 200.ISBN 87-553-3230-7.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết)
  9. ^Rie Krarup (1985).Kvindelist og kongelast. Blide duer og stride fruer i danmarkshistorien (bằng tiếng Đan Mạch). Copenhagen.ISBN 978-87-15-05057-2.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết)
  10. ^Dehn-Nielsen 1999, tr. 12.
  11. ^abcdChisholm 1911.
  12. ^Thorsøe 1889, tr. 516.
  13. ^Bo Bramsen (2002).Huset Glücksborg. Europas Svigerfader og hans efterslægt (bằng tiếng Đan Mạch). Quyển 1. Copenhagen. tr. 200.ISBN 87-553-3230-7.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết)
  14. ^Bo Bramsen (2002).Huset Glücksborg. Europas Svigerfader og hans efterslægt (bằng tiếng Đan Mạch). Quyển 1. Copenhagen. tr. 200.ISBN 87-553-3230-7.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết)
  15. ^Bo Bramsen (2002).Huset Glücksborg. Europas Svigerfader og hans efterslægt (bằng tiếng Đan Mạch). Quyển 1. Copenhagen. tr. 200.ISBN 87-553-3230-7.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết)
  16. ^Bo Bramsen (2002).Huset Glücksborg. Europas Svigerfader og hans efterslægt (bằng tiếng Đan Mạch). Quyển 1. Copenhagen. tr. 200.ISBN 87-553-3230-7.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết)
  17. ^Bo Bramsen (2002).Huset Glücksborg. Europas Svigerfader og hans efterslægt (bằng tiếng Đan Mạch). Quyển 1. Copenhagen. tr. 200.ISBN 87-553-3230-7.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết)
  18. ^Bo Bramsen (2002).Huset Glücksborg. Europas Svigerfader og hans efterslægt (bằng tiếng Đan Mạch). Quyển 1. Copenhagen. tr. 200.ISBN 87-553-3230-7.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết)
  19. ^Bo Bramsen (2002).Huset Glücksborg. Europas Svigerfader og hans efterslægt (bằng tiếng Đan Mạch). Quyển 1. Copenhagen. tr. 200.ISBN 87-553-3230-7.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết)
  20. ^Bo Bramsen (2002).Huset Glücksborg. Europas Svigerfader og hans efterslægt (bằng tiếng Đan Mạch). Quyển 1. Copenhagen. tr. 200.ISBN 87-553-3230-7.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết)

Thư mục

[sửa |sửa mã nguồn]
  •  Bài viết này bao gồm văn bản từ một ấn phẩm hiện thời trongphạm vi công cộngChisholm, Hugh, biên tập (1911). "Christian VIII.".Encyclopædia Britannica. Quyển 6 (ấn bản thứ 11). Cambridge University Press. tr. 278.
  • Bramsen, Bo (1985). "Arveprins Frederik og hans ægteskab".Ferdinand og Caroline : en beretning om prinsen der nødig ville være konge af Danmark [Ferdinand and Caroline : an account of the prince who was reluctant to be king of Denmark] (bằng tiếng Đan Mạch) (ấn bản thứ 4). Copenhagen: Nordiske Landes Bogforlag.ISBN 87-87439-22-0.
  • Busck, Jens Gunni (2016).Christian VIII : king first of Norway and then of Denmark. Peter Sean Woltemade biên dịch. Copenhagen: Historika.ISBN 9788793229402.
  • Dehn-Nielsen, Henning (1999).Christian 8. : konge af Danmark, konge af Norge [Christian VIII : King of Denmark, King of Norway] (bằng tiếng Đan Mạch). Copenhagen: Sesam.ISBN 87-11-13191-8.
  • Hennings, Hans Harald (1957)."Christian VIII. (Christian Friedrich)".Neue Deutsche Biographie (bằng tiếng Đức). Quyển 3. Berlin: Duncker & Humblot. tr. 235–236. (full text online).
  • Langslet, Lars Roar (1999).Christian Frederik : konge av Norge (1814), konge av Danmark (1839–48) [Christian Frederick : King of Norway (1814), King of Denmark (1839–48)] (bằng tiếng Na Uy).Oslo:Cappelen.ISBN 87-00-38544-1.
  • Lorentzen, Karl (1876),mẫu:ADB/Nativeno%5d%5d "Christian VIII.",Allgemeine Deutsche Biographie (ADB) (bằng tiếng Đức), quyển 4, Leipzig: Duncker & Humblot, tr. 195–205{{Chú thích}}:Kiểm tra giá trị|chapter-url= (trợ giúp)
  • Scocozza, Benito (1997). "Christian 8.".Politikens bog om danske monarker [Politiken's book about Danish monarchs] (bằng tiếng Đan Mạch). Copenhagen: Politikens Forlag. tr. 170–174.ISBN 87-567-5772-7.
  • Thorsøe, A. (1889). "Christian VIII, Konge". TrongCarl Frederik Bricka (biên tập).Dansk Biografisk Leksikon. Tillige omfattende Norge for Tidsrummet 1537–1814 (bằng tiếng Đan Mạch). Quyển III (ấn bản thứ 1). Copenhagen:Gyldendalske Boghandels Forlag. tr. 515–522.
Lấy từ “https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Christian_VIII_của_Đan_Mạch&oldid=74630789
Thể loại:
Thể loại ẩn:

[8]ページ先頭

©2009-2026 Movatter.jp