| Công chúa | |||||||
| 公主 | |||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Phồn thể | 公主 | ||||||
| Giản thể | 公主 | ||||||
| |||||||
| Tên tiếng Nhật | |||||||
| Kanji | 公主 | ||||||
| Kana | こうしゅ | ||||||
| Tên tiếng Triều Tiên | |||||||
| Hangul | 공주 | ||||||
| Hanja | 公主 | ||||||
| |||||||
Công chúa (chữ Hán: 公主) là tước hiệu được sử dụng bởi các quốc giaĐông Á chịu ảnh hưởng từ nền văn minhTrung Hoa, thường được phong cho con gái củaHoàng đế, tứcHoàng nữ (皇女) hoặc con gái củaQuốc vương, tứcVương nữ (王女). Tước hiệu này cũng được dùng để phong cho một số người phụ nữ có công trạng lớn với triều đình, hoặc một số vịnữ thần.
Đối với hầu hết triều đại, tước hiệu"Công chúa" phải được chính các Hoàng đế ra sắc chỉ gia phong, làm lễ ban tước hiệu hoặc đất phong chứ không phải một danh xưng tự có. Tuy nhiên ở hai triềunhà Thanh vànhà Nguyễn, rất phổ biến trường hợp gọi tước hiệu này kèm số thứ tự, dù phải sau khi làm lễ gia phong mới có tước hiệu chính thức.
Xuất xứ của từ"Công chúa" có liên hệ với việc làm chủ hôn. SáchCông Dương truyện thờiChiến Quốc có chép:「"Thiên tử gả con gái chochư hầu, tất phải do chư hầu cùng họ làm chủ hôn"」.[1] SáchSự vật khởi nguyên bổ túc thêm:「"Thiên tử gả con gái, từ Tần Hán đến nay, đều do Tam Công làm chủ, nên gọi Công chủ"」.[2] Từ ["Chủ"; 主], sangTiếng Việt, còn được phiên âm thành"Chúa", vì vậy từ Công chủ cũng được biến âm ở Việt chủ yếu thành [Công chúa].
Trong lịch sử, tước hiệu Công chúa chỉ dùng ở các quốc gia ảnh hưởng văn minhTrung Hoa làTrung Quốc,Việt Nam,Nhật Bản vàTriều Tiên. Tại những quốc gia này, tước hiệu Công chúa hầu hết là phong hiệu của cácHoàng nữ hoặcVương nữ, nên trong các tài liệu Trung Quốc và Việt Nam, từ Công chúa hiện diện với nghĩa phổ biến để chỉ con gái của các quân chủ.
Trong nhiều trường hợp chuyển ngữ cho các tước hiệu nữ giới khác, dựa trên các tài liệu tiếng Anh, những phụ nữ được chú kèm tước hiệuPrincess cũng được chuyển ngữ thành tước hiệu Công chúa. Điều này dẫn đến sự nhầm lẫn trong một số trường hợp các tước hiệu như trường hợp con gái củaTướng quân Nhật Bản, do ảnh hưởng của tiếng Anh khi dịch từHime (姫 (Cơ), Hime?), cũng được chuyển ngữ sai thànhCông chúa.
Tước hiệu"Công chúa" do chỉ là tước hiệu để gia phong, cho nên tùy theo địa phương hoặc triều đại có thể mang những ý nghĩa khác nhau. Thời kỳ cổ đại, tước hiệu này thường chỉ phong cho các Hoàng nữ, nhưng trong một số trường hợp đặc biệt thì các phụ nữ quý tộc không phải là Hoàng nữ, thậm chí thuộc tầng lớp thấp hơn, do tài năng hoặc công tích đặc biệt mà cũng được Hoàng đế phá lệ phong tước. Trong các điển tịch Trung Quốc, từ"Công chúa" thường được giản xưng là"Chủ" (主), việc các Công chúa lấy chồng được xưng làThích (適) hoặcHạ giá (下嫁), và người cưới Công chúa thì gọi hành động ấy làThượng (尚). Mỗi Công chúa thường có một phong hiệu để tránh gọi tên thật, kèm đất phong để làm đất ăn lộc[chú thích 1]. Thông thường, những phong hiệu này thuộc trong 3 dạng:
Các phong hiệu công chúa không nhất thiết cố định mà có thể được thay đổi. Như trường hợpThăng Bình công chúa sau được phong làTề Quốc công chúa. Thời nhà Tống, các công chúa khi vừa sinh ra là có danh hiệu theo lối mỹ tự, sau khi gả chồng thì được đổi từ mỹ tự thành tên tiểu quốc. Sang các đời Minh, Thanh thì lại đơn thuần là mỹ tự.
Cá biệt vào thời Hán, phong hiệu của công chúa có dùng theo họ mẹ. Phần"Nhị niên pháp lệnh" (二年律令) trong cuốn sáchTrương gia sơn Hán giản (張家山漢簡) được tìm thấy tại tại huyệnGiang Lăng, tỉnhHồ Bắc đã ghi lại như sau:「"Lý công chúa, Thân Đồ công chúa, Vinh công chúa, Phó chủ gia thừa trật các tam bách thạch"; 李公主申徒公主荣公主傅主家丞秩各三百石」, sau khi sửa sang ý nghĩa một chút thì có thể hiểu câu này đề cập đếnLý công chúa,Thân Đồ công chúa,Vinh công chúa vàPhó công chúa. Lý giải về các danh xưng này, có thuyết cho rằng Lý, Thân Đồ, Vinh và Phó đều làhọ của các vị công chúa ấy.[3] Lý giải này có cơ sở khi trong liệt truyện vềĐông Phương Sóc,Quán Đào công chúa Lưu Phiêu được gọi bằng danh xưng 「Đậu Thái chúa; 竇太主」 dưới thời cháu traiHán Vũ Đế, mà mẹ bà làhọ Đậu.[4]
Trướcthời Chu, hệ thống giai tầng xã hội chưa hoàn bị, các xưng hiệu chưa rõ ràng. Đến đời Chu thiên tử, các vị Thiên tử xưngVương, vốn họ Cơ, vì vậy con gái Chu vương được gọi làVương Cơ (王姬). Các con gái của các vị Vua nước chư hầu đều được gọi làNữ công tử, trong đó họ hoặc được gọi bằng khuê danh, nhưCông tử Khuynh con gái củaNguỵ Văn hầu, hoặc được gọi kết hợpthị vàtính tương tự các Vương Cơ, như các đích thêVương Cơ (thuộc vương tộc họ Cơ),Sái Cơ (thuộcSái thị họ Cơ),Từ Doanh (thuộcTừ thịhọ Doanh) củaTề Hoàn công,Triệu Trang Cơ conTấn Văn công (gọi theothị của chồng làTriệu Sóc). Tuy vậy, do ảnh hưởng điều này, phụ nữTrung Quốcthời Chu (thậm chí đến đầu đờiHán) thường được chép tên hiệu với từ Cơ ghép phía sau nhưLy Cơ,Triệu Cơ,Ngu Cơ... Đến thờiChiến Quốc, các chư hầu đều xưng Vương, con gái các Vua chư hầu đầu xưng là Công chúa, cũng có khi làQuân chúa (君主), riêng con gái Chu vương vẫn xưng là"Vương Cơ" đến khi triều Chu kết thúc. KhiTần diệt Chu, Vương thị bị phế bỏ, do đó danh hiệu Vương Cơ cũng không còn. Bấy giờ, do vương thấtnước Tần đều mang họ Doanh, nên con gái trong vương thất được gọi làTần Doanh, những vị có thuỵ hiệu được gọi tên ghép hiệu với chữ Doanh nhưHoài Doanh,Văn Doanh... Sau khiTần Thủy Hoàng thống nhấtTrung Quốc, phong hiệu cho cácHoàng nữ vẫn chưa được ghi chép rõ. ThờiBắc Tống,Tư Mã Quang có chép rằng các con gái củaTần Thủy Hoàng có được gọi là Công chúa.[5]
Sang đầu thờiTây Hán, chế độ sách phong, tấn phong và đãi ngộ cho con gái và cháu gáiHoàng đế được hình thành. Theo đó, cácHoàng nữ xưng là Công chúa, con gái các Vương (gọi làVương nữ) thì xưng làÔng chúa hoặcVương chúa (王主).[6] Đồng thời, bởi vì tư liệu lịch sử khuyết thiếu, cảnh ngộ của công chúa triều đầu Tây Hán cho đến nay vẫn là vấn đề khó lý giải. Công chúa đầu tiên được sử liệu ghi chép làLỗ Nguyên công chúa, con gái củaHoàng đế khai quốcnhà HánLưu Bang. Tuy nhiên,"Lỗ Nguyên" bị tranh cãi làthụy hiệu được đặt sau này và không phải phong hiệu khi ấy của bà. ĐờiHán Văn Đế, từ khi Trưởng nữ Lưu Phiêu là người đầu tiên chính thức được phong hiệu Công chúa, thì danh xưng Công chúa bắt đầu có quy phạm, đều theo kiễu 「Mỗ mỗ công chúa; 某某公主」. NóiMỗ mỗ, tức làMỗ mỗ huyện, các Công chúa đều lấy tên thực ấp mà gọi, như Lưu Phiêu làQuán Đào công chúa, theo thực ấp của Công chúa là huyệnQuán Đào. Ngoài ra, khi sắc phong thì Lưu Phiêu được gọi làTrưởng công chúa (長公主; giản xưngTrưởng chúa), khi sang thờiHán Vũ Đế trở thànhĐại Trưởng công chúa (大長公主; giản xưngĐại chúa). Căn cứ theoHậu Hán thư -Hoàng hậu kỷ có viết:「"Hán chế, Hoàng nữ tắc phong Huyện công chúa, nghi phục ngang Liệt hầu. Những người được coi trọng, gia hiệu Trưởng công chúa, nghi phục ngang Phiên vương"」.[7] Lúc này, con gái cả do Trung cung sinh ra của Hoàng đế, theo lệ sẽ được phongTrưởng công chúa, địa vị ngang với Chư hầu Vương. Ngoài ra, Hoàng đế cũng có thể gia phong tước vị Trưởng công chúa cho chị mình, nhưHán Vũ Đế gia phongBình Dương công chúa, hayHán Chiêu Đế phong chị mình phong hiệu làCái Trưởng công chúa (蓋長公主). Khi các Công chúa được gả cho bậctước Hầu, phong hiệu của Công chúa đó sẽ đổi theo phong hiệu của chồng. NhưDương Tín công chúa, con gái củaHán Cảnh Đế, khi được gả cho Bình Dương hầu Tào Thì, phong hiệu của bà được cải thànhBình Dương công chúa (平暘公主). Do tước hiệu Công chúa không có tính thế tập, nên vẫn xảy ra trường hợp 2 công chúa có cùng phong hiệu (ở những thời điểm khác nhau), như trường hợp phong hiệuQuán Đào công chúa từng được phong cho Lưu Phiêu (con gáiHán Văn Đế) và Lưu Thi (con gáiHán Tuyên Đế). Hoặc có trường hợp phong hiệu gây nhầm lẫn với liệt hầu khác như Dương Tín công chúa với Dương Tín hầu. Bên cạnh đó, Hậu Hán thư cũng ghi, con trai của của Hoàng nữ được phong Công chúa, đều tập phong tước của mẹ liệt vào tước Hầu.
KhiVương Mãng lên ngôi và lập ranhà Tân, bởi vì không muốn dấu tích nhà Hán còn hiện hữu nên đã phế bỏ nhiều thể chế triều Hán, bao gồm cả tước hiệu"Công chúa" cho Hoàng nữ mà đổi thành tước hiệuThất chúa (室主), cải phong hiệu của con gái mình từĐịnh An Thái hậu của nhà Hán thànhHoàng Hoàng Thất chúa (黃皇室主). Sử liệu của ghi chép lại tước hiệu của hai con gái Vương Mãng làVương Diệp vàVương Tiệp được phong lần lượt làMục Tu nhiệm (睦脩任) vàMục Đãi nhiệm (睦逮任).[8] Đến đờiĐông Hán, tước hiệu Công chúa được phục hồi, nhưng lại bỏ tước hiệuÔng chúa của vương nữ. Phân định các bậc Công chúa được phân thànhHuyện công chúa (縣公主; gọi tắt làHuyện chúa; 縣主), dành cho Hoàng nữ; còn tước vịHương công chúa (鄉公主; gọi tắt làHương chúa; 鄉主) vàĐình công chúa (縣公主; gọi tắt làĐình chúa; 亭主), đều phong cho các Vương nữ. Căn cứ theo ghi chú củaThái Ung rằng:「"Đế nữ phong Công chúa, vị ngang Liệt hầu. Tỷ muội phong Trưởng công chúa, vị ngang Chư hầu Vương"」, lúc này danh vị Trưởng công chúa đã định hình là gia phong cho chị hoặc em gái Hoàng đế.[9]

ThờiTam Quốc, chiến tranh loạn lạc, sử liệu thất lạc, cuốnTam quốc chí củaTrần Thọ vốn dĩ chỉ ghi thông tin nhân vật, tuyệt nhiên không có điển chế hay hiến chương, vì thế chỉ có thể phỏng đoán thể chế phong hiệu các Công chúa vẫn phỏng theo nhà Hán.
Triều đìnhTào Ngụy vẫn dùng phong hiệu và quy tắc cũ thời Hán; ví dụ nhưĐông Hương công chúa (東鄉公主) con gái củaTào Ngụy Văn Đế Tào Phi; hay có con gái củaTào Ngụy Minh Đế Tào Duệ làTào Thục (曹淑) có thụy hiệuBình Nguyên Ý công chúa (平原懿公主), hay nhưĐức Dương Hương chúa (德陽鄉主) - em gáiTào Chân, vợ củaHạ Hầu Thượng; xem phong hiệu thì toàn bộ theo như cũ là dựa vào tên đất phong, tên huyện mà lấy làm phong hiệu. ỞĐông Ngô, lại thấy tình trạng các Hoàng nữ lấy họ chồng mà gọi. Như hai con gái củaTôn Quyền làTôn Lỗ Ban cùngTôn Lỗ Dục (孫魯育) lần lượt làToàn công chúa (全公主) vàChu công chúa (朱公主). Nhưng các Hoàng nữ thời Tam Quốc cũng không phải là đều được phong, nhưTào Tiết là em gái Tào Phi, Kế hậu củaHán Hiến Đế, khi Hiến Đế bị giáng làmSơn Dương công, bà chỉ làSơn Dương công phu nhân (山陽公夫人) mà không có gia hiệu nào khác. Hai người chị của Tôn Quyền, cũng như em gái útTôn phu nhân, cũng không hề thấy ghi lại được gia phong huy hiệu Công chúa. NhàThục Hán củaHán Chiêu Liệt Đế Lưu Bị không có ghi lại phong con gái làm Công chúa.
Sang đến đờiNhà Tấn, Đế nữ được phong hiệu theo quận tên quận, tức làQuận công chúa, gọi tắt làQuận chúa, phong hiệu các Vương nữ gọi làHuyện chúa. Lúc này"Huyện chúa" đã là danh xưng cố định, không được dùng xưng hiệu"Huyện công chúa" nữa.[10]
ThờiNam-Bắc triều, Công chúa là tước hiệu dành choHoàng nữ, tuy nhiên trên thực tế vẫn được phong cho các nữ giới khác trong dòng tông thất, nhưLang Tà công chúa (琅邪公主),Lan Lăng công chúa (兰陵公主).Nhà Nam Trần cũng có tông thất phong Công chúa, nhưTín Nghĩa công chúa (信義公主). Phong hiệu của các Công chúa lấy theo tên quận hoặc huyện được phong.

ThờiNhà Đường, tước hiệu Công chúa, ngoài các Hoàng nữ, còn được phong cho các nữ nhân trong Tông Thất, thậm chí các con gái của cácPhò mã hoặc của các đại thần cũng được phong tước hiệu Công chúa, đó như là một danh hiệu phong tặng không còn bị gò bó chỉ dành cho Hoàng nữ. Đây dường như là do nhà Đường áp dụng chính sáchHòa thân, dùng tước Công chúa để nâng địa vị của những người được chọn để gả cho các Phiên vương - đa phần là được chọn từ các con gái Tông Thất vậy.[11]
Các bậc Công chúa cũng quy định rõ,[12][13][14] mà về sau là căn bản cho các triều đại tiếp theo:
Tuy nhiên, trừ trường hợp được phong hiệu Công chúa chính thức, từ bậc Quận chúa trở xuống không được xưng hiệu là"Quận công chúa","Huyện công chúa" như các đời trước. Thời Đường cũng bắt đầu chuộng việc gia phong vị hiệu Công chúa theo tên Tiểu quốc, với trường hợp đầu tiên làĐại Quốc công chúa (代國公主), con gái củaĐường Duệ Tông. Sau đó rất nhiều con gái của Duệ Tông cũng được phong, nhưTức Quốc công chúa,Lương Quốc công chúa,Tiết Quốc công chúa,... Việc gia phong thành"xx Quốc" được quy định cao hơn phong hiệu khác. SáchCựu Đường thư có nói qua trường hợp truy phong tước hiệu choĐồng Xương Công chúa như sau:「"Kỷ Dậu, Đồng Xương công chúa hoăng, truy phong Vệ Quốc công chúa, thụy là Văn Ý"」,[note 1] như vậy có thể thấy vào Trung kỳ triều Đường về sau đã xem việc dùng Quốc hiệu trong phong hiệu của"Công chúa" sẽ có vị thế hơn phong hiệu cấp quận lẫn mỹ tự.
ThờiTống, ngoài áp dụng phong hiệu từthời Đường, còn bổ sung thêm bậcLưỡng Quốc Đại Trưởng công chúa (兩國大長公主) dành cho những nữ giới vai trò là Cô tổ mẫu của Hoàng đế. Ban đầu, các Hoàng nữ khi vừa ra đời sẽ được ban hiệu theo kiểu mỹ danh kèm danh hiệu Công chúa, khi kết hôn đều sẽ đổi thành tên Tiểu quốc, hơn nữa giữa các danh hiệu Tiểu quốc lại có trên dưới khác nhau. Đến đờiTống Huy Tông phỏng theo chế độnhà Chu, cải tước hiệu Công chúa thànhĐế cơ (帝姬). Các bậc dưới cũng được cải lại như Quận chúa thànhTông cơ (宗姬), Huyện chúa thànhTộc cơ (族姬). Các tước dành choMệnh phụ như Quận quân sửa thànhThục nhân (淑人),Thạc nhân (碩人),Lệnh nhân (令人),Cung nhân (恭人); còn Huyện quân sửa thànhThất nhân (室人),An nhân (安人),Nhụ nhân (孺人); sau đóThất nhân lại sửa tiếp thànhNghi nhân (宜人). KhiBắc Tống diệt vong,Nam Tống phục hưng, do thấy chữCơ (姬) cùng âm với chữCơ (飢) mang ý nghĩa không may mắn,Tống Cao Tông quyết định cải tước hiệu Công chúa, Quận chúa, huyện chúa như cũ. Tuy nhiên, các phong hiệuThục nhân,Lệnh nhân này nọ đều giữ lại, trở thành danh hiệu cho các Ngoại mệnh phụ.[15]
Sử liệu không ghi rõnhà Liêu quy định tước hiệu Công chúa như thế nào. Các con gái Hoàng đế Liêu có thể được ghi dưới cả danh hiệu Công chúa, Quận chúa và Huyện chúa, thậm chí có chuyện CÔng chúa giáng phong Quận chúa hay Huyện chúa.Nhà Kim quy định rõ hơn, Hoàng nữ được phong"Công chúa", Vương nữ được phong"Huyện chúa". Tước"Công chúa" tuy được quy định là tên huyện, có khoảng 30 tên,[16] nhưng trong Kim sử xuất hiện rất nhiều Công chúa vẫn là 「"X Quốc công chúa"」 như các đời Đường và Tống trước đó.[17] Tuy phong hiệu của Huyện chúa cũng được lấy tên huyện để gia phong, nhưng bậc Huyện chúa không được xem như là"Huyện công chúa".[18] Đếnnhà Nguyên thì cácHoàng nữ,Vương nữ đều xưng là Công chúa,[19] tên gọi có theo kiểu tên Quốc hoặc là phiên âm chữ Hán của tên Mông Cổ.
Sang thời đạinhà Minh, theo điển chế màMinh sử quy định:[20]
Lúc này các Hoàng nữ cùng Tông nữ đều không hưởng theo trật phẩm, mà có định lệ riêng. Các tước Công chúa khi sách phong đều nhận Kim sách, lộc 2.000 thạch, chồng được gia phongPhò mã Đô úy. Từ Quận chúa trở xuống ăn lộc 800 thạch giảm dần, khi sách phong không nhận Kim sách, chỉ nhận Cáo phong, chồng đều gia phongNghi tân.
ThờiHậu Kim, khiNỗ Nhĩ Cáp Xích khai quốc, triều nghi còn đơn giản, các con gái và cháu gái Đại hãn đều xưng làCách cách (chữ Mãn:ᡤᡝᡤᡝ, Gégé,格格). KhiHoàng Thái Cực lên ngôi Hoàng đế, cải quốc hiệu thànhĐại Thanh, đã phỏng theo người Hán mà quy định nhiều kiểu theo người Hán, nhưng phần lớn vẫn là Mãn hoặc Mãn-Hán song ngữ, lúc này Hoàng nữ vẫn giữ xưng hiệu Cách cách chung với các con gái Thân vương cùng Quận vương khác.
Sau khi quân Thanh chiếm được Trung Quốc, nămThuận Trị thứ 17 (1660), nhà Thanh ra chế định thứ bậc phong hiệu của các Hoàng nữ như sau:

Đối với các Tông thất nữ quyến, lại phân thành các bậc:
Trên thực tế, vẫn có những trường hợp được nâng bậc lên mà không phải xét đến xuất thân đã định sẵng. Ví dụ nhưCố Luân Hòa Hiếu Công chúa vốn là con củaĐôn phi Uông thị, đáng lẽ nên chỉ là bậc ["Hòa Thạc công chúa"], nhưng do đượcCàn Long Đế yêu quý mà vẫn phá lệ nâng lên bậc ["Cố Luân công chúa"], hưởng lương bổng và đãi ngộ cũng y hệt như vậy. Hoặc như có rất nhiều người chỉ là con gái Thân vương vẫn được phong làm"Công chúa" dưới danh nghĩa con gái nuôi (Dưỡng nữ; 養女).
Căn cứ theo ý chỉ năm Thuận Trị thứ 17 thì điều này đã có quy định từ lâu:「"Tông Thất nữ từ nhỏ được nuôi trong cung, khi hạ giá cũng gọi Hòa Thạc công chúa"; 如中共撫宗室女下嫁,亦封和碩公主」. Vì thế, kể từThuận Trị Đế bắt đầu, các đời Hoàng đế triều Thanh thường xuyên có Dưỡng nữ là con gái anh em trai là Thân vương, mà ví dụ kinh điển nhất làVinh Thọ Cố Luân Công chúa - Trưởng nữ của Cung thân vươngDịch Hân. Theo thân phận của cha, Vinh Thọ chỉ có thể thụ phong Quận chúa, nhưng vì đượcTừ An Thái hậu vàTừ Hi Thái hậu thu làm Dưỡng nữ, còn bỏ qua lệ thường là Dưỡng nữ chỉ thụ phong"Hòa Thạc công chúa" mà phong Vinh Thọ lên bậc"Cố Luân công chúa" - con gái của Hoàng hậu. Bản thân Vinh Thọ cũng chính là vị Công chúa cuối cùng được ghi nhận của nhà Thanh.
Mặc dù chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa, nhưng trong lịch sửNhật Bản vàLưu Cầu lại không sử dụng tước hiệu Công chúa.
Từthời Heian, sau khi áp dụng"Luật lệnh" thì ngoài việc con gái củaThiên hoàng được xưng làmHoàng nữ, thì khi đến thời điểm thích hợp họ đều được phong tước hiệuNội thân vương (内親王; Naishinnō), đây được xem là tương đương tước hiệu Công chúa. Các cháu gái trực hệ ngoài 3 đời được phong tước hiệuNữ vương (女王; Nyoō), tương đương tước hiệuQuận chúa.
Tuy nhiên, xưng hiệu"Công chúa" (được phiên âm Nhật thànhKōshu) đôi khi vẫn được các Hoàng nữ và Nội thân vương sử dụng như mộtĐường danh (唐名; とうめい), có thể hiểu là một dạng"Nhã xưng" trong văn hóa Nhật Bản. Như ởthời kỳ Asuka, Hoàng nữ củaThiên hoàng Kimmei,Anahobe no Hashihito được xưng danh hiệu làKhổng Bộ Gian Nhân Công chúa (孔部間人公主).[22] Hoặc ởthời kỳ Heian,Hữu Trí Tử Nội thân vương, Hoàng nữ củaThiên hoàng Saga, được xưng hiệu làTrai Viện Công chúa (斎院公主).[23]
TạiVương quốc Lưu Cầu, do vốn là một phiên quốc của triều Minh và triều Thanh củaTrung Quốc, con gái của các Quốc vương Lưu Cầu chỉ sử dụng tước cao nhất làÔng chúa, không sử dụng đến tước hiệu Công chúa.
Trong tài liệu tiếngTriều Tiên hiện đại, tước hiệu"Công chúa" được viết là [공주] và được phiên âm thànhGongju hoặcKongchu. Chịu ảnh hưởng văn hóa Hán từ sớm, trong lịch sử, danh hiệu này được ghi nhận đầu tiên từ đầu thờiTam Quốc, nhưLạc Lãng công chúa (낙랑공주) củanước Lạc Lãng,Bình Cương công chúa (평강공주) củaCao Câu Ly hayThiện Hoa công chúa (선화공주) củaTân La. Sử liệu cũng ghi nhận các vị Vương nữ của Vương quốcTân La được phong các tước hiệu"Công chúa", ngoài ra còn cóTrạch chúa (택주) hoặcĐiện chúa (전주). Tuy nhiên, sau khi kết hôn, các Vương nữ đều xưng làPhu nhân.
Vào thời đạinhà Triều Tiên Lý thị, do phân biệt địa vị Đích-thứ mà các Vương nữ doVương phi sinh ra được gọi thànhĐích nữ (嫡女) và được phong làm Công chúa, nhưTrinh Minh Công chúa - con gái củaTriều Tiên Tuyên Tổ. Còn con gái do Hậu cung ngự thiếp sinh ra đều được phong tước hiệuÔng chúa. Trong lịch sử Triều Tiên, chỉ duy nhất một vị vương nữ không phải Vương phi sinh ra, nhưng vẫn là Công chúa, chính làNghĩa Thuận công chúa (의순공주), người được phái đi với thân phậnHòa thân, làm một Thứ Chính thất của Duệ Trung Thân vươngĐa Nhĩ Cổn.[note 2]
Trong lịch sửViệt Nam, phong hiệu Công chúa chưa được nghiên cứu tường tận và không có tư liệu lịch sử rõ ràng. TheoĐại Việt sử ký toàn thư, ở thời kìHùng Vương vàÂu Lạc,Vương nữ được gọi làMị Nương (媚娘), dù còn mang nhiều sắc màu truyền thuyết nhưng được xem là ghi chép sớm nhất về phong hiệu con gái Vua chúa ở Việt Nam.
Sau khi thiết lập triều đình theo thể chế Trung Hoa, các triều đạiNgô,Đinh,Tiền Lê, đều ghi nhận điển lễ về việc phong các Hoàng nữ tước hiệu"Công chúa", nhưPhất Kim công chúa của nhà Đinh hoặcPhất Ngân công chúa của nhà Tiền Lê. Sang thời đạinhà Lý, khi chế độ đủ đầy phỏng theo chế độ Trung Hoa, phong hiệu phần nhiều đều phỏng theo chế độnhà Đường vànhà Tống, thì ở Việt Nam có các bậc:Trưởng công chúa cùng Công chúa, cá biệt trên bậc Trưởng công chúa thì lại có bậcThái trưởng công chúa (太長公主), thay chữ"Đại" thành chữ"Thái" và từ đó tạo thành nét riêng biệt. Theo như sách Toàn thư ghi nhận,Thiên Ninh công chúa vào thờiTrần Nghệ Tông được phong làm"Lạng Quốc Thái trưởng công chúa" (諒國太長公主), cho thấy chắc chắn sự mô phỏng chế độ phong hiệu hoàng tộc theo lối Trung Hoa của triều đại Lý-Trần nhưng vẫn có nét riêng biệt.
Ngoài ra, lịch sử các triều đại Việt Nam ghi nhận một số lượng đáng kể danh hiệu công chúa được xưng tụng cho các nữ giới được thờ phụng như những vị thần, nhưĐông Triều công chúa (lịch sử) hayLiễu Hạnh công chúa (thần thoại)...
Các tài liệu Việt ngữ, khi chuyển ngữ danh xưng tương đương 「Princess」 trongtiếng Anh là 「Công chúa」. Trên thực tế, chúng chỉ có một phần ý nghĩa tương đương.
Trong các ngôn ngữ châu Âu, danh xưng tương đương"Princess" đều là dạng nữ (giống cái), có nguồn gốc từ danh xưngPrinceps (dạng nữ:Principissa) trongtiếng Latin, có nghĩa là"Người đầu tiên, quan trọng nhất, cao quý nhất".[24][25] Danh hiệu"Princeps" này có nguồn gốc từ thờiCộng hòa La Mã, khi mà những thành viên hàng đầu củaViện nguyên lão La Mã sẽ được chỉ định làPrinceps senatus (số nhiều:Principes Senatus), những người có quyền ưu tiên được phát biểu đầu tiên trong các cuộc tranh luận tại Viện Nguyên lão.[26] Đến thời kỳAugustus, ông tiếp tục sử dụng dạng biến thể 「Principatus」 như một tước hiệu không chính thức cho ngôi vịHoàng đế La Mã của bản thân thay thế cho các danh hiệu 「Rex」 hay 「Dictator」 để tranh xung đột với Viện Nguyên lão.[27] Ông cũng đồng thời chỉ định tước hiệu 「Princeps iuventutis」, có nghĩa"Người đầu tiên trong số những người trẻ tuổi", ám chỉ đến những người kế vị đủ tư cách của ông để phong cho các cháu mình làGaius vàLucius.[28] Những người kế vị này sẽ được trao các lãnh địa được gọi là 「"Principatus"; tạm dịch"Thân vương quốc"」 để thực hành cai trị trước khi kế vị cai trị cả Đế chế. Danh hiệu này đượcngười Visigoth tiếp tục sử dụng. Tiếp đó trongChế độ quân chủ Visigoth, vị quân chủ ("Rex") được bầu cử lên bởi cácPrinceps, những lãnh chúa cai trị các lãnh địa Thân vương quốc có quyền bầu cử. Truyền thống này được kế thừa bởiĐế quốc La Mã Thần thánh, khi mà cácTuyển đế hầu ("Princeps Elector") bầu raHoàng đế (Imperator) của Đế quốc.
Mặc dù không có truyền thống 「"Trọng nam khinh nữ"」 nghiêm trọng như ởChâu Á, trên thực tế hiếm có các nữ giới mang tư cách"Principissa" có đủ chủ quyền như nam giới. Một số ít trường hợp ghi nhận nhưConstance Hauteville cai trịThân vương quốc Antioch (Principatus Antiochenus) vào thế kỷ XII với tư cách một nữ chủ. Vì vậy, hầu hết các"Principissa" đều được biết với danh nghĩa con cháu của Quân chủ (tứcHoàng nữ hayVương nữ), hoặc người phối ngẫu của cácPrinceps (tương ứng vớiVương phi). Nhiều tài liệu tiếng Việt thường không phân biệt rõ giữa hai chuyện này mà chuyển ngữ tất cả thành 「Công chúa」.
Trongtiếng Anh, danh vị tương đương của Công chúa là 「Princess」, tuy nhiên tước vị này cũng vừa để gọi con gái Quân chủ, vừa dùng để gọi hôn phối của"Prince", được dịch đại khái thành Vương tử phi, Vương tức hayVương phi. Hai dạng này được tiếng Anh gọi phân biệt là 「Princess by blood」 đế nói đến các"Princess" ngay từ khi sinh ra đã là con cháu Vua chúa (tức Công chúa, Quận chúa), và 「Princess by marriage」 để nói đến các"Princess" thông qua hôn nhân (tức Vương phi, Vương tức, Phu nhân).
Vào thời gian đầu, con gái của Quân chủ nước Anh khi chưa thành hôn chỉ được gọi theo kiểu 「Lady + Tên Thánh」, nhưMary I của Anh cùngElizabeth I của Anh ban đầu chỉ được gọi là 「Lady Mary」 và 「Lady Elizabeth」 mà thôi.[29] Sau thờiGeorge I của Anh, chế độ Vương thất Anh mới bắt đầu dùng"Princess" như một biệt xưng để gọi các con gái hoặc cháu gái của Quân chủ, kèm theo tôn xưngRoyal Highness vàHighness để xác nhận địa vị của thành viên vương thất. Trước đó, tước vị"Princess" trong thời gian dài thường để gọi vợ của một Prince hơn, ví dụPrincess of Wales là vợ củaThân vương xứ Wales vậy.[30] Vương thất Anh từ thờiCharles I của Anh bắt đầu thiết lập danh hiệu 「Princess Royal」 để phong cho con gái lớn nhất trong gia đình,[31] danh vị này tương đương vớiTrưởng công chúa - nếu xét vào ý nghĩa lúc đầu thời Tây Hán. Đối với các gia đình hoàng gia cai trị một Đế quốc, nhưnhà Habsburg củaĐế quốc Áo vànhà Romanov củaĐế quốc Nga, họ đều thiết lập các tước vị riêng cho con gái quân chủ, là"Archduchess" của hoàng gia Habsburg và"Velikaya Knyagnya" (Великая Княгиня) của hoàng gia Romanov.
Trong tiếng Anh, bởi vì"Princess" cũng là tước hiệu dùng để chỉ các ngườivợ của một vị"Prince", thậm chí trong tình huống phức tạp hơn thì nó trở thành một tước hiệu quý tộc độc lập như Vương phi xứ Wales, tức 「Princess of Wales」 hay Vương phi xứ Monaco, tức 「Princess of Monaco」. Và để tránh lẫn lộn, ở hầu hết các nền quân chủ ảnh hưởng tiếng Anh, các vị"Princess by marriage" sẽkhông có tiền tố"Princess" ở đằng trước tên Thánh, họ sẽ được gọi thẳng theo thể"nữ hóa" tước vị quý tộc của chồng mình. Nếu trong trường hợp vị"Prince" ấy không có tước hiệu quý tộc, thì người vợ sẽ được gọi theo tên của chồng. Nếu như"Prince" trở thành tước vị độc lập (nhưThân vương xứ Wales), thì bắt buộc phải gọi kèm theo tên lãnh địa mà tước vị ấy sở hữu.
Có thể thấy những"Princess by marriage" trong cách gọi chính thức đều không được gọi tên riêng mà mình vốn cố, cho dù có thì cũng không có"Princes" đi trước tên Thánh. Những người vẫn được sử dụng"Princess" thông thường là do bản thân người đó sinh ra đã là con gái Vua chúa của vương triều ngoại quốc. Trường hợp này cóMarina, Bà Công tước xứ Kent khi con trai bà cưới vợ. Lúc này bà đã là 「"Bà Công tước góa phụ của Prince George, Công tước xứ Kent"」, nhưng bà vẫn tiếp tục sử dụng tước vị"The Duchess of Kent" dù chồng đã qua đời. Sau khi con trai bà cưới vợ, bà không thể xưng như vậy nữa, nhưng bà vẫn không muốn thêm thành tố biểu thị tình trạng góa phụ là"Dowager" vào tước hiệu của mình, nên cuối cùng Marina đã hỏi Nữ vương Elizabeth II cho phép mình dùng kính xưng"Princess" trước tên Thánh kèm tước hiệu. Bởi vì bản thân bà Marina là"Vương tôn nữ" thuộc vương thất Hy Lạp - Đan Mạch, nên Nữ vương đã đồng ý. Thế là bà Marina được biết đến là 「Her Royal Highness Princess Marina, Duchess of Kent」.
{{Chú thích web}}:Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|date= và|archive-date= (trợ giúp)