Movatterモバイル変換


[0]ホーム

URL:


Bước tới nội dung
WikipediaBách khoa toàn thư mở
Tìm kiếm

Châu Âu

Đây là một bài viết cơ bản. Nhấn vào đây để biết thêm thông tin.
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Mục từ "Europe" dẫn về đây. Xin xem các nghĩa khác tạiEurope (định hướng).
Châu Âu
Hiển thị biên giới quốc gia
Ẩn biên giới quốc gia
Diện tíchk. 10.186.000 kilômét vuông (3.933.000 dặm vuông Anh) (6)[a]
Dân số746.419.440 (2018;3rd)[1][2]
Mật độ dân số72.9/km2 (188/sq mi) (2nd)
GDP (PPP)43,53 nghìn tỷ đô la Mỹ (ước tính năm 2025;2)[3]
GDP (danh nghĩa)28,22 nghìn tỷ đô la Mỹ (ước tính năm 2025;3)[4]
GDP bình quân đầu người38.270 đô la Mỹ (ước tính năm 2025;3)[c][5]
HDITăng 0.845[6]
Tôn giáo
Tên gọi dân cưNgười châu Âu
Quốc giaQuốc gia có chủ quyền (44–50)
Quốc gia được công nhận hạn chế (2–5)
Phụ thuộcExternal (5–6)
Internal (3)
Ngôn ngữThông dụng:
Múi giờUTC−1 toUTC+5
Thành phố lớn nhấtVùng đô thị lớn nhất:[8]
Mã UN M49150 – Châu Âu
001Thế giới
  • a.^ Figures include only European portions of transcontinental countries.[n]
  • b.^ Includes Asian population. Istanbul is a transcontinental city which straddles both Asia and Europe.
  • c.^ "Europe" as defined by the International Monetary Fund

Châu Âu hayÂu Châu (tiếng Latinh:Europa,tiếng Anh:Europe) về mặtđịa chấtđịa lý là mộtbán đảo haytiểu lục địa, hình thành nên phần cực tây củađại lục Á-Âu, hay thậm chíÂu-Phi-Á, tùy cách nhìn. Theo quy ước, nó được coi làlục địa, trong trường hợp này chỉ là sự phân biệt thuần vềvăn hóa hơn làđịa lý.Phía Bắc giápBắc Băng Dương,phía Tây giápĐại Tây Dương,phía Nam giápĐịa Trung Hảibiển Đen, tuy nhiên vềphía Đông thì hiện không rõ ràng. Tuy nhiên có thể coidãy núi Ural được coi là vùng đất với địa lý và kiến tạo rõ rệt đánh dấu ranh giới giữachâu Á và châu Âu (xem chi tiết trong bàiĐịa lý châu Âu). Khi được coi là lục địa thì châu Âu thuộc loại nhỏ thứ 2 thế giới vềdiện tích, vào khoảng 10.180.000 km², và chỉ lớn hơnChâu Đại Dương. Xét vềdân số thì nó là lục địa xếp thứ 4 sauchâu Á,châu Phichâu Mỹ.

Tên gọi

[sửa |sửa mã nguồn]

Tên gọi trong tiếng Việt của châu Âu bắt nguồn từ tên gọitiếng Trung "歐洲" (âm Hán Việt:Âu châu). Chữ "Âu" 歐 trong "Âu châu" 歐洲 là gọi tắt của "Âu La Ba" 歐羅巴.[9][10] "Âu La Ba" (歐羅巴 -"Ōu luó bā") là phiên âm tiếng Trung của danh xưngtiếng Bồ Đào Nha "Europa".[9]

Từ "Europa" trong tiếng Bồ Đào Nha bắt nguồn từ tên gọitiếng La-tinh "Europa".[9]

NàngEuropa (tiếng Hy Lạp: Ευρώπη; xem thêmDanh sách các địa danh Hy Lạp cổ đại) là một công chúa con vuaAgenor xứTýros trongthần thoại Hy Lạp, bị thầnZeus - cha của các vị thần - dưới dạng mộtcon bòtrắng dụ đưa đến đảoCrete (Kríti), tại đó nàng hạ sinhMinos - sau là chúa đảoCrete.[11][12] Trong các tác phẩm củaHomer, Ευρώπη là tên vị hoàng hậu thần thoại của đảoCrete, chứ không phải địa danh. Sau đó, từ này trở thành tên gọi của mảnh đấtHy Lạp và đến năm500 TCN, ý nghĩa của nó được dùng rộng ra cho cả phần đất đó lên tận phía bắc.

Xét rộng ra thì từ này trong tiếngHy Lạp gồm hai từeurys ("rộng") vàops ("mặt"), tuy nhiên giả thuyết này không rõ ràng. Một sốnhà ngôn ngữ học đưa ra một giả thuyết khác dựa trênnguồn gốc dân gian là từ này có gốc từtiếng Semit, bản thân lại mượn từerebu trongtiếng Akkad, nghĩa là "mặt trời lặn" (tức phương Tây) (xem thêmErebus). Đứng từ phíachâu Á hayTrung Đông thì đúng làMặt Trời lặn ở phần đất châu Âu–mảnh đất phía tây. Cũng thế, tên gọichâu Á có gốc từasu trong tiếng Akkad, nghĩa là "mặt trời mọc", chỉ vùng đất phía đông dưới góc nhìn của một ngườiLưỡng Hà.

Việt Nam, châu Âu còn được biết đến với cái tên "Lục địa già",[13] chú ý phân biệt với thuật ngữCựu Thế giới để chỉLục địa Phi-Á Âu.

Bản đồ châu Âu chứa các liên kết, thể hiện các biên giới địa lý thông thường[14] (chú thích:xanh lam = nằm hoàn toàn ở châu Âu;đen = nằm trên cả châu Á và châu Âu;xanh lá cây = đôi khi được tính vào châu Âu nhưng theo địa lý nằm ngoài biên giới châu Âu)

Lịch sử

[sửa |sửa mã nguồn]
Bài chi tiết:Lịch sử châu Âu

Sự hình thành của châu Âu

[sửa |sửa mã nguồn]
Bài viết nàycần phải đượcchỉnh trang lại để đáp ứngtiêu chuẩn chất lượng Wikipedia. Vấn đề cụ thể là: Cần phân thành các tiểu mục để tiện theo dõi. Vui lòng giúpcải thiện nếu bạn có thể.


Châu Âu có quá trình lịch sử xây dựngvăn hóakinh tế lâu đời, có thể xét từThời đại đồ đá cũ (Paleolithic). Việc khám phá ra những viên đá hìnhbàn tay có độ tuổi cách đây 800.000 năm theophương pháp định tuổi cácbon mới đây tạiMonte Poggiolo,Ý, có thể có những ý nghĩa đặc biệt.


Bản đồ thế giới chỉ vị trí của châu Âu

Nền văn minhHy Lạp cổ đại được coi là "Bà mẹ của châu Âu".[15] Tương truyền, ngườiTroiaTiểu Á đã bắt cóc vợ của vuaMenelaus ngườiHy Lạp. Để đáp trả, quânHy Lạp vượt biển làm nên cuộcchiến tranh thành Troia, và phá tan được thành này.[16]Nền văn hóa Hy Lạp bấy giờ có biết bao nhiêu là anh tài xuất chúng nhưHomer,Hesiod,Callinus người xứ Ephesus,Xenophanes người xứ Colophon... về thi ca,AristotlePlato vềtriết học,Pythagoras người đảo Samos vềtoán học,Herodotos,Thucydies,Xenophon... vềsử học.[17][18] Trong các thành bang Hy Lạp cổ, Nhà nướcchính trị đầu sỏSparta (Lacedaemon) thì tập trung xây dựngchủ nghĩa quân phiệt, còn nước Cộng hòaAthenadân chủ thì phát triển hoàng kim dưới thời cầm quyền của lãnh tụPerikles.[15] Cũng có những Nhà nước quân chủ, tỷ như đảoSamos của ông vua hải tặcPolycrates, và cũng có những Nhà nướcđộc tài, điển hình là các thành bang chư hầu của người Ba Tư ởTiểu Á (Từ năm 559 trước Công Nguyên (TCN) vuaCyrus Đại Đế khởi lậpĐế quốc Ba Tư và chinh phạt phần phía đông cũngnền văn minh Hy Lạp).[18][19] Nhờ tài năng của mình, các chiến binh Hy Lạp ở châu Âu đã cầm chân và đánh tan tác quân xâm lượcBa Tư trong những trận đánh lừng lẫy.[19][20] Người Hy Lạp cũng tổ chức những kỳThế vận hội trên núiOlympus, trong đó có nhiều môn thi đấu.[18] Người Athena kể từ thời Perikles là trung tâm củanền văn minh Hy Lạp xưa.[18] Nhưng từ năm 431 TCN đến năm 404 TCN, người Sparta đánh Athena trong cuộcChiến tranh Peloponnesus dẫn đến sự suy sụp của thành bang Athena cũng như của chế độ dân chủ, thống soái Sparta làLysandros ca khúc khải hoàn.[17] Tuy Athena nỗ lực hồi phục nhưng họ không thể nào làm đàn anh của thế giới Hy Lạp cổ. Nhưng đến Sparta hùng mạnh cũng bị quânThebes đánh bại trongtrận Leuctra vào năm371 TCN. Vào thế kỷ thứ IV trướcCông nguyên, khi tộc Hy Lạp cứ đánh nhau suốt mà không có ai làm bá chủ,Vương quốc Macedonia vươn lên, vuaPhilippos II xuất chinh đánh tan nát liên quân Athena - Thebes, dẫn đến sự kết liễu nền độc lập của các thành bang Hy Lạp.[21] Vào thế kỷ thứ IV trướcCông nguyên, tộc Hy Lạp cóVương quốc Macedonia vươn lên, vuaAlexandros Đại Đế (trị vì: 336 - 323 trước Công nguyên) mở rộng bờ cõi đất nước cho đến tậnsông Ấn trong một loạt cuộc chinh phạt lẫy lừng của ông, nhưng những cuộc chiến tranh liên miên này kết thúc sau khi ông qua đời.[22]

Hình châu Âu tổng hợp từ vệ tinh

Nhờ cóAlexandros Đại Đế mà nền văn minh Hy Lạp truyền bá mạnh mẽ đếnÁ châu, tạo nên các quốc giaHy Lạp hóa.[22] Vào năm 753 TCN,Vương quốc La Mã ra đời với việc vuaRomulus gầy dựng "kinh thành vĩnh cửu"La Mã.[15] Sau khi lật đổ vuaTarquin Kiêu hãnh và năm 510 trước Công Nguyên thì người La Mã thiết lập nềnCộng hòa do các quan Tổng tài trị nước. Thoạt đầu họlâm chiến vớiVương quốc Ipiros do vuaPyrros trị vì (282272 TCN), và dù ban đầu ông vua mạo hiểm này giữ được xứSyracuse,[23] Syracuse thất thủ vànhà toán học lỗi lạcArchimedes bị lính La Mã giết hại trong trận chiến này (212 TCN).[18] Trước vó ngựa của người La Mã,nền văn minh Hy Lạp cùng các vương quốc cuối cùng đã chinh phạt được nền văn minh Hy Lạp xưa, và dần dần tiêu diệt luôn cả các quốc giaHy Lạp hóa.[15] Thời bấy giờ,Cicero là nhà hùng biện xuất sắc nhất của La Mã.[23] Danh tướngJulius Caesar thắng lớn trong các cuộc nội chiến La Mã, khi ông ta lên làm nhàđộc tài, có người cảm thấy lo sợ nền Cộng hòa sụp đổ nên đã lập mưu giết ông vào năm 44 trước Công Nguyên. Cuối cùng cháu ông làAugustus lật đổ chế độ Cộng hòa và lên ngôi Hoàng đế, thành công vang dội trong việc thiết lậpĐế quốc La Mã.[24] Vào năm9, quân La Mã đại bại trongtrận chiến Teutoburg với các bộ lạc người German do tù trưởngHermann chỉ huy. Cuộc xâm lượcĐức của người La Mã hoàn toàn thất bại và chiến công hiển hách giải phóng Đức của Hermann đã mở đường cho sự phát triển riêng biệt của nền văn hóa dân tộc Đức.[25] Nền văn minh La Mã sản sinh những nhân tài sử học nhưTitus Livius,Plutarchus.[23] Cùng thời đó,Ki-tô giáo cũng ra đời ởTây Á, với những lời giáo huấn củaChúa Giêsu người xứNazareth. Ngài bị đóng đinh tạiJerusalem dưới triều Hoàng đếTiberius (trị vì:14 -37).[26] Khi quân La Mã xâm lượcđảo Anh, vịNữ hoàng tóc đỏBoudicca kêu gọi nhân dân kháng chiến, nhưng bị đánh bại.[27] Đế quốc La Mã thái bình thạnh trị dưới các triềuHoàng đếNerva,Traianus,Hadrianus,Antoninus PiusMarcus Aurelius từ năm96 đến năm180. Nerva cứu giúp người bần hàn, Traianus thì sáng suốt và có tài dụng binh, Hadrianus thì bảo trợ nghệ thuật và kiến trúc, Antoninus Pius thì hiển đức còn Marcus Aurelius thì quả là một ông vua - hiền triết đức độ, với tinh thần trách nhiệm cao.[26]Người Goth (tộc German) tấn công La Mã vào năm250 và hủy diệt quân đội của Hoàng đếDecius, giết được cả Decius.[24][28] Sau một thời kỳ đại loạn, Hoàng đếDiocletianus (trị vì:284305) gầy dựng lại cơ đồ La Mã, xuất chinh thắng địch mang lại vẻ vang cho Đế quốc. Với các Hoàng đếDomitianus, Marcus Aurelius, Decius và Diocletianus,Ki-tô giáo bị trấn áp tàn nhẫn. Cũng từ thời Diocletianus, Đế quốc La Mã bị chia cắt thành 2 nước.[26] Ông trị vì phần phía đông, từ đó khởi lậpĐế quốc Đông La Mã. Hoàng đếConstantinus I Đại Đế dời đô về thànhTân La Mã, từ đó thành La Mã không còn làm kinh đô của đất nước mà chính nó lập ra nữa.[29] Với những chiến công hiển hách củaConstantinus I Đại Đế, Đế quốc La Mã thống nhất.[30] Cũng trong thời điểm này lần đầu tiên Ki-tô giáo trở thành quốc giáo của La Mã.[31]

Người Goth càng ngày hùng mạnh làm Hoàng đếTheodosius I Đại Đế phải gặp nhiều gian nan, để bảo vệ Đế quốc La Mã.[32] Trong triều vua nàyKi-tô giáo hoàn toàn là tôn giáo hợp pháp duy nhất của Đế quốc La Mã.[33] Khi ông qua đời vào năm395, Đế quốc La Mã không bao giờ được thống nhất nữa.[34] Vào năm410, khi có loạn người La Mã phải rời khỏi đảo Anh, tạo điều kiện cho nước Anh trỗi dậy.[29] Vào năm441, vuaAttila kéo đại binhHung Nô vào phá tan tành vài thành phố của người Tây La Mã, song quân Tây La Mã của danh tướngFlavius Aetius hợp binh với vua ngườiTây GothTheodoric và đánh tan tác quân đội tinh nhuệ của Attila trong trận đánh lớn tạiChalons (451). Mối đe dọa từ người Hung Nô bị đẩy lùi.[35] Trước cuộc tấn công củangười German,Đế quốc Tây La Mã sụp đổ vào năm476 đời Hoàng đếRomulus Augustus.[36] Từ đó, châu Âu đã bước vào một thời kỳ dài đầy biến động thường được biết đến dưới tên gọiThời kỳ Di cư. Thời kỳ đó còn gọi là "Thời kỳ Đen tối" theo các nhà tư tưởngPhục Hưng, và là "Thời kỳ Trung cổ" theo các nhà sử học đương đại và những người thuộc phong tràoKhai sáng. Trong suốt thời gian này, các tu viện tạiIreland và các nơi khác đã gìn giữ cẩn thận những kiến thức đã được ghi chép và thu thập trước đó. Đến năm610,người Avar và Quân đội Ba Tư tiến đánh Đế quốc Đông La Mã, Hoàng đếPhocas không giữ được nước, bịHeraclius hạ bệ. Là người có tài dụng binh, Heraclius phản công đại phá tan nát quân Ba Tư, Đế quốc Ba Tư đại bại vào năm627. Nhưng đúng lúc đó, ngườiẢ RậpHồi giáo trỗi dậy mãnh liệt dưới sự lãnh đạo của nhà tiên triMuhammad ở Tây Á. Vào năm632, vó ngựa của người Ả Rập tung hoành trên Đế quốc Đông La Mã. Hoàng đế Heraclius xuất chinh, bị thảm bại tạiYarmouk (636).[37] Vào năm638, ông tiếp tục mất thànhJerusalem về tay quân Ả Rập doKhalipOmar thân chinh thống suất. Bước tiến của người Ả Rập vào Âu châu chỉ bị một bộc lạc người German làngười Frank doCarolus Martellus chỉ huy chặn đứng tạiTours (732).[33] Dưới triều vuaCarolus Magnus (trị vì768 -814),Đế quốc Frank cường thịnh tung hoành ngang dọc khắp cõi Âu châu. Đế quốc Frank bấy giờ có cương thổ từ biểnĐại Tây Dương cho đến sông Danube, từHà Lan cho đếnProvence. Ông cũng củng cố vùng núiPyrenees nhằm chống lại các cuộc cướp phá của quân Ả Rập. Vào năm800,Giáo hoàng Lêô III tấn phong Carolus Magnus làm Hoàng đế. Từ đây, một Đế quốc Ki-tô giáo ở Tây phương được hình thành, độc lập với Đế quốc Đông La Mã. Chế độphong kiến được dựng xây, người Frank bấy giờ coi như đã hợp nhất Âu châu, nhưng sự thống nhất này cũng tan thành mây khói sau khi Carolus Magnus qua đời. Các vua kế tục Carolus Magnus đánh lẫn nhau, và theoHiệp định Verdun (843) thì các quốc giaĐứcPháp ra đời.[38]

VuaHeinrich der Finkle (trị vì:912 - 936) là người có công đưa nước Đức trở thành mộtliệt cường của châu Âu thời Trung Cổ. Ông ngự tại kinh thànhMamleben ở vùng núi Harz, và chinh đông, dựng xây các thành phố đồng thời ngăn chặn những cuộc xâm lược củangười Magyar,người Slav và ngướiĐan Mạch. Con ông là vuaOtto I xứ Sachsen (trị vì:936 -973) xuất chinh đập tan tác quân xâm lược Magyar trongtrận Lechfeld vang danh (955). Bước tiến công của người Magyar vào châu Âu hoàn toàn bị đẩy lùi. Sau chiến công hiển hách, Otto I đượcGiáo hoàng Gioan XIII tấn phong làm Hoàng đế, từ đây khởi lậpĐế quốc La Mã Thần thánh. Trong khi ấy, Đế quốc Đông La Mã hưng thịnh với Hoàng đếBasil I (trị vì:867 -886), người có tài trị quốc đã củng cố sự vững mạnh của Đế quốc. Các Hoàng đếLeōn VI ho Sophos (886 -912) vàKōnstantinos VII Porphyrogennētos (trị vì:913 -959) đưa kinh kỳ Constantinopolis trở nên phồn vinh và khuếch trươngthương mại.[39] Thời bấy giờ, ở vùngBalkan một quốc gia hùng mạnh trỗi dậy, trở thành kẻ kình địch của Đế quốc Đông La Mã. Đó làĐệ nhất đế chế Bulgaria, do các thủ lĩnh dũng mãnhTerbel,CrumOmartag khởi lập. Người Bulgaria theo Ki-tô giáo Chính Thống, nhưng điều này không thể ngăn họ đánh nhau với người Đông La Mã. Sa hoàng Crum đã tuyên chiến với người Đông La Mã, tiêu diệt Hoàng đếNicephorus I Dưới triềuSa hoàngSimeon I (trị vì:893 -927), ông xưng "Quốc vương và Đấng cầm quyền chuyên chính của người Hy Lạp và Bulgaria", khởi binh đánh thành Constantinopolis nhưng thất bại (924).[40] Sang đời Sa hoàngSamuel (trị vì:927 -1014), ông dời đô về thànhOchrid tráng lệ. Hoàng đế Basil II đánh tan tác quân Bulgaria, lại còn đui mù đám tù binh, làm cho Samuel đau khổ và chết. Trong thời gian đó, vào năm997,István I lên làm thủ lĩnh của người Magyar, sáng lập Vương quốcHungary vào năm1001[41] Từ thập niên1030,người Thổ Seljuk hưng thịnh lên, liền tiến công Đế quốc Đông La Mã và thắng trận lớn ởManzikert gầnhồ Van (1071).[42] Họ còn xâm phạm đến Vương quốcGruzia hùng mạnh của vuaDavid IV (trị vì:1089 -1125), nhưng ông xuất chinh đánh lui quân Seljuk ra khỏi kinh đôTbilisi. Dưới triều Nữ vươngTamara, cung đình Gruzia bước vào giai đoạn hoàng kim. Văn hóa nở rộ, nhà thi hào Shot'ha Rust'aveli - từng được giáo dưỡng tại Hy Lạp - làm quan trong Triều đình Tamara và được coi là người tiếp bước cho cao trào Phục Hưng. Trước bước tiến mãnh liệt của người Thổ Seljuk, từ năm1096 cho đến năm1291, người Ki-tô giáo phải tiến hành tám cuộcThập tự chinh lớn và nhiều cuộc chiến nhỏ chống người Ả Rập và người Seljuk. Một ví dụ điển hình là cuộcThập tự chinh lần thứ ba do vua AnhRichard I, vua PhápPhilippe II Auguste và Hoàng đế La Mã Thần thánhFriedrich Barbarossa tiến hành, thất bại trong việc giành lạiJerusalem từ tay người Ả Rập. Cháu của Friedrich I Barbarossa làFriedrich II (trị vì:1211 -1250) vừa giữa nghiệp đế vừa làm vua xứSicilia.[42] Là một "Kỳ nhân thiên hạ" (stupor mundi) ông khuếch trương nền văn hóa, đặt mầm mống chothời kỳ Phục Hưng. Trong Đế quốc La Mã Thần thánh rộng lớn, Hoàng đế cũng muốn gầy dựng một nền thái binh thịnh trị.[43] Sau thời ông thì Ý cũng có một nhân tài xuất sắc của nền thi ca Trung Cổ là nhà thi hàoDante Alighieri (1265 -1320).[44] Trong khi đó, vua Anh làJohn Lackland (trị vì:1199 -1216) bị mất xứNormandy về tay người Pháp sau thất bại trongtrận Bouvines (1214). Vào năm1215, triều thần Anh ép John Lackland phải ký kết "Đại Hiến chương" (1215), mở ra truyền thống dân chủ của nước Anh.[42][45]

Đời vuaEdward III (trị vì:1327 -1377), nước Anh lâm vào cuộcChiến tranh Một trăm năm tàn khốc.[46] Đây là một cuộc chiến có nhiều giai đoạn lẻ tẻ. Ông ngự giá thân chinh hủy diệt thủy binh Pháp trongtrận Sluys (1340), sau đó liên tiếp đánh bại quân Pháp trongtrận Cressy vào năm1346trận Poitiers vào năm1356. VuaHenry V cũng xuất chinh đại phá quân Pháp trongtrận Agincourt vào năm1415. Trongtrận Castillion vào năm1453 quân Anh đại bại và cuộc chiến tranh mới chấm dứt. Nhưng vào năm1475, vuaEdward IV thân chinh khởi binh đánh Pháp, buộc người Pháp phải triều cống cho Vương quốc Anh.[47] Cũng trong thời bấy giờ, khi người Thổ Seljuk suy sụp, ngườiThổ Ottoman trỗi dậy vớiSultanOsman I (trị vì:1281 -1326). Trước vó ngựa khủng khiếp của người Thổ Ottoman,Đệ nhị đế chế Bulgaria đại bại phải chấp nhận làm chư hầu cho họ vào năm1366. Tiếp theo đó, quân Ottoman hủy diệt quân độiSerbia trongtrận Kosovo (1389) ác liệt. Sau cùng, Bulgaria bị sáp nhập vào Đế quốc Ottoman. Vào năm1396, vua Hungary làSigismund tổ chức Thập tự chinh, bị SultanBayezid I đánh cho đại bại trongtrận Nicopolis trên sông Danube.[48] Sau khi SultanMurad II đánh tan tác một cuộc Thập tự chinh trongtrận Varna (1444), SultanMehmed II công thành Constantinopolis và kết liễu Đế quốc Đông La Mã.[49] Thời bấy giờ,nhà Habsurg của cácĐại Quận công Áo lên làm Hoàng đế La Mã Thần thánh, đóng đô tại thànhViên.[50][51] Đại Quận công Áo Karl lên ngôi Hoàng đế tứcKarl V vào năm1519. Vào năm1526, ông trị vì một Đế quốc rộng lớn hơn bất kỳ một Đế quốc nào trong lịch sử Âu châu kể từ thời Karl I Đại Đế.[52] Quân đội Đế quốc La Mã Thần thánh đại thắng trongtrận chiến Pavia chống vua Pháp làFrançois I vào năm 1526.[53] Nhưng cũng trong thời này, ngọn lửa của phong tràoKháng Cách bùng lên với nhà thần học Đức lừng danhMartin Luther (1483 -1546). Vào năm1517, ông dán "95 luận đề" tố cáo việc Giáo hoàng sử dụngphép ân xá (indulgence) trên cửa Thành trị - Giáo đườngWittenberg. Phong trào Kháng Cách có lối suy nghĩ khác với thần học Trung Cổ về việc Thiên Chúa cứu rỗi các linh hồn khỏi tội lỗi. Điều này khiến Triều đình Karl V phải bận tâm vào việc trừng trị Kháng Cách.[54] Nhưng một nhóm Vương hầu người Đức cũng đứng về phe Luther cả.[55] NgườiBắc Âu nhanh chóng tiếp nhận tư tưởng này.[56]

Trong khi ấy, việc các danh sĩĐông La Mã chạy sangÝ sau khi kinh kỳ Constantinopolis thất thủ đã tạo nên phong tràoPhục Hưng ở các nước phương Tây, là sự hồi phục của hai nền văn minh Hy Lạp và La Mã cổ đại, qua văn chương và nghệ thuật. Kiến trúc Âu châu thời đại này đã trở về về với lối kiến trúc Hy Lạp - La Mã xưa. Những công trình tiêu biểu của trào lưu Phục Hưng là cung điện và văn phòng công cộng.[57] Một trong những danh nhân tiêu biểu của phong trào văn hóa Phục Hưng là nhà họa sĩ người ÝLeonardo da Vinci (1452 -1519). Trào lưu văn hóa Phục Hưng là ảnh hưởng hoàn toàn không nhỏ đối với lối suy nghĩ của người Âu châu và cùng với phong trào Kháng Cách mở rathời kỳ cận đại.[58] Nhưng trào lưu này ít được đón nhận ở các nước thuộc Đế quốc Ottoman, và có chúc ít công trình kiến trúc tại Đại Công quốcMoskva.[59] Đời SultanSelim I (trị vì:1520 -1520), Đế quốc Ottoman tạm thời không còn là mối lo ngại của người Âu châu nữa do họ chuyển sang đánh các nước Tây Á vàBắc Phi. Con của Selim I là vị Sultan kiêu hùng.Suleiman I (trị vì: 1520 -1566), quân Ottoman lại phát động Thánh chiến chống các nước Ki-tô giáo, chinh phạt thànhBeograd và đảoRhodes. Người Hungary bị mất vua, mất nước. Em của Hoàng đế Karl V làFerdinand I lên làm vua của một phần đất Hungary, tiếp tục cuộc tranh hùng Áo - Ottoman.[52] Suleiman I thân hành kéo đại quân đến đánh kinh thành Viên nhưng thất bại vào năm1529.[60] Khi đó, tại Đại Công quốc Moskva,Ivan IV (trị vì:1533 -1584) xưng làmSa hoàng, khởi lậpnước Nga Sa hoàng. Là ông vua hùng tài đại lược, ông thân chinh đánh người Kazan vào năm1547 và với chiến thắng trong cuộc chiến này, nước Nga mở mang cương thổ đến miềnSiberia. Quân Nga cũng chiếm lĩnh xứAstrakhan.[61]

Trong thời đại này có hai biến cố lớn:Christopher Columbus tìm rachâu Mỹ, đồng thời người châu Âu đã vượt đượcmũi Hảo Vọng. Qua đó, châu Âu có tầm nhìn ra ngoài thế giới, tài năng của các nhà hàng hải để giúp cho người châu Âu bắt đầu vượt biển mà tiến hànhchủ nghĩa thực dân.[62] CácĐế quốc Tây Ban NhaBồ Đào Nha cũng tiến hành khai phá thuộc địa, chiếm lĩnh được không ít đất đai ởchâu Mỹ La Tinh.[57] Tiếp theo là các nướcPháp,Hà LanAnh đã hình thành nên các Đế quốc thực dân với bạt ngàn đất đai và tài sản tạichâu Phi,châu Mỹ, vàchâu Á. Trong khi ấy, Đế quốc Ottoman khuếch trương bành trướng và lâm chiến vớiVương quốc Ba Lan và Đại Công quốc Litva vào năm1620. Ban đầu, người Thổ Nhĩ Kỳ thắng lớn, nhưng sau đó quânKỵ binh Ba Lan phản công đánh tan nát đại quân Ottoman do đích thân SultanOsman II chỉ huy trongtrận Chocim (1621).[63] Vương quốc Ba Lan và Đại Công quốc Litva - vốn là một nhà nước Cộng hòa có vua do dân bầu lên - cũng đạt đến đỉnh cao chói lọi.[64] Cùng thời,Đế quốc Thụy Điển vươn lên trở thành một liệt cường đáng gờm ở phương Bắc, với ông vua hùng tài đại lượcGustav II Adolf (trị vì:1617 -1632), với một nền chính trị vững chắc, một lực lượngThủy binh hùng hậu vàQuân đội tinh nhuệ. Thấy nước Nga đang biến loạn, ông xuất chinh hạ được thành Gdov vào năm1614. Vào năm1617, Sa hoàngMikhail I Romanov phải nhượng đất đai cho Thụy Điển, đổi lại Nga giành lại được vùngNovgorod vốn từng bị quân Thụy Điển xâm lăng.[65] Sau đó, người Thụy Điển quay sang đánh bại Ba Lan - Litva (1621).[66] Quân Ba Lan hợp lực với Quân đội Đế quốc La Mã Thần thánh chặn chân quân Thụy Điển vào năm1629, từ đó người Thụy Điển nhận thấy mối đe dọa từ người Áo. Trước đó, cuộcChiến tranh Ba Mươi năm đã bùng nổ giữa liên minhCông giáo do người Áo dẫn đầu và liên minhKháng Cách trongĐế quốc La Mã Thần thánh. VuaĐan MạchChristian IV xuất binh sang tại Đức nhưng bị liên quân Công giáo đánh đại bại vào năm1626. Do đó vào năm1629, vua Gustav II Adolf ngự giá thân chinh cùng đại quân tiến vào Đức làm minh chủ của liên minhKháng Cách. Sau nhiều trận thắng,Gustav II Adolf hy sinh. Người Pháp tuy theoCông giáo nhưng thù địch với Áo nên nhảy vào tham chiến, thành thử chiến tranh chấm dứt vớiHoà ước Westfalen vào năm1648, Kháng Cách trường tồn.[67] Thụy Điển và Pháp mở rộng bờ cõi.[68] VuaLouis XIV (trị vì:1643 -1715) là người có công gầy dựng Nhà nướcquân chủ chuyên chế ở Pháp. Trong thời đại này, Pháp là quốc gia hùng mạnh nhất ởTây Âu.[60] Trên khắp Âu châu, các nước học hỏi theo Nhà nước củaLouis XIV.[69] Trong cuộcChiến tranh Ủy thác (1667 -1668), ông ta đánh Tây Ban Nha để giành lấyvùngBourgogne-Franche-Comté, và toàn thắng vào năm1674.[60] Nhưng vào năm1690, vua Anh làWilliam III lập chiến công lừng lẫy đại phá liên quân Pháp - Ireland trongtrận Boyne.[70]

Vào năm1655, vua Thụy Điển làKarl X thân hành dẫn quân tiến đánh Ba Lan.[71] Là một chư hầu của Ba Lan, nhưng xứBrandenburg - Phổ (tộcĐức, nằm trong Đế quốc La Mã Thần thánh) họp binh với quânTransylvannia, quân Thụy Điển và quân Nga. Trong trận đánh Warsaw (1656), quân Ba Lan đại bại và đại binh Brandenburg -Phổ do Tuyển hầu tước kiêm Quận côngFriedrich Wilhelm I Vĩ đại (trị vì:1640 -1688) thân hành thống suất đã chiến đấu mãnh liệt. Sau đó, ông buộc Ba Lan phải nhượng vùngĐông Phổ và lui khỏi cuộc chiến.[72] Quân Ba Lan đuổi được liên quân Nga - Thụy Điển, nhưng rồi sau cuộc chiến tình hình rối loạn làm Ba Lan, xứ Phổ - Brandenburg trở nên hùng cường, uy dũng.[64] Xứ Phổ còn đe dọa mạnh mẽ đến sức mạnh quân sự của Thụy Điển.[57] Quả nhiên, khi đại binh Thụy Điển (được Pháp giúp đỡ) sang xâm lược, các chiến binh dũng mãnh Phổ - Brandenburg đã đánh úp địch ở Rathenow, và đại phá địch trongtrận chiến Fehrbellin (1675).[72] VớiFriedrich Wilhelm I Vĩ đại, người Phổ - Brandenburg cũng có được một bộ máy chính quyền hữu hiệu, Nhà nước quân chủ chuyên chế vững chắc.[73] Vào năm1683, quân Ottoman lại vây hãm kinh kỳ Viên, nhưng bị Quân độiĐế quốc La Mã Thần thánh và đại binh Ba Lan do ông vua đại tàiJan III Sobieski đích thân chỉ huy đánh đại baị. Sau đó,Jan III Sobieski cùng Hoàng đếLeopold I đánh đuổi người Thổ, quân Áo chiếm được Hungary.[60]

Vào năm1701, thấy thực lực đủ mạnh, Tuyển hầu tướcFriedrich Wilhelm II xứ Brandenburg khởi lậpVương quốc Phổ, lên làm vuaFriedrich I độc lập với người Áo. Ông xây dựng Quân đội cùng những cung điện nguy nga tráng lệ. Quân Phổ tham chiến cùng liên minh Anh - Áo -Hà Lan chống Pháp trong cuộcChiến tranh Kế vị Tây Ban Nha tàn khốc (1701 -1713). Các danh tướngEugène de Savoie-Carignan (Áo),John Churchill, Công tước thứ nhất của Marlborough (Anh) vàLeopold I xứ Anhalt-Dessau đều lập những chiến công hiển hách đập tan tành quân đội củaLouis XIV, mang lại vinh quang cho nước nhà (tỷ như trong những trận đánh vang danh tạiBlenheim1704Cassano1705).[70][74] Sự suy sụp của Pháp tạo điều kiện cho các liệt cường mới mẻ vươn lên phát triển.[75] Mở đầu là nước Nga, với Sa hoàngPyotr Đại Đế đánh thắng ngườiOttoman (1696). Ông còn liên minh với Đan Mạch,Sachsen và Ba Lan để đánh gụcĐế quốc Thụy Điển của ông vua - chiến binhKarl XII, nhưng cả ba nước lần lượt bịThụy Điển đè bẹp. Trong khi Ba Lan suy sụp,Pyotr Đại Đế xuất chinh đại phá quân Thụy Điển trongtrận Poltava (1709), lấy đất và giành địa vị liệt cường từ tay Thụy Điển.[76] Song, người Ottoman vực dậy đánh đuổi được quân Nga. Không những trở thành liệt cường mà nước Nga còn được cải cách đổi mới.Đế quốc Nga ra đời vào năm1720 khi Pyotr Đại Đế xưng Hoàng đế.[77]

Vị vua - chiến binh

Friedrich II Đại đế củaPhổ (1712 -1786) là một trong những vị thống soái xuất sắc nhất trong lịch sử Âu châu.[78] Ông còn là một nhà vua - hiền triết điển hình vào thời đó, đưa đất nước trở nên phồn thịnh.[79]]]

Trong khiĐế quốc Nga là điển hình của một nước lớn uy dũng vươn lên bá chủ, thìVương quốc Phổ lại là tấm gương của một nước nhỏ, dân số ít nhưng nhanh chóng phát triển mãnh liệt, tranh hùng tranh bá. Nhờ có vuaFriedrich Wilhelm I (trị vì:1713 -1740), người Phổ sở hữu một lực lượng hùng binh mãnh tướng siêu việt và một bộ máy hành chính hiệu quả,xã hội được cải cách, nềngiáo dục đáng tự hào, thậm chí còn đoạt được đất đai của vuaThụy ĐiểnKarl XII (1721) để làm chủ cửasông Oder.[74][76][77][80][81] Khi vị vua hùng tài đại lượcFriedrich II Đại Đế lên nối ngôi báu (trị vì: 1740 -1786), nước Phổ đã có thể tranh hùng tranh bá.[82] KhiHoàng đế La Mã Thần thánhKarl V qua đời và Công chúaMaria Theresia lên làm Nữ hoàng nướcÁo, vuaFriedrich II Đại Đế thân chinh thống suất đại binh đánh tỉnhSilesia trù phú củangười Áo, mở ra cuộcChiến tranh Kế vị Áo (1740 -1748).[83] Phổ liên minh với Pháp, và Áo liên minh với Anh. Nhờ có tài dụng binh như thần của Friedrich II Đại Đế,quân Phổ lập nên nhiều chiến công huy hoàng của ông (tỷ như cáctrận HohenfriedbergSoor làm cả Âu châu phải thán phục,[84] để rồi ông kết thúc thắng lợi cuộc chinh phạt Silesia vào ngàyGiáng sinh năm1745, trước đó ông cũng chiếm lĩnh được cảng Emden vào năm1744. Đồng thời, vuaGeorge II thân chinh kéo đại binh đánh tan nát quân Pháp trongtrận Dettingen (1743), đã thế thủy binh Anh cũng nghiền nát thủy binh Pháp trongtrận thủy chiến Ouessant (1747) đưa nước Anh ngày càng hùng cường vào năm1748 khi chiến sự chấm dứt, đồng thời Phổ vẫn giữ vững Silesia và trở thành liệt cường châu Âu.[81][85][86][87]

Khi ấy, Nữ hoàng Nga làElizaveta hoảng hốt trước sự trỗi dậy như vũ bão của nướcPhổ, thấy vậy,Maria Theresia lập liên minh vớiNgaThụy Điển. Đồng thời, việcPhổ lập liên minh với Anh chống Pháp dẫn đến cuộcChiến tranh Bảy năm (1756 -1763). Đương đầu với liên minh chốngPhổ hùng hậu, vuaFriedrich II Đại Đế chủ động ra tay, và tài cầm quân cùng với lòng quyết tâm của ông đã giúp quân Phổ lập nên những chiến thắng vang lừng nhưtrận Rossbach,trận Leuthen (1757) vàtrận Liegnitz (1760), để rồiPhổ là quốc gia thắng trận trong cuộc chiến (1763).[88][89] Đại bại trước quân Phổ trên bộ và quân Anh trên biển, Pháp bị khánh kiệt tả tơi sau cuộc chiến tranh này, do đó có thể thấy sự tiêu đời củaVương quốc Pháp mở đầu với cuộc chinh phạt Silesia của người Phổ vào năm 1740.[90] Nước Anh thắng trận với những chiến công hiển hách như trậnthủy chiến vịnh Quiberon và trận thắng Pháp tạiQuebecBắc Mỹ (1759), nhờ đó Anh lấy được nhiều đất đai.[91][92] Nhưng rồi cả Anh và Pháp đều suy yếu trước sự vươn lên của các liệt cường phương Đông, mà điển hình là Phổ, Áo và Nga.[93] Do là một nước nhỏ mà có thể đánh thắng liên quân các nước lớn láng giềng, nước Phổ củaFriedrich II Đại Đế hoàn toàn là liệt cường Âu châu khiChiến tranh Bảy Năm chấm dứt.[94][95] Lúc ấy, lực lượngQuân đội Phổ tinh nhuệ trở thành đội quân thiện chiến nhất Âu châu, và dù họ nhiều lần bị Quân đội Nga đánh bại trong thời gian chiến tranh, đó chỉ là do Nga đông người hơn Phổ hẳn.[92] Cá nhân của người lãnh đạo luôn đóng vai trò quan trọng, mà về mặt này Phổ được lợi lớn vì có vị vua xuất sắc Friedrich II Đại Đế là có tầm nhìn xa trông rộng, quyết đoán, là một "kỳ nhân của thiên hạ" (stupor mundi) thời bấy giờ.[76][96][97][98] Đồng thời, nước Nga tiến hành những cuộc chinh phạt lớn lao của vịNữ hoàng tài năng hơn ngườiEkaterina II Đại Đế nước Nga (trị vì:1762 -1796). Vào năm1772, với tài năng ngoại giao của mình, vua Phổ mang lại lợi ích cho nước nhà khi ông cùng Nga và Áo tiến hànhcuộc chia cắt Ba Lan lần thứ nhất.[70][76] Trong khi đó,Thổ Nhĩ Kỳ suy vong, bị Nga đánh bại và lấy đất.[70]

Sau thời kỳ khai phá châu Âu

[sửa |sửa mã nguồn]

Sau thời kỳ khai phá, các ý niệm vềdân chủ bắt rễ tại châu Âu. Vàothế kỷ XVIII,trào lưu triết học Khai sáng ở Pháp có những nhàtriết học hàng đầu nhưVoltaire (François-Marie Arouet,1694 -1778) - bạn hữu của vua PhổFriedrich II Đại Đế[70]Jean-Jacques Rousseau (1712 -1778).[99] Ngay từ năm1688, cuộcCách mạng Vinh Quang đã giành thắng lợi tại Anh, lật đổ ông vua độc đoánJames II.[100] Thậm chí tại một số nướcphong kiến như Phổ và Nga, các vị minh quân Friedrich II Đại Đế và Ekaterina II Đại Đế đã tiến hành nhữngcải cách tiến bộ, dù không triệt để.[101] Vua Friedrich II Đại Đế cũng từng tham gia trongHội Tam Điểm - một tổ chức bí mật có tư tưởng tiến bộ.[70] Vào năm1789, Bất mãn với tầng lớp quý tộc và độc quyền về quyền lực chính trị ở Pháp đã dẫn đến cuộc Cách mạng Pháp và thành lập nền Cộng hòa đầu tiên, năm1793 vuaLouis XVI bị hành quyết.[102] Ngọn lửaCách mạng Pháp rực cháy đã dẫn đến những biến động to lớn tại châu Âu khi các tư tưởng của cuộc cách mạng này đã truyền bá khắp lục địa. Việc hình thành tư tưởng dân chủ khiến cho căng thẳng trong châu Âu không ngừng gia tăng, ngoài những căng thẳng đã có sẵn do tranh giành tài nguyên tạiTân Thế giới. Một trong những căng thẳng tiêu biểu trong thời kỳ này là khiNapoléon Bonaparte lên ngôiHoàng đế đã tiến hành các cuộc chinh phục nhằm hình thành mộtĐế chế thứ nhất của người Pháp, tuy nhiên Đế chế này đã sụp đổ vào năm 1815 sauTrận Waterloo.Bộ luật Napoléon ra đời dẫn đến việc phổ biến hơn nữa các lý tưởng củaCách mạng Pháp, cũng như việc áp dụng rộng rãi các mô hình quản lý, luật pháp và giáo dục của Pháp trên toàn châu Âu. Sau khicác cuộc chinh phục của Napoleon kết thúc, châu Âu dần ổn định.Hội nghị Vienna, được triệu tập sau sự sụp đổ củaNapoléon, đã thiết lập nên một sự cân bằng quyền lực mới ở châu Âu tập trung vào năm "cường quốc":Anh,Pháp,Phổ,ÁoNga. Nước Nga hùng mạnh trở thành một "tên sen đầm" bách chiến bách thắng của châu Âu.[70]

Tuytrào lưu Khai sáng suy yếu nhưng cáctư tưởng của trào lưu triết học này vẫn chưa bị phai sau nhiều biến cố lịch sử, thể hiện qua cải cách đúng đắn của quan đại thần Triều đình PhổHeinrich Friedrich Karl vom und zum Stein (17571831). Rồichủ nghĩa lãng mạn ra đời.[101] CuộcCách mạng Công nghiệp khởi nguồn từAnh vào cuốithế kỷ 18 và lan rộng khắp châu Âu. Việc phát minh và áp dụng các công nghệ mới trong sản xuất đã dẫn đến sự phát triển nhanh chóng của cácđô thị, mang tới sự thịnh vượng và sự gia tăng số dân cũng như sự xuất hiện của một tầng lớp lao động mới. Vào năm1848, làn sóngCách mạng lan rộng trên châu Âu, chẳng hạn nhưÝ. Đó cũng là năm màKarl MarxFriedrich Engels viết nên bản "Tuyên ngôn củachủ nghĩa Cộng sản".[103] Vào năm1863, ngọn lửa đấu tranh vì tự do lại bùng cháy tạiBa Lan, nhưng bị Chính phủNga hoàng đàn áp.[104]Vương quốc Phổ hùng mạnh, với quân sĩ tinh nhuệ đã giành chiến thắng trong một loạt các cuộc chiến tranh và thống nhất tất cả các tiểu bang để gầy dựng nênĐế chế Đức vào năm1871 dưới sự lãnh đạo của Hoàng đếWilhelm I và Thủ tướngOtto von Bismarck. Năm 1871 cũng chứng kiến sự thống nhất củaÝ từ các quốc gia nhỏ hơn. Các cải cách trong lĩnh vực xã hội và sau đó là kinh tế đã dần được thực hiện ở hầu hết các nước, bao gồm các luật đầu tiên quy định về sử dụng lao động trẻ em, hợp pháp hoá cáccông đoàn, và bãi bỏchế độ nô lệ. Ở Anh, Đạo luật Y tế Công cộng năm 1875 đã được thông qua, cải thiện đáng kể điều kiện sống ở nhiều thành phố của Anh. Bên cạnh cạnh tranh với nhau, các nước châu Âu trong thời gian này tiếp tục tích cực đi xâm chiếm thuộc địa. Với tiến bộ khoa học quân sự đạt được, họ càng có thế mạnh trong các cuộc chiến tranh xâm lược tạichâu Á,châu PhiMỹ Latin. Với tiền của bóc lột được tại các thuộc địa cũng như tích lũy được từ cuộcCách mạng công nghiệp, hình thành các đế chế hùng mạnh tại châu Âu, điển hình gồm Đế chế Habsburg hay làĐế chế Áo-Hung,Đế chế Nga,Đế chế thuộc địa Pháp,Đế chế Anh,Đế chế Hà Lan.Trong năm19041905, châu Âu chứng kiếnsự kiện khác thường:Đế quốc Nhật Bản đánh thắngĐế quốc Nga trong cuộcchiến tranh giữa hai nước.[105] Trong khi đó, cuộccách mạng Serbia(1804) vàChiến tranh giành độc lập của Hi Lạp (1821) đánh dấu sự kết thúc đối với quyền lực củaĐế chế Ottoman tạiBalkans, mà đã kết thúc hẳn saucác cuộc chiến tranh Balkan trong 1912-1913.Chiến tranh thế giới thứ nhất diễn ra từ năm 1914 đến năm 1918. Nó bắt đầu khi Thái tửFranz Ferdinand của Áo bị ám sát bởi một người theo chủ nghĩa dân tộc Yugoslav tên làGavrilo Princip. Hầu hết các quốc gia châu Âu đã bị lôi kéo vào cuộc chiến, gia nhập một trong haiphe Hiệp ước (Pháp, Bỉ, Serbia, Bồ Đào Nha, Nga, Vương quốc Anh, và sau đó là Ý, Hy Lạp, Romania và Hoa Kỳ) hoặcphe Trung tâm (Áo -Hungary, Đức, Bulgaria, và Đế chế Ottoman). Cuộc chiến đã khiến hơn 16 triệu dân thường và quân nhân chết. Biên giới các nước châu Âu vẫn trong tình trạng hiện nay khi cuộcChiến tranh thế giới thứ nhấtkết thúc. Ở Nga đã xảy ra cuộcCách mạng Nga vào năm 1917, lật đổ chế độ quân chủ Sa hoàng và thay thế nó với một nhà nướcCộng sản chủ nghĩa. Đế quốc Áo-Hungary và Đế chế Ottoman sụp đổ, chia tách thành các quốc gia riêng biệt.Hiệp ước Versailles, chính thức chấm dứtChiến tranh thế giới thứ nhất năm 1919, áp đặt các biện pháp trừng phạt nặng nề đối với nước Đức. Bất ổn kinh tế, một phần do các khoản nợ phát sinh trongChiến tranh thế giới thứ nhất và 'các khoản vay' cho Đức, đã tàn phá nền kinh tế ở châu Âu vào cuối những năm 1920 và 1930. Điều này cùng với Sự sụp đổ của phố Wall năm 1929 đã dẫn tới cuộcĐại khủng hoảng trên toàn thế giới. Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế, bất ổn xã hội và mối đe dọa củachủ nghĩa Cộng sản, cácphong trào phát xít đã phát triển khắp châu Âu, vào năm 1922, chính phủ phát xít một Đảng củaMussolini đã nắm quyền ởÝ. Năm 1933,Adolf Hitler lên nắm quyền lực ở Đức và trở thành lãnh tụ tối cao củaĐức Quốc xã, thiết lập chế độ độc tài phát xít và hướng tới mục tiêu xây dựng một nướcĐại Đức.

Đức tăng cường bành trướng, tái mở rộng và chiếm lạiSaarlandRhineland vào năm 1935 và 1936. Năm 1938,Áo được sáp nhập vào lãnh thổ Đức và trở thành một phần của Đức. Cuối năm đó, sauHiệp định Munich đã được ký kết giữaĐức,Pháp,AnhÝ, Đức sáp nhậpSudetenland, một phần củaTiệp Khắc, nơi người Đức gốc định cư, và đầu năm 1939, Đức chiếm đóng toàn bộTiệp Khắc. Đức xâm chiếmBa Lan vào ngày 1 tháng 9 năm 1939, khiếnPhápVương quốc Anh tuyên chiến với Đức vào ngày 3 tháng 9, bùng nổThế chiến thứ hai. Vào tháng 5 năm 1940, Đứctấn công nước Pháp sau khi đã thôn tínhĐan Mạch,Na Uy,Bỉ,Hà Lan,Luxembourg. NướcPháp đầu hàng vào tháng 6 năm 1940. Vào tháng 8, Đức bắt đầu một chiến dịch ném bom nướcAnh, nhưng không thuyết phục được người Anh từ bỏ.Nam TưHi Lạp cũng bị Đức chiếm đóng. Năm 1941, Đức xâm lượcLiên Xô trongChiến dịch Barbarossa. Sautrận Stalingrad vào năm 1943, cuộc tấn công của Đức tại Liên Xô đã trở thành một sự thất bại.Trận Kursk, trận chiến xe tăng lớn nhất trong lịch sử, là cuộc tấn công lớn của Đức cuối cùng trên Mặt trận phía Đông. LIên Xô đẩy lùi quân Đức khỏi lãnh thổ của mình, giải phóng các nước Đông Âu và tiến quân vào Đức từ phía đông. Vào tháng 6 năm 1944, các lực lượng Anh và Mỹ đã đổ bộ lên miền bắc nước Pháp trong chiến dịch đổ bộD-Day, mở ra một mặt trận mới chống lại Đức, giải phóng các nước Tây Âu và tiến vào Đức từ phía tây.Berlin cuối cùng đã sụp đổ vào năm 1945, kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai ở châu Âu. Hơn 40 triệu người ở châu Âu đã chết do hậu quả củaChiến tranh Thế giới thứ II bao gồm từ 11 đến 17 triệu người đã thiệt mạng trong cuộc tàn sátHolocaust.

Chiến tranh thế giới thứ nhất và đặc biệt là Chiến tranh thế giới thứ hai đã làm giảm vai trò của Châu Âu trong các vấn đề thế giới. Sau Thế chiến II, bản đồ châu Âu được vẽ lại tại Hội nghị Yalta và được chia thành hai khối, các nước Tây Âutư bản chủ nghĩa và khối Đông Âuxã hội chủ nghĩa. Kể từ sau cuộcChiến tranh thế giới thứ hai cho đến khi kết thúc tình trạngChiến tranh Lạnh, châu Âu đã ở trong tình trạng đối đầu giữa 2 khối đối lập nhau về chính trị và kinh tế: các nướcCộng sảnĐông Âu (chịu ảnh hưởng của Liên Xô) và các nướctư bảnTây Âu (chịu ảnh hưởng củaHoa Kỳ). Cho đến cuối thé kỷ XX, hầu hết các thuộc địa châu Âu ở châu Á và châu Phi đều đã giành được độc lập. Vào năm1989, một loạt các cuộccách mạng diễn ra khiến chokhối xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ.Bức tường Berlin bị phá bỏ và nước Đức đượctái thống nhất vào năm 1990. Năm1991, Liên Xô tan rã thành 15 nước Cộng hòa độc lập, chế độ Cộng sản chủ nghĩa trên toàn châu Âu bị tiêu diệt hoàn toàn.

Năm 1967,Cộng đồng Châu Âu đuơc thành lập, năm 1993 trở thànhLiên minh Châu Âu (EU). EU đã thiết lập mộtquốc hội,tòa ánngân hàng trung ương, giới thiệu đồngeuro như một đồng tiền thống nhất. Từ năm 2004 đến năm 2013, nhiều quốc gia Trung và Đông Âu đã bắt đầu tham gia, mở rộng EU tới quy mô hiện tại là 28 quốc gia châu Âu, một lần nữa biến châu Âu trở thành trung tâm chính trị và kinh tế của thế giới. Tuy nhiên, vào tháng 6 năm 2016, người dânVương quốc Anh, trong một cuộc trưng cầu dân ý đã bỏ phiếu rời khỏiLiên minh châu Âu.

Địa lý

[sửa |sửa mã nguồn]
Bài chi tiết:Địa lý châu Âu

Vị trí địa lý

[sửa |sửa mã nguồn]

Về mặtđịa lý, châu Âu nằm trongđại lục rộng hơn làlục địa Âu Á. Ranh giới của lục địa châu Âu vớichâu Á bắt đầu từdãy UralNga phía đông, đến đông nam thì không thống nhất, có thể coi làsông Ural hoặcsông Emba. Từ đó ranh giới này kéo đếnbiển Caspia, sau đó đếnsông Kuma và Manych hoặc dãyKavkaz, rồi kéo đếnBiển Đen;eo biển Bosporus,biển Marmara, vàeo biển Dardanelles chấm dứt ranh giới với châu Á. BiểnĐịa Trung Hải ở phía nam phân cách châu Âu vớichâu Phi. Ranh giới phía tây làĐại Tây Dương, tuy thếIceland, nằm cách xa hẳn so với điểm gần nhất của châu Âu vớichâu Phichâu Á, cũng nằm trong châu Âu. Hiện tại việc xác địnhtrung tâm địa lý châu Âu vẫn còn trong vòng tranh luận.

Biên giới chính trị và địa lý của châu Âu không phải lúc nào cũng là một. Bản đồ địa lý và chính trị này cho thấy toàn bộ châu Âu đến tận dãy Ural

Trên thực tế, biên giới của châu Âu thông thường được xác định dựa trên các yếu tố chính trị, kinh tế, và văn hóa. Do vậy mà kích thước cũng như số lượng các nước củachâu Âu sẽ khác nhau tùy theo định nghĩa. Hầu hết các nước trong châu Âu là thành viên củaHội đồng châu Âu, ngoại trừBelarus, vàTòa Thánh (Thành Vatican).

Khái niệmlục địa châu Âu không thống nhất. Vì châu Âu không được bao bọc toàn bộ bởi biển cả nên nhiều người coi nó chỉ là bán đảo củalục địa Âu Á. Trong quá khứ, khái niệmlãnh thổ Kitô giáo được coi là quan trọng hơn cả đối với châu Âu.

Châu Âu được chia làm 4 khu vực:Bắc Âu,Nam Âu,Tây Âu,Đông Âu.

Trên thực tế,châu Âu ngày càng được dùng là cách gọi tắt để chỉLiên minh châu Âu (EU) và các 27 thành viên hiện tại của nó. Một số nước châu Âu đang xin làm thành viên, số khác dự kiến cũng sẽ tiến hành thương lượng trong tương lai (xemMở rộng Liên minh châu Âu).

Đặc điểm địa hình

[sửa |sửa mã nguồn]

Về mặt địa hình, châu Âu là nhóm cácbán đảo kết nối với nhau. 2 bán đảo lớn nhất là châu Âu "lục địa" và bán đảoScandinavia ở phía bắc, cách nhau bởiBiển Baltic. Ba bán đảo nhỏ hơn là (Iberia,Ý và bán đảoBalkan) trải từ phía nam lục địa tớiĐịa Trung Hải, biển tách châu Âu vớichâu Phi. Về phía đông, châu Âu lục địa trải rộng trông như miệng phễu tới tận biên giới với châu Á làdãy Ural.

Cảnh đẹp biểu tượng nhất của Hồ Como từSentiero del ViandanteLierna nhìn ra Bellagio

Bề mặt địa hình trong châu Âu khác nhau rất nhiều ngay trong một phạm vi tương đối nhỏ. Các khu vực phía nam địa hình chủ yếu là đồi núi, trong khi về phía bắc thì địa thế thấp dần từ các dãyAlps,PyreneKarpati, qua các vùng đồi, rồi đến các đồng bằng rộng, thấp phía bắc, và khá rộng phía đông. Vùng đất thấp rộng lớn này được gọi làĐồng bằng Lớn Âu Châu, và tâm của nó nằm tạiĐồng bằng Bắc Đức. Một vùng đất cao hình vòng cung nằm ở biên giới biển phía tây bắc, bắt đầu từquần đảo Anh phía tây và dọc theo trục cắtfjord có nhiều núi củaNa Uy.

Mô tả này đã được giản lược hóa. Các tiểu vùng nhưIberiaÝ có tính chất phức tạp riêng như chính châu Âu lục địa, nơi mà địa hình có nhiều cao nguyên, thung lũng sông và các lưu vực đã làm cho miêu tả địa hình chung phức tạp hơn.Icelandquần đảo Anh là các trường hợp đặc biệt.Iceland là một vùng đất riêng ở vùng biển phía bắc được coi như nằm trong châu Âu, trong khiquần đảo Anh là vùng đất cao từng nối với lục địa cho đến khi địa hình đáy biển biến đổi đã tách chúng ra.

Các tiểu vùng của Châu Âu - CIA World Factbook

Do địa hình châu Âu có thể có một số tổng quát hóa nhất định nên cũng không ngạc nhiên lắm khi biết là trong lịch sử, vùng đất này là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc tách biệt trên các vùng đất tách biệt mà ít có pha trộn.

Có mặt bên cạnh những người làm nông nghiệp hàng nghìn năm nay,động vật cũng nhưthực vật của châu Âu bị các hoạt động của con người ảnh hưởng mạnh. Ngoại trừScandinavia và bắcNga, thì chỉ còn vài vùng trong châu Âu hầu như còn nguyên tình trạng hoang dã, không kể các vườn động thực vật nhân tạo.

Thảm thực vật chủ yếu

[sửa |sửa mã nguồn]

Thảm thực vật chủ yếu ở châu Âu làrừng. Điều kiện ở châu Âu rất thuận lợi chorừng phát triển. Về phía bắc,Hải lưu Gulf StreamHải lưu Bắc Đại Tây Dương sưởi ấm lục địa này. Nam Âu thì có khí hậu ấm và ôn hòa. Vùng này thường có mưa rào mùa hè. Các dãy núi cũng ảnh hưởng tới các điều kiện phát triển sinh vật. Một số dãy (Alps,Pyrene) có hướng đông-tây nên tạo điều kiện cho gió mang một lượng nước rất lớn từ biển vào trong đất liền. Các dãy khác thì hướng nam-bắc (các dãyScandinavia,Dinarides,Karpati,Apennin) và vì mưa chỉ đổ chủ yếu phía bên sườn núi hướng ra biển nên rừng rất phát triển về phía này, trong khi phía bên kia thì điều kiện kém thuận lợi hơn. Một số nơi trong châu Âu lục địa ít cóthú nuôi trong một vài giai đoạn, và việc phá rừng cho sản xuất nông nghiệp đã ảnh hưởng đến hệ sinh thái động và thực vật nguyên thủy.

Khoảng 80 – 90% châu Âu từng được bao phủ bởirừng.Rừng trải từĐịa Trung Hải đến tậnBiển Bắc Cực. Mặc dù hơn nửa sốrừng nguyên sinh của châu Âu biến mất qua hàng thế kỷthực dân hóa, châu Âu vẫn còn 25% số rừng củathế giới (rừngvân sam (spruce) củaScandinavia, rừngthông bạt ngàn ởNga,rừng nhiệt đới ẩm (rainforest) củaKavkaz và rừngsồi bần (cork oak) trong vùngĐịa Trung Hải). Trong thời gian gần đây, việc phá rừng đã bị hạn chế rất nhiều và việc tái trồng rừng ngày càng nhiều. Tuy thế, trong hầu hết các trường hợp người ta thích trồng cây họ thông hơn là loại các cây rụng lá sớm nguyên thủy vì thông mọc nhanh hơn. Các trang trại và đồn điền chăn nuôi thiên về một loài trên một diện tích rộng lớn đã không tạo điều kiện thuận lợi cho các loài sinh vật khác nhau trong rừng châu Âu sinh trưởng. Lượng rừng nguyên sinh ở Tây Âu chỉ còn chừng hai đến ba phần trăm tổng số rừng (nếu tính cả Nga thì sẽ là năm đến mười phần trăm). Nước có tỉ lệ rừng bao phủ thấp nhất làIreland (tám phần trăm), trong khi nước có nhiều rừng bao phủ nhất làPhần Lan (72 phần trăm).

Trong châu Âu "lục địa", rừng câyrụng lá sớm (deciduous) chiếm ưu thế. Các loài quan trọng nhất làsồi beech,bulô (birch) vàsồi. Về phía bắc, nơi rừngtaiga sinh sôi, loài cây phổ biến nhất là bulô. Trong vùng Địa Trung Hải, người ta trồng nhiềucây olive là loại đặc biệt thích hợp vớikhí hậu khô cằn ở đây. Một loài phổ biến tại Nam Âu làcây bách. Rừngthông chiếm ưu thế ở các vùng cao hay khi lên phía bắc trong Nga và Scandinavia, và nhường lối chotundra khi đến gần Bắc Cực. Vùng Địa Trung Hải với khí hậu bán khô cằn thì có nhiều rừng rậm. Một dải lưỡi hẹp đông-tây củathảo nguyên Âu Á, trải dài về phía đông tạiUkraina và về phía nam tạiNga và kết thúc ởHungary và đi quarừng taiga ở phía bắc.

Động vật

[sửa |sửa mã nguồn]

Việc đóng băng trongthời kỳ Băng hà gần đây nhất và sự hiện diện của con người đã ảnh hưởng tới sự phân bố củahệ động vật châu Âu. Vềđộng vật thì nhiều khu vực của châu Âu, đa phần các loài động vật lớn và các loàithú ăn thịt hàng đầu đã bị săn tới tuyệt chủng. Loàivoi mamut có lôngbò rừng châu Âu (aurochs) đã tuyệt chủng trước cuốithời kỳ Đá Mới. Ngày nay,chó sói (ăn thịt) vàgấu (ăn tạp) đang bị đe dọa tuyệt chủng. Có thời những loài này có mặt trên khắp châu Âu. Tuy nhiên, việc phá rừng đã khiến các loài này mất dần. Vào thờiTrung Cổ thì môi trường sống của các loàigấu chỉ còn trong các vùng đồi núi khó đến với rừng rậm bao phủ. Ngày nay, gấu nâu sống chủ yếu trong bán đảoBalkans, ởBắc ÂuNga; một số nhỏ cũng còn ở một số nước châu Âu (Áo, Pyrene, v.v.), tuy thế tại những nơi này số lượng gấu nâu bị phân tán và cho ra rìa vì môi trường sống của chúng bị phá hoại. Ở cực bắc châu Âu, có thể thấygấu bắc cực.Chó sói là loài phổ biến thứ hai ở châu Âu sau gấu nâu cũng được tìm thấy chủ yếu tạiĐông Âu và vùng Balkans.

Các loài ăn thịt quan trọng ở châu Âu làmèo rừng Âu Á (Eurasian lynx),mèo hoang châu Âu,cáo (đặc biệt làcáo đỏ),chó rừng (jackal) và các loàichồn marten,nhím Âu, các loại rắn (rắn viper,rắn cỏ...), các loài chim (,diều hâu và các loàichim săn mồi).

Cácloài ăn cỏ quan trọng ở châu Âu làốc sên, cácloài lưỡng cư,, các loạichim, các loạiđộng vật có vú, như cácloài gặm nhấm,hươu,hoẵng (roe deer),lợn rừng, cũng nhưcon marmot,dê rừng vùng Alps (steinbock),sơn dương (chamois) là những loài sống trong núi.

Động vật biển cũng đóng vai trò quan trọng trong hệ động thực vật châu Âu. Thực vật biển chủ yếu làtảo đơn bào trôi nổi (phytoplankton). Các loài động vật quan trọng sống trong môi trường biển châu Âu làgiáp xác trôi nổi (zooplankton),động vật thân mềm (molluscs),động vật da gai (echinoderms), các loàitôm,mực ốngbạch tuộc, các loại cá,cá heo, vàcá mập.

Một số loài sống tronghang nhưproteusdơi

Chính trị

[sửa |sửa mã nguồn]

Bản đồ chính trị của châu Âu có nguồn gốc đáng kể từ việc tổ chức lại châu Âu sauChiến tranh Napoléon năm1815. Hình thức phổ biến của các chính phủ ở châu Âu làdân chủ nghị viện, trong hầu hết các trường hợp dưới hình thức Cộng hòa; 11 quốc gia của châu Âu hiện nay là những nềnQuân chủ lập hiến.

Chính trị châu Âu hiện đại chịu sự chi phối mạnh mẽ bởiLiên minh châu Âu, kể từ sự sụp đổ của Bức màn sắt và sự sụp đổ của các quốc gia Cộng sản. Sau khi kết thúcChiến tranh Lạnh,EU mở rộng về phía đông, bao gồm kết nạp thêm các nước Cộng sản cũ. Tính đến năm 2017, EU có 28 quốc gia thành viên.

Kinh tế

[sửa |sửa mã nguồn]

Nền kinh tế của châu Âu hiện là lớn nhất trong số các châu lục trên Trái Đất. Cũng như các châu lục khác, châu Âu có sự phân hóa lớn về sự giàu có giữa các quốc gia của nó. Các nước phát triển có tập trung ởTây ÂuBắc Âu; một số nền kinh tế Trung và Đông Âu vẫn đang nổi lên từ sự sụp đổ củaLiên Xô và sự sụp đổ củaNam Tư.

Châu Âu trong năm2010GDP danh nghĩa là 19.920 tỷ đô la (chiếm 30,2% của thế giới). Nền kinh tế lớn nhất châu Âu làĐức, có GDP danh nghĩa đứng thứ 4 toàn cầu, và đứng thứ 5 nếu tính theo sức mua tương đương; nền kinh tế đứng thứ 2 làVương quốc Anh, xếp thứ 5 toàn cầu theo GDP danh nghĩa và xếp thứ 6 theo sức mua tương đương. Tiếp theo làPháp, xếp hạng thứ 6 trên toàn cầu theo GDP danh nghĩa, tiếp theo làÝ, đứng thứ 7 trên toàn cầu về GDP danh nghĩa, tiếp theo làNga xếp thứ 10 trên toàn cầu về GDP danh nghĩa, sau đó làTây Ban Nha xếp hạng thứ 13 trên toàn cầu về GDP danh nghĩa.[106]

Nhân khẩu

[sửa |sửa mã nguồn]

Đa số người châu Âu định cư ở đây trước hoặc trongthời kỳ Băng hà cuối cùng cách đây khoảng 10.000 năm.Người Neanderthalngười hiện đại sống chung với nhau ít vào một giai đoạn nào đó của thời kỳ này. Việc xây dựng các con đường La Mã đãpha trộn cácgiống người châu Âu bản địa.

Từ thời xa xưa, con người ở đây có sự phát triển vượt bậc, biết chế tạo cũng như phát minh nhiều thứ để phục vụ cho đời sống. Khi sangthế kỷ XX, số dân châu Âu là hơn 600 triệu người, nhưng hiện nay số dân đang vào giai đoạn giảm dần vì các nhân tố xã hội khác nhau.

Trong năm2016, dân số của châu Âu ước tính là 741 triệu người theoTriển vọng Dân số Thế giới, chỉ bằng 1/9 dân số toàn cầu. 1 thế kỷ trước, dân số châu Âu chiếm gần 1/4 dân số thế giới.[107] Dân số châu Âu đã tăng trưởng nhanh trong thế kỷ qua, nhưng ở các khu vực khác trên thế giới (đặc biệt làchâu Phichâu Á) dân số đã tăng nhanh hơn rất nhiều.[108] Trong số các châu lục, châu Âu có mật độ dân số tương đối cao, chỉ đứng sau châu Á.Monaco là nước có mật độ dân số cao nhất thế giới.

Châu Âu là nơi có số lượng người nhập cư nhiều nhất trên toàn cầu với 70,6 triệu người, báo cáo củaIOM cho biết.[109]

Tôn giáo

[sửa |sửa mã nguồn]
Tôn giáo tại châu Âu, 2016[7]
  1. Kitô giáo (76,2%)
  2. Không tôn giáo (18,3%)
  3. Hồi giáo (4,90%)
  4. Phật giáo (0,20%)
  5. Hindu giáo (0,20%)
  6. Tôn giáo cổ truyền (0,10%)
  7. Tôn giáo khác (0,10%)

Tôn giáo lớn nhất ở châu Âu làKitô giáo, với 76,2% người châu Âu tự nhận mình làKitô hữu,[110][111] bao gồmCông giáo,Chính thống giáo Đông phương và các hệ pháiTin Lành khác nhau. Trong số các tín đồ Tin Lành, phổ biến nhất làphái Luther,Anh giáo và pháiCải cách. Các hệ phái Tin Lành nhỏ hơn bao gồm phái Anabaptist cũng như các hệ phái tập trung ở Hoa Kỳ nhưphái Ngũ Tuần,phái Giám Lýphái Phúc Âm. Mặc dù Kitô giáo bắt nguồn từTrung Đông, trọng tâm của nó đã dịch chuyển sang châu Âu khi tôn giáo này trở thành quốc giáo củaĐế quốc La Mã vào cuối thế kỷ thứ 4. Kitô giáo đã đóng một vai trò nổi bật trong sự phát triển văn hóa và bản sắc châu Âu.[112][113][114] Ngày nay, chỉ hơn 25% số Kitô hữu trên thế giới sống ở châu Âu.[115]

Hồi giáo là tôn giáo phổ biến thứ hai ở châu Âu. Hơn 25 triệu người, tức khoảng 5% dân số, theo tôn giáo này.[116] TạiAlbaniaBosnia và Herzegovina, hai quốc gia trênbán đảo Balkan ở Đông Nam Âu, Hồi giáo là tôn giáo chiếm đa số thay vì Kitô giáo. Hồi giáo cũng là tôn giáo chính ởThổ Nhĩ Kỳ và một số vùng củaNga, cũng như ởAzerbaijanKazakhstan, tất cả các nước này đều nằm ở biên giới với châu Á.[116] Nhiều quốc gia ở châu Âu là nơi có một cộng đồng thiểu số Hồi giáo đáng kể, và làn sóng nhập cư vào châu Âu đã làm tăng số lượng người Hồi giáo ở châu lục này trong những năm gần đây.

Dân sốDo Thái ở châu Âu vào năm 2020 là khoảng 1,4 triệu người (khoảng 0,2% dân số).[117]Người Do Thái có một lịch sử lâu đời ở châu Âu, bắt đầu từ thời cổ đại. Trong giai đoạn cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20,Đế quốc Nga là nơi có phần lớn người Do Thái trên thế giới sinh sống trong biên giới của mình.[118] Năm 1897, theo cuộc điều tra dân số Nga năm 1897, tổng dân số Do Thái của Nga là 5,1 triệu người, chiếm 4,13% tổng dân số. Trong số này, đại đa số sống trong Vùng An cư (Pale of Settlement).[119] Năm 1933, có khoảng 9,5 triệu người Do Thái ở châu Âu, chiếm 1,7% dân số,[120] nhưng hầu hết đã bị giết, và phần lớn những người còn lại phải di dời trong Nạn diệt chủngHolocaust.[121][117] Trong thế kỷ 21,Pháp có dân số Do Thái lớn nhất ở châu Âu, tiếp theo làVương quốc Anh,ĐứcNga .

Các tôn giáo khác được thực hành ở châu Âu bao gồmẤn Độ giáoPhật giáo, đây là những tôn giáo thiểu số, ngoại trừ ởCộng hòa Kalmykia của Nga, nơiPhật giáo Tây Tạng là tôn giáo chiếm đa số.

Một số lượng lớn và ngày càng tăng người dân ở châu Âu là những người không tôn giáo,vô thầnbất khả tri. Ước tính họ chiếm khoảng 18,3% dân số châu Âu hiện nay.[7]

Văn hóa

[sửa |sửa mã nguồn]

Sự phân chia thành các vùngvăn hóangôn ngữ trong châu Âu đôi khi được áp dụng (thay cho phân chia về mặt địa lý) vì nó thể hiện rõ hơn mối liên hệ về văn hóa của con người ở đây. Có thể chia ra làm 3 nhóm chính là:

Châu Âu German

[sửa |sửa mã nguồn]

Châu Âu German là nơi sử dụngcác ngôn ngữ German. Khu vực này gần như tương ứng với Tây Bắc châu Âu và một số phần củaTrung Âu. Tôn giáo chính trong khu vực này làđạo Tin Lành, mặc dù cũng có một số vùng miền trong đó đa phần dân chúng theoCông giáo (đặc biệt là Áo). Khu vực này bao gồm các nước:Anh Quốc,Đức,Áo,Hà Lan,Đan Mạch,Na Uy,Thụy Điển,Luxembourg,Liechtenstein,Iceland,quần đảo Faroe, vùngThụy Sĩ nói tiếng Đức,vùng Vlaanderen thuộc Bỉ,dân cư nói tiếng Thụy Điển của Phần Lan thuộcPhần Lan, và vùngNam Tyrol thuộcÝ.

Châu Âu Latinh

[sửa |sửa mã nguồn]

Châu Âu Latinh là nơi nóicác ngôn ngữ Rôman. Khu vực này gần như tương ứng với Tây Nam châu Âu, ngoại trừRomâniaMoldova nằm ở Đông Âu. Đa phần khu vực này theoCông giáo, ngoại trừ România và Moldova theo Chính thống giáo. Khu vực này bao gồm các nước:Ý,Tây Ban Nha,Bồ Đào Nha,Pháp,România,Moldova, vùng Bỉ nóitiếng Pháp và vùng Thụy Sĩ nói tiếng Pháp, cũng như vùng Thụy Sĩ nóitiếng Ýtiếng Romansh.

Châu Âu Slavơ

[sửa |sửa mã nguồn]

Châu Âu Slavơ là nơi nóicác ngôn ngữ Slavơ. Khu vực này gần như tương ứng với Trung và Đông Âu. Tôn giáo chính làChính thống giáoCông giáo, thiểu số theoHồi giáo. Khu vực này gồm các nước:Ukraina,Nga,Belarus,Ba Lan,Cộng hòa Séc,Slovakia,Slovenia,Bosna và Hercegovina,Croatia,Serbia,Montenegro,Cộng hòa Macedonia,Bulgaria.

Các nhóm khác

[sửa |sửa mã nguồn]

Ngoài 3 nhóm chính kể trên còn có:

Danh sách quốc gia và lãnh thổ

[sửa |sửa mã nguồn]

Danh sách sau đây bao gồm tất cả các quốc gia có chủ quyền được công nhận thuộcchâu Âu về mặt địa lý hoặc chính trị.

*= Quốc gia thành viên Liên minh châu Âu[122]
Quốc huyQuốc kỳTên gọiDiện tích

(km2)

Dân sốMật độ dân số

(trên km2)

Thủ đôTên gọi trong ngôn ngữ chính thức
AlbaniaAlbaniaAlbania28,7482,876,59198.5TiranaShqipëria
AndorraAndorraAndorra46877,281179.8Andorra la VellaAndorra
ArmeniaArmeniaArmenia[j]29,7432,924,816101.5YerevanՀայաստան (Hayastan)
AustriaÁoÁo*83,8588,823,054104ViênÖsterreich
AzerbaijanAzerbaijanAzerbaijan[k]86,6009,911,646113BakuAzərbaycan
BelarusBelarusBelarus207,5609,504,70045.8MinskБеларусь (Belaruś)
BelgiumBỉBỉ*30,52811,358,357372.06BrusselsBelgië/Belgique/Belgien
Bosnia and HerzegovinaBosna và HercegovinaBosna và Hercegovina51,1293,531,15968.97SarajevoBosna i Hercegovina/Боснa и Херцеговина
BulgariaBulgariaBulgaria*110,9107,101,85964.9SofiaБългария (Bǎlgariya)
CroatiaCroatiaCroatia*56,5943,871,83368.4ZagrebHrvatska
CyprusSípSíp*[d]9,2511,170,125123.4NicosiaΚύπρος (Kýpros)/Kıbrıs
Czech RepublicSécSéc*78,86610,610,947134PragueČesko
DenmarkĐan MạchĐan Mạch*43,0946,001,008139.25CopenhagenDanmark
EstoniaEstoniaEstonia*45,2261,328,43930.5TallinnEesti
FinlandPhần LanPhần Lan*338,4555,509,71716HelsinkiSuomi/Finland
PhápPháp*[g]547,03067,348,000116ParisFrance
Georgia (country)GruziaGruzia[l]69,7003,718,20053.5Tbilisiსაქართველო (Sakartvelo)
GermanyĐứcĐức*357,16882,800,000232BerlinDeutschland
GreeceHy LạpHy Lạp*131,95710,297,76082AthensΕλλάδα (Elláda)
HungaryHungaryHungary*93,0309,797,561105.3BudapestMagyarország
IcelandIcelandIceland103,000350,7103.2ReykjavíkÍsland
IrelandCộng hòa IrelandCộng hòa Ireland*70,2804,761,86567.7DublinÉire/Ireland
ItalyÝÝ*301,33858,968,501195.7RomaItalia
KazakhstanKazakhstanKazakhstan[i]148,00020,075,2717AstanaҚазақстан (Qazaqstan)
LatviaLatviaLatvia*64,5891,862,70029RigaLatvija
LiechtensteinLiechtensteinLiechtenstein16038,111227VaduzLiechtenstein
LithuaniaLitvaLitva*65,3002,800,66745.8VilniusLietuva
LuxembourgLuxembourgLuxembourg*2,586602,005233.7Thành phố LuxembourgLëtzebuerg/Luxemburg/Luxembourg
MaltaMaltaMalta*316445,4261,410VallettaMalta
MoldovaMoldovaMoldova[a]33,8463,434,547101.5ChișinăuMoldova
MonacoMonacoMonaco2.02038,40018,713MonacoMonaco
MontenegroMontenegroMontenegro13,812642,55045.0PodgoricaCrna Gora/Црна Гора
NetherlandsHà LanHà Lan*[h]41,54317,271,990414.9AmsterdamNederland
North MacedoniaBắc MacedoniaBắc Macedonia25,7132,103,72180.1SkopjeСеверна Македонија (Severna Makedonija)
NorwayNa UyNa Uy385,2035,295,61915.8OsloNorge/Noreg/Norga
PolandBa LanBa Lan*312,68538,422,346123.5WarszawaPolska
PortugalBồ Đào NhaBồ Đào Nha*[e]92,21210,379,537115LisboaPortugal
RomaniaRomâniaRomania*238,39718,999,64284.4BucharestRomânia
RussiaNgaNga[b]3,969,100144,526,6368.4MoskvaРоссия (Rossiya)
San MarinoSan MarinoSan Marino61.233,285520San MarinoSan Marino
SerbiaSerbiaSerbia[f]88,3617,040,27291.1BelgradeSrbija/Србија
SlovakiaSlovakiaSlovakia*49,0355,435,343111.0BratislavaSlovensko
SloveniaSloveniaSlovenia*20,2732,066,880101.8LjubljanaSlovenija
SpainTây Ban NhaTây Ban Nha*505,99049,442,84497MadridEspaña
SwedenThụy ĐiểnThụy Điển*450,29510,151,58822.5StockholmSverige
SwitzerlandThụy SĩThụy Sĩ41,2858,401,120202BernSchweiz/Suisse/Svizzera/Svizra
Thổ Nhĩ KỳThổ Nhĩ Kỳ[m]23,76484,680,273106.7AnkaraTürkiye
UkraineUkrainaUkraina[s]603,62842,418,23573.8KyivУкраїна (Ukraina)
United KingdomVương quốc Liên hiệp Anh và Bắc IrelandVương quốc Anh[123]244,37668,265,209281Luân ĐônUnited Kingdom
Vatican CityThành VaticanThành Vatican0.441,0002,272Thành VaticanCittà del Vaticano/Civitas Vaticana
Tổng cộng5010,180,000[n]743,000,000[n]73

Trong số quốc gia đượt liệt kê ở trên là một vài quốc gia độc lậpde factođược công nhận hạn chế. Không có quốc gia nào là thành viên Liên Hợp Quốc:

Huy hiệuCờTên gọiDiện tích

(km2)

Dân sốMật độ dân số

(per km2)

Thủ đô
AbkhaziaAbkhaziaAbkhazia[p]8,660243,20628Sokhumi
KosovoKosovoKosovo[o]10,9081,920,079159Pristina
Northern CyprusBắc SípBắc Síp[d]3,355313,62693Nicosia (phía bắc)
South OssetiaNam OssetiaNam Ossetia[p]3,90053,53213.7Tskhinvali
TransnistriaTransnistriaTransnistria[a]4,163475,665114Tiraspol

Một vài lãnh thổ phụ thuộc hoặc có quyền tự trị cao nằm tại hoặc gần châu Âu, bao gồmÅland (mộtquận tự trị của Phần Lan), hai lãnh thổ tự trị củaVương quốc Đan Mạch (ngoại trừ Đan Mạch bản thổ), baLãnh địa Vương quyền và haiLãnh thổ hải ngoại thuộc Anh.Svalbard cũng được coi là thuộc châu Âu vì có quy chế đặc biệt trong Na Uy, tuy không được trao quyền tự trị. Những lãnh thổ không được coi là thuộc châu Âu là baquốc gia cấu thành Vương quốc Anh được phân quyền và haiVùng tự trị của Bồ Đào Nha vì không có quyền tự trị về đối nội tuy được hưởng quy chế tự trị đặc biệt. Những khu vực chỉ có quy chế thuế đặc biệt, ví dụ nhưQuần đảo CanariaHelgoland, cũng không được tính.

*= Một phần của Liên minh châu Âu
Huy hiệuCờTên gọiQuốc gia quản lýDiện tích

(km2)

Dân sốMật độ dân số

(trên km2)

Thủ phủ
Akrotiri và DhekeliaAkrotiri và DhekeliaVương quốc Anh2557,70030.2Episkopi Cantonment
ÅlandÅlandÅland*Phần Lan1,58029,48918.36Mariehamn
Bailiwick of GuernseyĐịa hạt Guernsey[c]Vương quốc Anh7865,849844.0St. Peter Port
JerseyJerseyJersey[c]Vương quốc Anh118.2100,080819Saint Helier
Faroe IslandsQuần đảo FaroeQuần đảo FaroeĐan Mạch1,39950,77835.2Tórshavn
GibraltarGibraltarGibraltarVương quốc Anh6.732,1944,328Gibraltar
GreenlandGreenlandGreenlandĐan Mạch[r]2,166,08655,8770.028Nuuk
Isle of ManĐảo ManĐảo Man[c]Vương quốc Anh57283,314148Douglas
SvalbardSvalbardNa Uy61,0222,6670.044Longyearbyen

Xem thêm

[sửa |sửa mã nguồn]

Đặc điểm chính của châu Âu

[sửa |sửa mã nguồn]

Danh sách và bảng biểu

[sửa |sửa mã nguồn]

Ghi chú

[sửa |sửa mã nguồn]

Tham khảo

[sửa |sửa mã nguồn]
  1. ^""World Population prospects – Population division"".population.un.org.Ban Kinh tế và Xã hội Liên Hợp Quốc, Population Division. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2019.
  2. ^""Overall total population" – World Population Prospects: The 2019 Revision"(xslx).population.un.org (custom data acquired via website).Ban Kinh tế và Xã hội Liên Hợp Quốc, Population Division. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2019.
  3. ^"GDP PPP, current prices". International Monetary Fund. 2022.Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2022.
  4. ^"GDP Nominal, current prices". International Monetary Fund. 2022.Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2022.
  5. ^"Nominal GDP per capita". International Monetary Fund. 2022.Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2022.
  6. ^"Reports".Human Development Reports.Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2017.
  7. ^abcdefAnalysis (ngày 19 tháng 12 năm 2011)."Global religious landscape"(PDF). Pewforum.org.Lưu trữ(PDF) bản gốc ngày 23 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2012.
  8. ^"Demographia World Urban Areas"(PDF). Demographia.Lưu trữ(PDF) bản gốc ngày 3 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2020.
  9. ^abcAn Chi. Rong chơi miền chữ nghĩa, tập 2. Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh. Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016.ISBN 9786045852118. Trang 142.
  10. ^Trần Văn Chánh, Lê Anh Minh. Toàn thư tự học chữ Hán. Tái bản lần thứ hai. Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa. Năm 2013. Trang 220 và 221.
  11. ^Norman Davies,Europe: a history, các trang XV-XVI.
  12. ^Euan Cameron,Early modern Europe: an Oxford history, trang 1
  13. ^Vy An.Những thành phố đậm chất châu Âu bên ngoài lục địa già.VnExpress.
  14. ^The map shows one of the most commonly accepted delineations of the geographical boundaries of Europe, as used byNational GeographicEncyclopaedia Britannica. Whether countries are considered in Europe or Asia can vary in sources, for example in the classification of theCIA World Factbook or that of theBBC.
  15. ^abcdNorman Davies,Europe: a history, các trang 132-151.
  16. ^Euan Cameron,Early modern Europe: an Oxford history, các trang 1-2.
  17. ^abNorman Davies,Europe: a history, các trang 109-122.
  18. ^abcdeNorman Davies,Europe: a history, các trang 125-132.
  19. ^abNorman Davies,Europe: a history, trang 98
  20. ^Euan Cameron,Early modern Europe: an Oxford history, trang 15
  21. ^Tom Holland,Persian Fire: The First World Empire and the Battle for the West, trang 371
  22. ^abNorman Davies,Europe: a history, các trang 102-104.
  23. ^abcNorman Davies,Europe: a history, các trang 142-153.
  24. ^abNorman Davies,Europe: a history, các trang 158-182.
  25. ^Hagen Schulze, Deborah Lucas Schneider,Germany: A New History, Harvard University Press, 2001, trang 1.ISBN 0-674-00545-7.
  26. ^abcNorman Davies,Europe: a history, các trang 189-203.
  27. ^Norman Davies,The Isles: a history, các trang 109-110.
  28. ^Stephen Williams, Gerard Friell, John Gerard Paul Friell,Theodosius: the empire at bay, trang 79
  29. ^abNorman Davies,Europe: a history, các trang 232-239.
  30. ^Noel Emmanuel Lenski,The Cambridge companion to the Age of Constantine, Tập 13, trang 379
  31. ^Noel Emmanuel Lenski,The Cambridge companion to the Age of Constantine, Tập 13, các trang 111-112.
  32. ^Stephen Williams, Gerard Friell, John Gerard Paul Friell,Theodosius: the empire at bay, trang 31
  33. ^abNorman Davies,Europe: a history, các trang 253-259.
  34. ^Stephen Williams, Gerard Friell, John Gerard Paul Friell,Theodosius: the empire at bay, trang 72
  35. ^Stephen Williams, Gerard Friell, John Gerard Paul Friell,The Rome that did not fall: the survival of the East in the fifth century, trang 87
  36. ^Stephen Williams, Gerard Friell, John Gerard Paul Friell,The Rome that did not fall: the survival of the East in the fifth century, trang 190
  37. ^Robert Browning,The Byzantine Empire, các trang 8-11.
  38. ^Norman Davies,Europe: a history, các trang 298-306.
  39. ^Norman Davies,Europe: a history, các trang 316-318.
  40. ^Norman Davies,Europe: a history, trang 246
  41. ^Norman Davies,Europe: a history, các trang 320-326.
  42. ^abcNorman Davies,Europe: a history, các trang 333-359.
  43. ^Hagen Schulze, Deborah Lucas Schneider,Germany: A New History, trang 13
  44. ^Norman Davies,Europe: a history, trang 400
  45. ^Norman Davies,Europe: a history, trang 40
  46. ^Norman Davies,Europe: a history, trang 408
  47. ^Norman Davies,Europe: a history, các trang 419-423.
  48. ^Norman Davies,Europe: a history, các trang 386-389.
  49. ^Norman Davies,Europe: a history, trang 448
  50. ^Euan Cameron,Early modern Europe: an Oxford history, trang XXVII
  51. ^Euan Cameron,Early modern Europe: an Oxford history, trang 300
  52. ^abEuan Cameron,Early modern Europe: an Oxford history, các trang 105-106.
  53. ^Dennis E. Showalter, William J. Astore,The early modern world, các trang XXI-XXII.
  54. ^Euan Cameron,Early modern Europe: an Oxford history, các trang 87-97.
  55. ^Hagen Schulze, Deborah Lucas Schneider,Germany: A New History, trang 52
  56. ^Euan Cameron,Early modern Europe: an Oxford history, trang XXV
  57. ^abcNorman Davies,Europe: a history, Oxford University Press, 1996.ISBN 0-19-820171-0. các trang 560-586.
  58. ^Euan Cameron,Early modern Europe: an Oxford history, các trang 63-67.
  59. ^Norman Davies,Europe: a history, các trang 471-476.
  60. ^abcdEuan Cameron,Early modern Europe: an Oxford history, các trang 221-228.
  61. ^David R. Stone,A military history of Russia: from Ivan the Terrible to the war in Chechnya, các trang 11-13.
  62. ^Euan Cameron,Early modern Europe: an Oxford history, trang 16
  63. ^Norman Davies,God's playground: a history of Poland in two volumes, các trang 347-348.
  64. ^abNorman Davies,Europe: a history, các trang 554-558.
  65. ^David R. Stone,A military history of Russia: from Ivan the Terrible to the war in Chechnya, trang 32
  66. ^Christopher Duffy,Siege Warfare: The fortress in the early modern world, 1494-1660, trang 174
  67. ^Dennis E. Showalter, William J. Astore,The early modern world, các trang 12-13.
  68. ^Norman Davies,Europe: a history, các trang 566-567.
  69. ^Euan Cameron,Early modern Europe: an Oxford history, trang 310
  70. ^abcdefgNorman Davies,Europe: a history, các trang 625-649.
  71. ^Robert Oresko, G. C. Gibbs, Hamish M. Scott,Royal and republican sovereignty in early modern Europe: essays in memory of Ragnhild Hatton, trang 190
  72. ^abChristopher M. Clark,Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, các trang 44-58.
  73. ^Christopher M. Clark,Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, các trang 86-93.
  74. ^abChristopher Duffy,Frederick the Great: A Military Life, các trang XVI-XXVI.
  75. ^Hamish M. Scott,The emergence of the Eastern powers, 1756-1775, trang 59
  76. ^abcdNorman Davies,Europe: a history, các trang 652-663.
  77. ^abHamish M. Scott,The birth of a great power system, 1740-1815, các trang 20-28.
  78. ^Theodor Schieder, Sabina Berkeley, Hamish M. Scott,Frederick the Great, trang 145
  79. ^Theodor Schieder, Sabina Berkeley, Hamish M. Scott,Frederick the Great, trang 91
  80. ^Dennis E. Showalter,The wars of Frederick the Great, trang 19
  81. ^abRudolf Vierhaus,Germany in the Age of Absolutism, các trang 136-140.
  82. ^Theodore Ropp,War in the Modern World, trang 46
  83. ^Dennis E. Showalter,The wars of Frederick the Great, trang 38
  84. ^Reed Browning,The War of the Austrian Succession, trang 238
  85. ^Reed Browning,The War of the Austrian Succession, trang 321
  86. ^David Fraser,Frederick the Great: King of Prussia, trang 201
  87. ^Gerhard Ritter,Frederick the Great: a historical profile, trang 92
  88. ^David Fraser,Frederick the Great: King of Prussia, các trang 366-377.
  89. ^Christopher M. Clark,Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, các trang 197-206.
  90. ^Christopher M. Clark,Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, các trang 206-211.
  91. ^Hamish M. Scott,The birth of a great power system, 1740-1815, trang 111
  92. ^abHamish M. Scott,The birth of a great power system, 1740-1815, các trang 33-39.
  93. ^Hamish M. Scott,The birth of a great power system, 1740-1815, trang 1
  94. ^Theodor Schieder, Sabina Berkeley, Hamish M. Scott,Frederick the Great, trang 137
  95. ^Gerhard Ritter,Frederick the Great: a historical profile, trang IX
  96. ^Norman Davies,God's playground: a history of Poland in two volumes, trang 389
  97. ^Hamish M. Scott,The emergence of the Eastern powers, 1756-1775, trang 38
  98. ^Euan Cameron,Early modern Europe: an Oxford history, trang 319
  99. ^Norman Davies,Europe: a history, trang 605
  100. ^Norman Davies,Europe: a history, trang 629
  101. ^abNorman Davies,Europe: a history, các trang 610-611.
  102. ^Norman Davies,Europe: a history, trang 695
  103. ^Norman Davies,Europe: a history, các trang 823-837.
  104. ^Norman Davies,Europe: a history, trang 811
  105. ^Norman Davies,Europe: a history, các trang 851-868.
  106. ^"List of countries by GDP (Official Exchange Rate) – CIA World Factbook". Cia.gov.Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2011.
  107. ^World Population Growth, 1950–2050. Population Reference Bureau.Lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2013 tạiWayback Machine
  108. ^"World Population Prospects: The 2006 Revision Population Database". UN — Department of Economic and Social Affairs.Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2008.
  109. ^"Rich world needs more foreign workers: reportLưu trữ ngày 20 tháng 1 năm 2016 tạiWayback Machine", FOXNews.com. ngày 2 tháng 12 năm 2008.
  110. ^"Regional Distribution of Christians: Christianity in Europe".Pew Research Center's Religion & Public Life Project. ngày 18 tháng 12 năm 2011.Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2015.
  111. ^"Global Christianity – A Report on the Size and Distribution of the World's Christian Population"(PDF). Pew Research Center.Lưu trữ(PDF) bản gốc ngày 1 tháng 8 năm 2019.
  112. ^Byrnes, Timothy A.; Katzenstein, Peter J. (2006).Religion in an Expanding Europe. Cambridge: Cambridge University Press. tr. 110.ISBN 978-0521676519.
  113. ^Hewitson, Mark; D'Auria, Matthew (2012).Europe in Crisis: Intellectuals and the European Idea, 1917–1957. New York; Oxford: Berghahn Books. tr. 243.ISBN 9780857457271.
  114. ^Nikodemos Anagnostopoulos, Archimandrite (2017).Orthodoxy and Islam. Taylor & Francis. tr. 16.ISBN 9781315297927.Christianity has undoubtedly shaped European identity, culture, destiny, and history.
  115. ^Pew Research Center (ngày 19 tháng 12 năm 2011)."Global Christianity – A Report on the Size and Distribution of the World's Christian Population".Pew Research Center's Religion & Public Life Project (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2023.
  116. ^abHackett, Conrad (ngày 29 tháng 11 năm 2017),"5 facts about the Muslim population in Europe",Pew Research Center,lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 8 năm 2018, truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2022
  117. ^abLipka, Michael (ngày 9 tháng 2 năm 2015)."The continuing decline of Europe's Jewish population" (bằng tiếng Anh). Pew Research Center. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2023.
  118. ^The Pittsburgh Press, 25 October 1915, p. 11
  119. ^Grosfeld, Irena; Rodnyansky, Alexander; Zhuravskaya, Ekaterina (tháng 8 năm 2013). "Persistent Antimarket Culture: A Legacy of the Pale of Settlement after the Holocaust".American Economic Journal: Economic Policy.5 (3).American Economic Association:189–226.doi:10.1257/pol.5.3.189.JSTOR 43189345.
  120. ^United States Holocaust Memorial Museum."Jewish Population of Europe in 1933: Population Data by Country".encyclopedia.ushmm.org (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2023.
  121. ^Sherwood, Harriet (ngày 25 tháng 10 năm 2020)."Europe's Jewish population has dropped 60% in last 50 years".The Guardian (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2023.
  122. ^"Member States of the European Union". Europa. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2024.
  123. ^"ONS Population Estimates". Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2025.

Liên kết ngoài

[sửa |sửa mã nguồn]
Wikimedia Commons có thêm hình ảnh và phương tiện vềChâu Âu.
Wikinews có tin tức ngoại ngữ liên quan đến bài: Thể loại:Châu Âu
Wikivoyage có cẩm nang du lịch vềChâu Âu.
Cổng thông tin:
Các quốc gia có chủ quyền và lãnh thổ phụ thuộc tạiChâu Âu
Đan Mạch
Phần Lan
Anh
Văn hoá
Lịch sử
Nhân khẩu
Kinh tế
Địa lý
Chính trị
Liên minh châu Âu
Khác
Châu Phi
Bắc Mỹ
  • Hoa Kỳ lục địa
  • Bắc
  • Bắc México
  • Vịnh Mexico
  • Tây Ấn
  • Vùng Caribe (Đại Antilles,Tiểu Antilles,Quần đảo Lucayan
  • Vùng Tây Caribe
  • Trung
  • Eo đất Panama
  • Bờ biển Mosquito
  • Đại Trung
  • Trung Bộ châu Mỹ
  • Aridoamerica
  • Oasisamerica
  • Ănglê
  • Pháp
  • Latinh (Tây Ban Nha)
  • Nam Mỹ
  • Nam
  • Bắc (Las Guyanas)
  • Tây
  • Tây Ấn
  • Patagonia
  • Pampas
  • Pantanal
  • Amazon
  • Altiplano
  • Andes
  • Cao nguyên Brasil
  • Nam Mỹ Caribe
  • Gran Chaco
  • Los LLanos
  • Hoang mạc Atacama
  • Cordillera Mỹ
  • Cerrado
  • Latinh (Tây Ban Nha)
  • Vành đai lửa Thái Bình Dương
  • Châu Á
  • Trung
  • Viễn Đông
  • Đông 
  • Đông Nam
  • Bắc
  • Nam
  • Tây
  • Châu Á-Thái Bình Dương
  • Quốc tế
    Quốc gia
    Địa lý
    Nghệ sĩ
    Khác
    Lấy từ “https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Châu_Âu&oldid=74667705
    Thể loại:
    Thể loại ẩn:

    [8]ページ先頭

    ©2009-2026 Movatter.jp