
Chính Hoàng kỳ (tiếng Mãn:ᡤᡠᠯᡠ
ᡧᡠᠸᠠᠶᠠᠨ
ᡤᡡᠰᠠ,Möllendorff: gulu suwayan gūsa,Abkai: gulu suwayan gvsa,tiếng Trung: 正黃旗;tiếng Anh:Plain Yellow Banner) là một kỳ trong chế độBát kỳ củaThanh triều và được quản lý trực tiếp bởiHoàng đế, lấy cờ sắc vàng thuần mà gọi tên, cùng vớiTương Hoàng kỳ vàChính Bạch kỳ được xưng làThượng Tam kỳ. Bị ảnh hưởng bởi khái niệm "chính phó" trong văn hóa Trung Quốc, mọi người ngày nay và các phim điện ảnh và truyền hình thường nhầm lẫn Chính Hoàng Kỳ là Kỳ đứng đầu của Bát Kỳ.
Khoảng những năm1601, Nỗ Nhĩ Cáp Xích dựa theo chế độ "Mãnh an mưu" của người Nữ Chân, quy định raBiên chế cơ bản cho Bát kỳ, sau đó lại đặt ra 4 Kỳ phân biệt theo màu cờ hiệu là Hoàng (Suwayan), Bạch (Sanggiyan), Hồng (Fulgiyan), Lam (Lamun). Nỗ Nhĩ Cáp Xích đích thân quản lý Hoàng kỳ.
Về sau, khi thống nhất hoàn toàn các bộ lạc Nữ Chân, Nỗ Nhĩ Cáp Xích tổ chức tăng thêm bốn kỳ nữa. Các kỳ cũ được thêm danh xưngChính (Gulu, không có viền), còn các kỳ mới có thêm màu viền trên cờ hiệu là có thêm danh xưngTương (Kubuhe, có viền), gọi là Tương Hoàng kỳ, Tương Lam kỳ, Tương Bạch kỳ, Tương Hồng kỳ. Nỗ Nhĩ Cáp Xích vẫn đích thân quản lý Chính Hoàng kỳ và Tương Hoàng kỳ.
Cuối những năm Nỗ Nhĩ Cáp Xích tại vị, ông đã đem Chính Hoàng kỳ cho hai đích tử[1] của mình làA Tế Cách vàĐa Nhĩ Cổn, lại chia một nửaTương Hoàng kỳ cho đích ấu tử[2] làĐa Đạc. Cũng từ đây mà địa vị Chính Hoàng kỳ và Tương Hoàng kỳ chính thức hoán đổi cho nhau, Tương Hoàng kỳ trở thành Kỳ đứng đầu và cũng là Kỳ tịch của Hoàng Đế nhà Thanh về sau. Đây cũng là giai đoạn duy nhất mà người sở hữu Ngưu lộc của hai Hoàng kỳ không phải là Đại Hãn hay Hoàng Đế.
Sau khiNỗ Nhĩ Cáp Xích mất, con trai làHoàng Thái Cực trở thànhĐại Hãn. Hoàng Thái Cực lấy lý do hai Hoàng kỳ vốn thuộc sở hữu của Đại Hãn nên đã đổi hai Bạch kỳ với hai Hoàng kỳ, bản thân ông từ đó nắm giữ hai Hoàng kỳ,Đa Đạc từ Kỳ chủ Tương Hoàng kỳ trở thành Kỳ chủChính Bạch kỳ, A Tế Cách và Đa Nhĩ Cổn từ Kỳ chủ Chính Hoàng kỳ trở thành Kỳ chủTương Bạch kỳ. Trước đó, Chính Bạch kỳ vốn thuộc sở hữu của Hoàng Thái Cực và Tương Bạch kỳ thuộc sở hữu củaĐỗ Độ - con trai trưởng củaChử Anh.
Sau khiThuận Trị Đế lên ngôi,Đa Nhĩ Cổn trở thànhNhiếp chính vương. Đa Nhĩ Cổn đã sử dụng quyền lực của mình để độc chiếm hai Bạch kỳ, lấyChính Lam kỳ vốn thuộc vềHào Cách giao choĐa Đạc.
Đa Nhĩ Cổn qua đời,Thuận Trị Đế tiếp quảnChính Bạch kỳ, lại trảTương Bạch kỳ cho hậu duệHào Cách. Kể từ đó, Hoàng đế trực tiếp quản líThượng Tam kỳ (Tương Hoàng kỳ, Chính Hoàng kỳ vàChính Bạch kỳ), ngược lại vớiHạ Ngũ kỳ; bởi vìThượng Tam kỳ doHoàng đế trực tiếp cai quản nên các kỳ này không cóKỳ chủ. Thê thiếp củaHoàng đế, các Thái phi của Tiên đế, cácHoàng tử chưa phân phủ và cácCông chúa chưa xuất giá có Kỳ tịch nằm trong Tương Hoàng kỳ. Cận vệ củaHoàng đế và Thị vệ củaTử Cấm Thành cũng được tuyển chọn từThượng Tam kỳ.
| Binh lực | Tổng nhân khẩu | Kỳ chủ | Lĩnh chủ |
|---|---|---|---|
| 92 Tá lĩnh, 2 bán phân Tá lĩnh, binh lực ước chừng 37,000 tả hữu | Khoảng 250,000 | Hoàng đế | Không có |
Trong phân bố quân Bát kỳ đóng quân ở Bắc Kinh, quân Chính Hoàng kỳ được phân bố đóng ở bên trong Đức Thắng môn của Tử Cấm Thành và phía bắc Tiêu Gia Hà thôn lân cậnViên Minh Viên.
| Tên | Họ | Ghi chú | ||
|---|---|---|---|---|
| Hán - Việt | Hán | Mãn | ||
Mãn Châu[sửa |sửa mã nguồn] | ||||
| Ngạch Nhĩ Đức Ni | 额尔德尼 | tiếng Mãn:ᡝᡵᡩᡝᠨᡳ,chuyển tả: Erdeni | Na Lạp thị | Ban đầu mang họ Na Lạp thị, sau đượcHoàng Thái Cực ban họ Hách Xá Lý, quy vào gia tộc của Phụ chính đại thầnThạc Sắc (chaSách Ni) và Đại học sĩHi Phúc. Ông cùng vớiCát Cái sáng tạo ra văn tự cho tiếng Mãn và hoàn thiện bảng chữ cái này. Nhờ công lao, ông được ban hào "Ba Khắc Thập", phongA Tư Cáp Ni Cáp Phiên.[3] Sau khi qua đời được truy thụyVăn Thành. |
| Minh An | 明安 | tiếng Mãn:ᠮᡳᠩᡤᠠᠨ,chuyển tả: Minggan | Bác Nhĩ Tế Cát Đặc | Nguyên làBối lặc củaKhoa Nhĩ ThấmNgột Lỗ Đặc bộ (thuộcMông Cổ Minh kỳ). Sau khi gia tộc quy thuận Đại Kim được đãi[4] vàoMông Cổ Chính Hoàng kỳ, sau lại đãi vào Mãn Châu bổn kỳ. Ông thường bị nhầm lẫn với Minh An lão nhân (明安), nhạc phụ củaNỗ Nhĩ Cáp Xích, Bối lặc củaKhoa Nhĩ Thấm, em trai củaMãng Cổ Tư. Ông được phong làmNhất đẳng Cung Thành hầu. Sau khi qua đời được truythụyTrung Thuận. Là thủy tổ của Khoa Nhĩ Thấm Tả dực Hậu kỳ Trát Tát Khắc Bác La Đặc Cát Đài Thân vương. |
| Dương Cổ Lợi | 扬古利 | tiếng Mãn:ᠶᠠᠩᡤᡠᡵᡳ,Möllendorff: Yangguri | Thư Mục Lộc | 1 trong những Công thần khai quốc củaHậu Kim, lập nhiều chiến công choNỗ Nhĩ Cáp Xích vàHoàng Thái Cực. Sau khi qua đời, ông được truy phongVũ Huân vương - 1 trong 2 trường hợp hiếm hoi của nhà Thanh cùng vớiPhúc Khang An. Ông được bồi táng vàoPhúc lăng, phối hưởngThái miếu. Con cháu được thế tập tướcNhất đẳng Anh Thành công. |
| Sách Ni | 索尼 | tiếng Mãn:ᠰᠣᠨᡳᠨ,chuyển tả: Sonin | Hách Xá Lý | Con trai củaThạc Sắc. Ông là người đứng đầu trong 4 Phụ chính đại thần thờiKhang Hi, từng nhậmLại bộ Khải lâm lang,Lĩnh thị vệ Nội đại thần,Nghị chính đại thần. Ông được phong tướcNhất đẳng Công. Sau khi qua đời được truythụyVăn Trung. Ông có hai người con gái là Kế Phúc tấn củaNhạc Lạc và Đích Phúc tấn củaSát Ni. |
| Cát Bố Lạt | 噶布喇 | Hách Xá Lý | Con trai củaSách Ni. Từng nhậmLĩnh thị vệ Nội đại thần. Ông được tập tướcNhất đẳng Công. Sau khi qua đời được truythụyKhác Hi. Ông là cha củaHiếu Thành Nhân Hoàng hậu vàBình phi. | |
| Sách Ngạch Đồ | 索額圖 | tiếng Mãn:ᠰᠣᠩᡤᠣᡨᡠ,chuyển tả: Songgotu | Hách Xá Lý | Con traiSách Ni. Ông cùng vớiNạp Lan Minh Châu hình thành nên 2 phe tranh giành quyền lực thờiKhang Hi, cũng là người đứng đầu "Thái tử đảng" ủng hộDận Nhưng. Từng nhậm Nội đại thần,Lĩnh thị vệ Nội đại thần,Nghị chính đại thần. Sau vì liên quan đến tranh vị Thái tử mà bị xử tử. |
| Hi Phúc | 希福 | tiếng Mãn:ᡥᡳᡶᡝ,chuyển tả: Hife | Hách Xá Lý | Em trai củaThạc Sắc. 1 trong những Công thần khai quốc củaHậu Kim. Nhiều lần đi sứMông Cổ. Ông tinh thông Mãn - Mông - Hán. Hoàn thành bản dịch của ba bộ sử về nhàLiêu,Kim vàNguyên. Nhờ công lao ông được ban hào "Ba Khắc Thập", phongTam đẳng Tinh Kỳ Ni Cáp Phiên,[5] tặng hàmThái bảo, sau khi qua đời được truythụyVăn Giản. |
| Suất Nhan Bảo | 帥顏保 | tiếng Mãn:ᠰᡠᠸᠠᠶᠠᠮᠪᠣᡠ,Möllendorff: Suwayamboo | Hách Xá Lý | Con trai củaHi Phúc. Ông từng nhậmThượng Thư củaCông bộ vàLễ bộ, Quốc sử viện Học sĩ, chịu trách nhiệm biên soạn Thế Tổ Chương Hoàng Đế thực lục. |
| Hách Dịch | 赫奕 | tiếng Mãn:ᡥᡝᡳ,Möllendorff: Hei | Hách Xá Lý | Con trai củaSuất Nhan Bảo. Ông từng nhậmCông bộThượng thư, Tổng quảnNội vụ phủ. |
| Tái Trùng A | 賽沖阿 | tiếng Mãn:ᠰᠠᡳᠴᡠᠩᡤᠠ,Möllendorff: Saicungga | Hách Xá Lý | Ông từng nhậm Tướng quân củaTây An,Cát Lâm,Thành Đô vàThịnh Kinh; Đô thống của Hán quânChính Bạch kỳ vàMông CổTương Lam kỳ, Ngự tiền Đại thần,Lĩnh thị vệ Nội đại thần, Lý phiên việnThượng thư, Nội đại thần, Tổng Am Đạt. Nhờ công lao, ông được ban hàoPhỉ Linh Ngạch Ba Đồ Lỗ, phong tướcNhị đẳng Nam, tặng hàmThái tử Thái sư. Sau khi qua đời được truythụyTương Cần. |
| Phí Dương Cổ | 费扬古 | Ô Lạp Na Lạp | Ban đầu ông thuộc Chính Hoàng kỳBao y, sau đãi vào Mãn Châu bổn kỳ, là một tướng lĩnh thờiHoàng Thái Cực. Từ nhỏ ông đã sinh hoạt trong cung, góp công trong nhiều trận chiến nhưTrận Đại Lăng Hà,Trận Tùng Cẩm. Từng nhậm Nhị đẳng Thị vệ, Nội đại thần, Tổng quản Nội vụ phủ; được phong Kỵ đô úy kiêm Nhất vân kỵ úy. Vì ông cưới Đa La Cách cách - con gái của Bối tửMục Nhĩ Hỗ,[8] mà được phong làm Đa La Ngạch phò. Ông cũng là cha củaHiếu Kính Hiến Hoàng hậu. | |
| Nạp Lan Minh Châu | 明珠 | tiếng Mãn:ᠮᡳᠩᠵᡠ,chuyển tả: Mingju | Diệp Hách Na Lạp | Cháu nội củaKim Đài Cát. Ông là một đại thần, cùng vớiSách Ngạch Đồ hình thành nên 2 phe tranh giành quyền lực thờiKhang Hi, cũng là người đứng đầu "Đại A ca đảng", ủng hộDận Thì. |
| Nạp Lan Tính Đức | 性德 | Diệp Hách Na Lạp | Con trai củaNạp Lan Minh Châu. Ông là một học giả, nhà thơ nổi tiếng của nhà Thanh, được xưng là "Thanh sơ Đệ nhất Từ nhân". Từng nhậmNhị đẳng Thị vệ, thường xuyên tùy hành theoKhang Hi. | |
| Đồ Hải | 圖海 | tiếng Mãn:ᡨᡠᡥᠠᡳ,Möllendorff: Tuhai | Mã Giai | Tướng lĩnh, đại thần thờiKhang Hi. Ông từng nhậmNghị chính đại thần, Đại học sĩ của Hoằng Văn điện và Trung Hòa điện,Thượng thưHình bộ vàLễ bộ. Nhờ công lao mà ông được phong tướcNhất đẳng Trung Đạt công, tặng hàmThiếu bảo kiêmThái tử Thái Bảo, sau khi qua đời được truy thụyVăn Tương, phối hưởngThái miếu. |
| Thiết Bảo | 鐵保 | tiếng Mãn:ᡨᡳᠶᡝᠪᠣᡠ,Möllendorff: Tiyeboo | Đổng Ngạc | Hậu duệ củaBắc Tống Việt vương Triệu Ti - con traiTống Thần Tông Triệu Húc. Ông là quan văn thờiCàn Long vàGia Khánh, nổi danh về văn chương và thư pháp. Từng đảm nhậm Hàn Lâm viện Thị giảng Học sĩ, Thị độc Học sĩ, Nội các Học sĩ,Tuần phủQuảng Đông vàSơn Đông;Lễ bộThị lang, chủ trìThi Hội ở Kinh sư,Thi Hương ởSơn Đông vàThuận Thiên;Tổng đốc Tào Vận vàLưỡng Giang, Quản hạtGiang Tô,Thượng thưLại bộ vàLễ bộ. Trong lúc đảm nhậmTổng đốcTào Vận, ông đã cải cách 11 điều lệ Tào vận. Ông là người đảm nhậm biên soạn Bát kỳ Thông chí, Khâm định Hi triều nhã tụng tập. Bản thân có tác phẩm Duy Thanh Trai toàn tập, Duy Thanh Trai thiếp. |
| Bố Ngạn Thái | 布彥泰 | Nhan Trát | Là tướng lĩnh thờiGia Khánh vàĐạo Quang. Ông từng nhậmĐầu đẳng Thị vệ, Y Lê Lĩnh đội Đại thần, Khách Thập Cát Nhĩ Tổng binh, Tham tán Đại thần, Bạn sự Đại thần, Đô thốngSát Cáp Nhĩ vàMông CổTương Hoàng kỳ, Y Lê Tướng quân,Định Tây Tướng quân,Tổng đốcThiểm Cam. Ông được khen "Trung thành vì nước, đốc suất hữu phương", tặng hàm Thái tử Thái bảo. | |
| Trình Nghiễn Thu | 程砚秋 | Trình Giai | Là một nhà nghệ thuật biểu diễnKinh kịch, 1 trong "Tứ đại danh đán", người sáng lập "Thanh y Trình phái", từng là Phó viện trưởng Học viện Hí khúc âm nhạcBắc Kinh. Ông là một nghệ thuật gia yêu nước, hầu hết đều diễn những vở kịch tuyên truyền về lòng yêu nước, cuộc sống của bách tính hoặc sự gian khổ của người phụ nữ trong xã hội cũ.Về sau, ông trở thành một nhà nghiên cứu lý luận Hí khúc, cho ra đời tác phẩm "Trình Nghiễn Thu văn tập". | |
| Nhân Hiến Hoàng hậu | 仁孝皇后 | Hách Xá Lý | Còn được biết đến làHiếu Thành Nhân Hoàng hậu. Con gái củaCát Bố Lạt. Bà là nguyên phối thê tử,[9] Hoàng hậu đầu tiên củaKhang Hi. | |
| Hiếu Kính Hiến Hoàng hậu | 孝敬憲皇后 | Ô Lạp Na Lạp | Con gái của Phí Dương Cổ. Bà là nguyên phối thê tử, Hoàng hậu duy nhất củaUng Chính. | |
| Cao Tông Kế Hoàng hậu | 高宗繼皇后 | Ô Lạp Na Lạp | Nguyên dòng dõi thuộcHuy Phát nhưng tự xưng Ô Lạp. Trắc thất, sau trở thành Kế thất và Hoàng hậu thứ hai củaCàn Long. | |
Mông Cổ[sửa |sửa mã nguồn] | ||||
| Đức Lăng Thái | 德楞泰 | tiếng Mãn:ᡩᡝᠯᡝᡵᡨᡝᡳ,chuyển tả: Delertei | Ngũ Di Đặc | Danh tướng thời Thanh trung kỳ, có công bình địnhBạch Liên giáo thờiGia Khánh. Ông là ái tướng dưới quyềnPhúc Khang An, nhiều lần theo Phúc Khang An bình địnhĐài Loan, thu phụcTây Tạng, bìnhKhuếch Nhĩ Khách và liên quânAnh quốc, bình Đại tiểu Kim Xuyên. Ông từng nhậmTây AnTướng quân, sau khi qua đời được truy thụyTráng Quả. |
Hán Quân
Hậu duệ