Cách mạng tháng Tám, còn gọi làTổng khởi nghĩa tháng Tám, là sự kiệnViệt Minh tiến hành khởi nghĩa chốngĐế quốc Nhật Bản, buộcĐế quốc Việt Nam bàn giao chính quyền trung ương và các địa phương và buộcBảo Đại phảithoái vị trongtháng 8 năm1945.
Việc chuyển giao quyền lực được Chính phủĐế quốc Việt Nam thực hiện cơ bản tronghòa bình, ít có đụng độ dù xảy ra tranh chấp với lực lượng Nhật, Đại Việt,Hòa Hảo,... ở một số địa phương. Trừ một số địa phươngtỉnh lỵ nhưHải Ninh (nay thuộcQuảng Ninh),Hà Giang,Lào Cai,Lai Châu,Vĩnh Yên nằm trong tay các đảng phái khác nhưĐại Việt,Việt Nam Quốc dân Đảng,... và quânTưởng Giới Thạch (Trung Quốc); chỉ trong 10 ngày, cơ sở chính quyền Việt Minh đã được thiết lập trên toàn bộ cáctỉnh lỵ trên khắp Việt Nam (muộn nhất ngày28 tháng 8:Đồng Nai Thượng,Hà Tiên), hầu hết địa phương trong cả nước. Một số nơi có khó khăn hơn nhưHà Giang, quânTưởng Giới Thạch bức rút quân Nhật (ngày29 tháng 8) và giải phóng luôn tỉnh này,Cao Bằng (giành chính quyền vào ngày21 tháng 8 nhưng sau đó quân Tưởng tràn vào), Lạng Sơn (giành chính quyền sau đó quânTưởng Giới Thạch tràn vào, tháng 10 mới thành lập chính quyền cách mạng),Vĩnh Yên (Quốc dân Đảng nắm giữ),Hải Ninh –Móng Cái (Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội nắm), một số địa bàn ởQuảng Ninh (doĐại Việt,Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội nắm), ởĐà Lạt (quân Nhật còn kháng cự mạnh đến ngày3 tháng 10)...
Kết quả của cuộccách mạng là ngày2 tháng 9 năm1945,Hồ Chí Minh đọc bảnTuyên ngôn Độc lập Việt Nam, khai sinh ra nướcViệt Nam Dân chủ Cộng hòa, đồng thời cũng chấm dứtchế độ quân chủ chuyên chế tồn tại suốt 2.000 năm tronglịch sử Việt Nam. Sau đó,Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức Tổng tuyển cử năm 1946 trên phạm vi cả nước.
Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ,phe Trục gồmĐức,Ý,Nhật đánh lạiphe Đồng Minh gồmAnh,Pháp,Liên Xô. Sau cóMỹ và nhiều nước nữa tham chiến (trong đó có Việt Minh, Pathet Lào, Issarak Campuchia tại Đông Dương).
Vàotháng 9 năm1940, ngay giữaChiến tranh thế giới thứ hai,Chính phủ Vichy củaPháp, vì đã đầu hàngĐức Quốc xã, đồng ý cho quân độiNhật Bản đổ bộ vàoBắc Kỳ. Ngay lập tức, quân đội Nhật dùng đó làm bàn đạp ảnh hưởng đến các chiến trườngTrung Quốc vàĐông Nam Á. Trên thực tế, đây là một điểm quan trọng trongchiến lược quân sự của Nhật nhằm thống trị toàn bộĐông Nam Á. Trong khi chờ đợi cuộc đại thắng củaĐức tạichâu Âu,Nhật tạm thời duy trì hệ thống bảo hộ của Pháp tạiĐông Dương. (Trong những trận đánh lớn hồi đó có thể kể đến việchải quân vàkhông quânNhật xuất phát từCam Ranh vàSài Gòn tiêu diệtHạm đội Viễn Đông củaAnh).
Thời gian này,Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo nhiều cuộc khởi nghĩa chốngthực dân Pháp, nhưKhởi nghĩa Nam Kỳ,Khởi nghĩa Bắc Sơn,Xô-viết Nghệ Tĩnh nhưng đều thất bại. Những binh lính tham gia chiến tranh Thái Lan thực hiện cuộcBinh biến Đô Lương cũng thất bại.
Vàotháng 5 năm1941, các lực lượng ái quốc, trong đó nòng cốt làĐảng Cộng sản Đông Dương, doHồ Chí Minh dẫn đầu, tập hợp tại một địa điểm gần biên giới Việt–Trung, tham gia mộttổ chức đứng về phíaĐồng Minh giành độc lập choViệt Nam, gọi làViệt Nam Độc lập Đồng minh, thường được gọi tắt là Việt Minh. Tổ chức này xây dựng một chiến khu do họ kiểm soát ởbiên giới Việt–Trung.
Trong bài thơLịch sử nước ta viết năm 1941 để cổ vũ nhân dân, Hồ Chí Minh đã phân tích tình hình:[1]
| “ | Bây giờ Pháp mất nước rồi, Không đủ sức, không đủ người trị ta. Giặc Nhật Bản thì mới qua, Cái nền thống trị chưa ra mối mành. Lại cùng Tàu, Mỹ, Hà, Anh, Khắp nơi có cuộc chiến tranh rầy rà. Ấy là nhịp tốt cho ta, Nổi lên khôi phục nước nhà tổ tông. | ” |
Phần niên biểu bài thơ kết thúc là mốc:"1945 - Việt Nam độc lập", đây được coi là một lời "tiên tri" chính xác kỳ lạ. Vì bài thơ viết năm 1941, vậy mà Hồ Chí Minh đã dự đoán chính xác Việt Nam sẽ giành được độc lập vào năm 1945 (Cách mạng Tháng Tám diễn ra vào đúng năm 1945).
Ngày22 tháng 12 năm1944,Võ Nguyên Giáp thành lập mộttrung đội 34 người mang tênViệt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (một trong những tiền thân củaQuân đội Nhân dân Việt Nam), ngay sau khi thành lập đã tiến đánh quân Nhật, mở rộng chiến khu. Trước khi Nhật đầu hàngĐồng Minh, chiến khu đã bao gồm nhiềutỉnh vùngđông Bắc Bắc Bộ, gọi là chiến khuViệt Bắc. Ngày29 tháng 7 năm1945,Đội Con Nai, một nhóm đặc nhiệm tình báo thuộcCơ quan Tình báo Chiến lược Hoa Kỳ, đã nhảy dù xuống Tân Trào với nhiệm vụ chủ chốt là tổ chức huấn luyện quân sự, cung cấp hậu cần, y tế và hợp tác với Việt Minh trong việc thu thập thông tin tình báo và chống Nhật.[2]
Trong khi đó, phản ứng trước sự kiệnNhật đảo chính Pháp, giành quyền kiểm soát toàn bộ Đông Dương, ngày12 tháng 3 năm1945, Ban Thường vụ Trung ươngĐảng Cộng sản Việt Nam ra chỉ thị "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" nhằm phát độngcao trào kháng Nhật cứu nước (thay đổi hình thức tuyên truyền, tổ chức đấu tranh để thích hợp với thời kỳ tiền khởi nghĩa, tập dượt quần chúng tiến lên khởi nghĩa giành chính quyền).
Dưới sự cai trị của Nhật, từtháng 10 năm1944 đếntháng 5 năm1945,nạn đói khủng khiếp diễn ra làm 2 triệu người chết. Đây là thời cơ để Việt Minh xây dựng lực lượng lớn khắp cả nước, họ tập hợp nhân dân phá các kho thóc Nhật để lấy gạo phát cho dân đói. Giáo sư kinh tếĐặng Phong đánh giá việc giải quyết được nạn đói là lý do giải thích tại sao tuyệt đại đa số dân chúng đã tin và đi theo Việt Minh.[3] Đồng thời, một đại hội đại biểu toàn quốc họp trên chiến khu, thành lậpQuốc dân Đại hội, tứcquốc hội lâm thời. Khi Nhật thất bại, khởi nghĩa nổ ra trên toàn quốc, đó là Cách mạng tháng Tám. Cách mạng diễn ra nhanh chóng với sự tham gia của hầu hết dân chúng, Việt Minh giành được chính quyền trên cả nước chỉ trong khoảng mười ngày.
Tạichâu Âu,Đức thất trận và đầu hàng ngày7 tháng 5 năm1945. Ngày6 tháng 8,Hoa Kỳ ném hai trái bom nguyên tử vào thành phốHiroshima vàNagasaki. Ngày15 tháng 8,Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Quân Nhật tại Việt Nam dao động nhưng không tan rã, thậm chí vẫn giữ nguyên khí giới và các chốt phòng thủ.Tuyên bố Potsdam của Anh, Mỹ và Trung Hoa Dân quốc gửi Nhật ngày26 tháng 7 không nói rõ phần lãnh thổ nào của Đông Dương sẽ do ai giải giới vũ khí mà chỉ nói các vùng lãnh thổ do Nhật Bản chiếm được bằng vũ lực sẽ được các nước đồng minh vào giải giới. Tuyên bố cũng không nhắc đến việc vùng nào do ai giải giới mà chỉ nói là phe Đồng minh (bao gồm cả Việt Minh) sẽ tham gia giải giới.[4] Tuy nhiên, Thủ tướng Nhật lúc đó là Suzuki tuyên bố Tuyên bố Potsdam không ràng buộc thêm bất cứ nghĩa vụ nào với Nhật Bản so với Tuyên bố Cairo trước đó. Thậm chí phía Nhật đã bác bỏ Tuyên bố Potsdam.[5] Đến ngày10 tháng 8, phía Nhật mới chấp nhận Tuyên bố Potsdam.[6]
Trước tình hình đó, Nhật bàn giao cho Khâm sai Bắc Kỳ,Phan Kế Toại, bộ máy hành chính địa phương, Sở Bảo An, Sở Mật thám trung ương, Sở Kiểm duyệt và một sốcông sở khác. Nhật chỉ giữ quyền kiểm soátNgân hàng Đông Dương vàPhủ Toàn quyền.[7] Đầu tháng 8 năm 1945, cán bộ Việt MinhĐoàn Xuân Tín được giao nhiệm vụ gặp Phan Kế Toại để nắm bắt tư tưởng và vận động ông ủng hộ Việt Minh, đồng thời thăm dò thái độ của Chính phủ Trần Trọng Kim[8] Sau đó, Khâm sai Phan Kế Toại gặpNguyễn Khang, người do Xứ ủy Bắc Kỳ cử đến. Ông đề nghị Việt Minh tham gia Chính phủ Bảo Đại và ngừng các hoạt động chống Nhật nhưng Nguyễn Khang bác bỏ.[9]
Khi nhậm chức, Bộ trưởng Tư phápTrịnh Đình Thảo của chính phủ Trần Trọng Kim đã ra lệnh thả hàng ngàn tù chính trị bị Pháp giam giữ trước đó bao gồm đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương và cácđảng phái quốc gia, đồng thời cho phép cáctổ chức, hội đoàn chính trị được hoạt động công khai. Tin đồn lực lượng quân Nhật sắp sửa đầu hàng đã lan tỏa khắp nơi tại miền Bắc, lợi dụng cơ hội, dân chúng đã tụ tập biểu tình, bãi công nhiều nơi, như ởThái Bình vào ngày11 tháng 8. Từ ngày12 tháng 8 năm 1945, các đơn vị Giải phóng quân của Việt Minh lần lượt tiến công các đồn Nhật ở các tỉnhCao Bằng,Bắc Kạn,Thái Nguyên,Tuyên Quang,Yên Bái,... và hỗ trợ nhân dân các tỉnh này tiến lên giành chính quyền tại các tỉnh lỵ.
Hội nghị toàn quốc họp ởTân Trào ngày13 tháng 8 năm1945, dưới sự chủ trì của Hồ Chí Minh với sự tham gia củaTrường Chinh (chủ tọa),Hoàng Quốc Việt,Nguyễn Lương Bằng đã nhận định rằng, điều kiện cho Tổng khởi nghĩa đã chín muồi và chuẩn bị lãnh đạo toàn dân khởi nghĩa. Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc được thành lập gồm:Trường Chinh,Võ Nguyên Giáp,Trần Đăng Ninh,Lê Thanh Nghị vàChu Văn Tấn. Tuy nhiên, nhiều nơi nổi dậy khi chưa nhận được chỉ thị của Trung ương. Một đoàn cán bộ gồmTrần Huy Liệu, Nguyễn Lương Bằng,Huy Cận vàoHuế, và Hoàng Quốc Việt, Cao Hồng Lãnh, Nguyễn Thị Thập vào Sài Gòn để đôn đốc khởi nghĩa.
Ngày16 tháng 8, một số cán bộ Đảng Cộng sản và Việt Minh dù chưa nhận được lệnh khởi nghĩa nhưng căn cứ vào tình hình hiện tại và chỉ thị "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" đã quyết định cùng nhân dân khởi nghĩa, khởi nghĩa lan rộng ra xã thuộc cáctỉnh ởđồng bằng sông Hồng nhưThanh Hóa,Thái Bình,...
Ngày17 tháng 8 năm1945, một đơn vị Giải phóng quân của Việt Minh doVõ Nguyên Giáp chỉ huy từTân Trào (Tuyên Quang) kéo về bao vây, tấn công quân Nhật ởthị xã Thái Nguyên.
Sáng ngày 19 tháng 8, hàng chục vạn người dân ở Hà Nội và các tỉnh lân cận theo các ngả đường kéo về quảng trường Nhà hát Lớn Hà Nội. Khoảng 10 giờ rưỡi, cuộc mít tinh lớn chưa từng có của quần chúng cách mạng được sự bảo vệ của Thanh niên tự vệ, của tổ chức Việt Minh Hoàng Diệu Hà Nội đã diễn ra. Đại diện Việt Minh tuyên bố: Tổng khởi nghĩa! Chỉ đạo khởi nghĩa ở Hà Nội cóNguyễn Khang,Trần Tử Bình,Nguyễn Quyết.
Trong điện gửi vềTokyo, Đại sứ Nhật tại Đông Dương xác nhận:"Chiều ngày 19, Đại sứ đã 'được mời' đến dự cuộc gặp với các lãnh đạo Etsumei (Việt Minh) và đã tham gia bàn bạc với những người đó, được coi như là các nhà chức trách chính thức."[10]
Ngày17 tháng 8 năm1945, chính phủ Trần Trọng Kim tổ chức mít tinh ra mắt quốc dân, nhưng bởi sự ủng hộ của người dân, cuộc mít tinh đã biến trở thành cuộc tuần hành ủng hộ lực lượng Việt Minh. Ngày23 tháng 8, khởi nghĩa ở Huế giành thắng lợi. Chỉ đạo khởi nghĩa cóNguyễn Chí Thanh vàTố Hữu. Cuộc khởi nghĩa có sự đóng góp của lực lượngThanh niên tiền tuyến (Thanh niênPhan Anh), đây vốn là bộ phận bảo vệ trị an của chính phủ Trần Trọng Kim nhưng khi cách mạng nổ ra đã quay sang ủng hộ Việt Minh.
Theo ôngPhạm Khắc Hòe, nguyên Tổng lý Ngự tiền văn phòng của triều Nguyễn thì cho đến những ngày cuối cùng, Trần Trọng Kim vẫn ra sức giữ ngôi báu chonhà Nguyễn nhưng đành chịu bất lực vì các thành viên nội các do ông ta thành lập đều muốn từ chức và quay sang ủng hộ Việt Minh:[11]
ỞSài Gòn, hành động chuyển giao quyền lực có ý nghĩa biểu tượng quan trọng là lời cam kết ngày22 tháng 8 của Thống chế Terauchi vớiTrần Văn Giàu vàPhạm Ngọc Thạch - hai đại diện cao cấp của Việt Minh - về việc quân Nhật không can thiệp nếu Việt Minh giành chính quyền. Ông Terauchi còn trao kiếm cá nhân và khẩu súng tùy thân cho đại diện củaViệt Minh để làm tin[12]
TạiSài Gòn,Huỳnh Phú Sổ kết hợp các tổ chức chính trịCao Đài,Hoà Hảo,Việt Nam Quốc dân đảng,Đại Việt Quốc dân đảng... thànhMặt trận Quốc gia Việt Nam Thống nhất, tổ chức một cuộc biểu tình lớn chống Pháp.
Ngày25 tháng 8 năm 1945, Việt Minh vàThanh niên Tiền phong làm nòng cốt tổ chức biểu tình và giành chính quyền tại Sài Gòn (nơi chịu sự cai trị trực tiếp của Nhật). Chỉ đạo nổi dậy ở nội thành là nhóm Việt Minh Tiền phong do Trần Văn Giàu chỉ đạo.
Đến ngày30 tháng 8, Việt Minh giành được chính quyền toàn quốc. Hai tỉnh giành được chính quyền cuối cùng làHà Tiên vàĐồng Nai Thượng.

Sau khiViệt Minh giành chính quyền tạiHà Nội và nhiều nơi khác,Thủ tướng Đế quốc Việt NamTrần Trọng Kim ởHuế nộp đơn xin từ chức.[13]
Lực lượng quân đội Nhật tại Việt Nam không có phản ứng đáng kể trước những hoạt động của Việt Minh vì lúc nàyNhật đã tuyên bốđầu hàng phe Đồng minh và đang chờ quânĐồng minh tới giải giáp, mặt khác vuaBảo Đại và Thủ tướngĐế quốc Việt NamTrần Trọng Kim đã từ chối lời đề nghị của Tư lệnh quân đội Nhật về việc đem quânNhật chống lạiViệt Minh.[14]
Ngày22 tháng 8,Việt Minh gửi công điện yêu cầuBảo Đại thoái vị, họ đã giành được chính quyền trên khắp cả nước.
Trước sức ép quá lớn từ phía người dân trong những giờ phút quyết định, Đại thầnPhạm Khắc Hòe không ngừng nhắc lại câu sấm truyền:"Bò Đái thất thanh, Nam Đàn sinh thánh". Vị thánh đó có thể là nhà chí sĩPhan Bội Châu, nhưngPhan Bội Châu đã không thành công và đã mất năm1940. Từ những năm 1920, người ta lại giải thích vị thánh cứu nước chỉ có thể làNguyễn Ái Quốc, cùng quê ở Nam Đàn (Nghệ An). Chính câu sấm truyền ấy cùng với dư luận đồn đại, theo ông Hòe kể lại sau này, đã khiến Nhà vua đi đến quyết định cuối cùng. Ngày20 tháng 8,Bảo Đại cho biết ông sẵn sàng thoái vị ngay nếu người đứng đầu Việt Minh làNguyễn Ái Quốc.[15]
Bảo Đại tuyên bố chấp nhận thoái vị, từ bỏ ngai vàng và trở thành công dân Vĩnh Thụy. Ngày25 tháng 8, hàng ngàn người tụ tập trước cửaNgọ Môn xem nhà vua đọcTuyên ngôn Thoái vị. Vua Bảo Đại mong chính phủ mới đối xử ôn hoà với các đảng phái đối lập để họ có thể góp sức kiến thiết quốc gia và để chứng tỏ chính thể mới xây đắp trên sự đoàn kết quốc dân đồng thời tuyên bố"muốn được làm Dân một nước tự do, hơn làm Vua một nước bị trị".[16][17][18][19]
Sau khi ôngTrần Huy Liệu, đại diệnViệt Minh phát biểu trong lễ thoái vị của hoàng đế Bảo Đại, mấy vạn đồng bào lại vỗ tay và hô khẩu hiệu vang lên cả một góc trời:"Việt Nam độc lập muôn năm!", "Việt Nam Dân chủ Cộng hòa muôn năm!". Sau đó, Hoàng đế Bảo Đại được nhận huy hiệu cờ đỏ sao vàng từ ôngNguyễn Lương Bằng.[20]
Sau đó, công dân Vĩnh Thụy trao ấn, kiếm cho đại diện Việt MinhTrần Huy Liệu và được gắnhuy chương. Khi vua Bảo Đại chính thức thoái vị,Hồ Chí Minh ởTân Trào mới vềHà Nội, dân chúng vẫn chưa biết Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc.
Cuốitháng 8 năm1945, Hồ Chí Minh lo chuyện tác động đến các lãnh đạo của phe Đồng Minh theo hướng công nhận nền độc lập của Việt Nam, cũng như chuyện ông phải nắm quyền lực nhà nước hoặc phải tự thể hiện bản thân như là biểu tượng dân tộc của sự thống nhất và tự quyết. Hồ Chí Minh quyết định trực tiếp đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khác hẳn vớiĐế quốc Việt Nam, đã không triệu tập một buổi đọc bản Tuyên ngôn độc lập có sự tham gia của quần chúng. Cách Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn cũng tương đồng với các buổi lễ chính trị tại Tây Âu, Hoa Kỳ và Liên Xô. Hồ Chí Minh đã lựa chọn quảng trường Puginier, sau này được gọi là quảng trường Ba Đình, một nơi rộng rãi không bị các chướng ngại vật che khuất tầm nhìn nhằm đủ chỗ chứa lượng khán thính giả càng nhiều càng tốt dù chỉ có vài ngày thông báo. Sân khấu được làm vội vã từ gỗ và được trang hoàng bằng lớp vải trang trí trắng và đỏ, do đó cho phép hầu hết khán thính giả có thể thấy được những vị lãnh đạo mới của mình, dù chỉ như những chấm li ti. Hồ Chí Minh và các đồng sự của mình đã cố gắng truyền trực tiếp bản Tuyên ngôn độc lập đến mọi miền Tổ quốc nhưng các vấn đề kỹ thuật lúc đó đã không cho phép điều này diễn ra. Bản tuyên ngôn độc lập có độ dài vừa đủ do những người Việt tham gia buổi lễ hôm đó phần lớn còn chưa tiếp xúc với hoạt động mít-tinh kiểu châu Âu như thế này bao giờ.

Ngày mùng2 tháng 9 năm đó, nhiều gia đình đã dọn dẹp nhà cửa và chuẩn bị đốt pháo để ăn mừng buổi lễ.[21] Đối với đồng bào Công giáo, ngày hôm đó cũng là ngày "Lễ hội những người tử vì đạo Việt Nam" của Công giáo, tưởng niệm những người đã chết vì đức tin của mình, đặc biệt vào thế kỉ 19, nên các nhà thờ ở Hà Nội buổi sáng đó tràn ngập người tham dự thánh lễ. Việc lựa chọn ngày2 tháng 9 củaHồ Chí Minh còn nhằm gắn kết chính quyền mới với phíaGiáo hội Công giáo. Cáclinh mục sau buổi lễ của mình đã cùng các giáo hữu hướng vềQuảng trường Ba Đình để tham dự buổi lễ. Những nhà sư trụ trì ở những ngôi chùa cũng làm tương tự vậy. Các giáo viên trang bị còi hay loa dẫn đầu đám trẻ con hát những bài ca cách mạng.[22] Từ Phủ Toàn quyền, Jean Sainteny, viên chức cao cấp của nước Pháp Tự do (Free French) - nước Pháp sau khi được giải phóng khỏi Phát-xít Đức - có mặt ở Hà Nội, đã quan sát hàng chục ngàn người Việt Nam đi thành từng hàng băng qua đại lộ Brière-de-l’Isle để tiến vào quảng trường. Jean Sainteny ngạc nhiên trước sự tham gia công khai của giới Công giáo và sửng sốt trước sự trật tự của đám đông, không có bất kì hành vi gây rối nào. Không ai có cử chỉ thù địch đối với Jean Sainteny hay đối với tòa nhà phủ Toàn quyền.[23] Vấn đề an ninh cũng được suy xét đáng kể, với đội quân danh dự của Quân Giải phóng đảm bảo không ai trong số khán thính giả có thể tới gần khán đài trong phạm vi 20mét, nhữngcông nhân vàsinh viên cóvũ trang cũng được xếp đặt tại mọi góc của mấy khu vườn, và một đơn vị tự vệ cảnh giác trước bất kì sự quấy rối nào từ hướngThành Hà Nội nơi quânPháp vẫn còn bịNhật giam giữ. Trước cuộc mít-tinh, lính Nhật ở khu đất thuộc Phủ Toàn quyền đã thiết lập mấy khẩusúng máy chĩa về quảng trường, làm những nhà tổ chức phải dựng lên một bức màn người gồm những dân quân tự vệ với chỉ thị thà chết còn hơn rút lui.[24]
Theo tường thuật của nhà báo Hồng Hà, báo Cứu quốc củaViệt Minh ôngNguyễn Hữu Đang đọc chương trình buổi lễ và giới thiệu Chính phủ lâm thời, chủ tịch Chính phủ đọc Tuyên ngôn độc lập, các thành viên Chính phủ tuyên thệ, ôngVõ Nguyên Giáp, bộ trưởng Bộ Nội vụ giãi bày tình hình trong nước và nhiệm vụ của Chính phủ, ôngTrần Huy Liệu tường trình vào Huế nhận sự thoái vị của vuaBảo Đại, ôngNguyễn Lương Bằng đại biểu của Tổng bộ Việt Minh thuật qua lại cuộc tranh đấu củaViệt Minh để mưu giải phóng cho dân tộc...[25]
Ngày2 tháng 9 năm1945, tạiquảng trường Ba Đình (Hà Nội). Chủ tịchHồ Chí Minh đọc bảnTuyên ngôn Độc lập và tuyên bố sự khai sinh của một nướcViệt Nam mới:Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bản tuyên ngôn, dựa theo bảnTuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ, bắt đầu bằng câu:Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.Hồ Chí Minh cũng trích dẫn Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền Pháp 1791 khi đọc bản Tuyên ngôn độc lập.
Mặc dù chương trình được mong đợi bắt đầu vào đúng 2 giờ chiều, nhưng xe hơi chở các thành viên trong nội các Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã đến trễ 25 phút khi phải đi xuyên qua các đám đông. Hồ Chí Minh dẫn đầu những người còn lại bước nhanh lên khán đài. Trong khi hầu hết các đồng sự của ông trên khán đài đều mặc đồ vest Tây và thắt cravate, nhưng ông Hồ cố ý chọn mặc bộ đồ kaki phai màu với cổ cao và mang đôi dép cao su trắng.[26] Sau lễ chào cờ và hát quốc ca, Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Nội vụ, bước tới micrô giới thiệu Hồ Chí Minh, người được chào mừng bằng những tiếng hô vang dội được sắp xếp trước, "Độc lập! Độc lập!" Ông Hồ vẫy tay trước khán thính giả trong vài phút, đoạn nâng hai bàn tay lên để kêu mọi người im lặng. Bằng giọng Nghệ Tĩnh đặc trưng, ông Hồ bắt đầu đọc Tuyên ngôn Độc lập.[27] Khi Hồ Chí Minh có những tương tác với quần chúng như khi ông hỏi: "Đồng bào có nghe rõ không?" và đám đông đồng thanh hô vang "Rõ!".[28]
Trong buổi lễ này, thông qua bản Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh cũng đã kêu gọi các nước Đồng minh ủng hộ nền độc lập chân chính do nhân dân Việt Nam vừa tự tay giành được thông qua Cách mạng tháng Tám. Ông tuyên bố rằng Chính phủ lâm thời đã huỷ bỏ hết mọi hiệp ước do Pháp kí trong quan hệ với Việt Nam và bãi bỏ hết mọi đặc quyền của người Pháp. Ông cảnh báo rằng người Việt "kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp". Kết thúc bài phát biểu của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh giới thiệu từng bộ trưởng trong Chính phủ lâm thời với quần chúng nhân dân và tất cả đều làm lễ tuyên thệ nhậm chức. Võ Nguyên Giáp khi đó bước tới và đọc một diễn văn dài đầy vẻ nghiêm trang.[29] Sau đó, Trần Huy Liệu, bộ trưởng bộ thông tin và tuyên truyền, báo cáo trước khán thính giả về buổi lễ thoái vị của Bảo Đại ở Huế ba ngày trước đó, và rồi trao thanh kiếm hoàng gia và ấn cho Hồ Chí Minh. Sau đó, ông Hồ tuyên bố rằng thanh kiếm, trước đây được dùng để đàn áp dân chúng, giờ đây sẽ được dùng để "chặt đầu kẻ phản bội".[30] Đại diện cho Tổng bộ Việt Minh là Nguyễn Lương Bằng sau đó nói ngắn gọn về nhu cầu thống nhất đất nước và đấu tranh vì độc lập, phát biểu thẳng thừng rằng đánh Pháp là chuyện cần thiết. Vào một thời điểm nào đó giữa buổi lễ lúc chiều, hai chiếc máy bay Tia chớp P-38 của Mỹ sà xuống thấp ngay trên đám đông, một sự kiện được tuyên bố ngay tức thì và ai cũng tin là đại diện cho lời chào mừng của Mỹ dành cho chính quyền non trẻ của Việt Nam.[31] Cuối cùng, trước khi kết thúc buổi lễ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố:"Chúng ta sẽ phải trải qua nhiều khốn khó và đau khổ hơn nhiều. Đồng bào phải ủng hộ chính quyền, để sau này có thêm nhiều buổi ăn mừng và thắng lợi!".[32] Buổi lễ kết thúc bằng việc đoàn người có tổ chức ở quảng trường sau đó diễu hành ra phố, giải tán ở hồ Hoàn Kiếm, và gia nhập vào bầu không khí vui chung cho đến giờ giới nghiêm.[33]
Tiếp theo đó, đất nước non trẻ tổ chứctổng tuyển cử, xây dựng nhà nước dân chủ độc lập đầu tiên tronglịch sử Việt Nam,Hồ Chí Minh được 98,4% ủng hộ.[34]
Ngày2 tháng 9 năm1945, hàng ngàn người dân từ nhiều tỉnh và tạiSài Gòn kéo vềquảng trường Norodom (gầnnhà thờ Đức Bà) chờ được nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọctuyên ngôn độc lập từquảng trường Ba Đình (Hà Nội). Nhưng dothời tiết xấu và trình độ kỹ thuật lúc đó, những lời tuyên bố của Hồ Chí Minh trước quốc dân không đến được với những người dự mít tinh. ÔngTrần Văn Giàu, Chủ tịch Lâm ủy hành chính Nam Bộ bước lên khán đài kêu gọi nhân dân đoàn kết chung quanh chính phủ Hồ Chí Minh, nâng cao cảnh giác, "sẵn sàng đập tan mưu đồ của thực dân, đế quốc trở lại xâm lược nước ta lần nữa".[35] Bác sĩPhạm Ngọc Thạch, người được cử chức Bộ trưởng Bộ Y tế Chính phủ lâm thời thay mặt chính phủ tuyên thệ trước quốc dân "Cương quyết lãnh đạo đồng bào giữ gìn đất nước, vượt qua khó khăn nguy hiểm xây đắp nền độc lập hoàn toàn cho Việt Nam".
Khi cuộc mít tinh chuyển sang biểu tình tuần hành, từ trên những tầng lầu cao xung quanh, quân Pháp đã nổ súng bắn vào đoàn biểu tình tuần hành, làm 47 người chết và bị thương.[36]Ngày23 tháng 9 năm1945, ông Trần Văn Giàu viết lời kêu gọiNam Bộ kháng chiến: "Hãy nắm chặt vũ khí trong tay, xông lên đánh đuổi thực dân Pháp, cứu nước. Cuộc kháng chiến bắt đầu..."

Nhiều sử gia phương Tây cho rằng Việt Minh thành công trong Cách mạng tháng Tám do có sự tồn tại khoảng trống quyền lực khiĐế quốc Nhật Bản đãchuẩn bị đầu hàngquân Đồng Minh và thực dân Pháp đã bịĐế quốc Nhật Bản lật đổ từ cuộc đảo chính vàotháng 3 năm1945, trong khi chính phủĐế quốc Việt Nam thực chất là một chính phủ bù nhìn, không có thực quyền, phải phụ thuộc hoàn toàn vàoĐế quốc Nhật Bản. Khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, Việt Nam rơi vào tình trạng vô chính phủ.[37]Trần Trọng Kim từ chối lời đề nghị của Nhật giúp duy trì trật tự do ông không muốn đổ máu.[38] Trên thực tế,Việt Minh đã có sự chuẩn bị rất kỹ lưỡng cho tình thế này, sử gia Tonnesson cho rằng chính Việt Minh mới là người tạo ra khoảng trống quyền lực khi từng bước loại bỏ các lực lượng ngoại xâm khi trước đó Việt Minh đã chủ động tiến hành kháng chiến chống Nhật và vô hiệu hóa các lực lượng của Pháp.[39] Bên cạnh đó, nhờ quá trình kháng chiến lâu dài từ trước đó, Việt Minh đã huy động được sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân Việt Nam, khác hẳn với sự ủng hộ yếu ớt của một bộ phận nhỏ người dân dành cho các lực lượng dân tộc chủ nghĩa. Việc huy động nhân dân toàn quốc tiến hành cách mạng trong cùng một thời điểm đã chứng tỏ cho điều đó.[40] Yếu tố khách quan từ việc phát-xít Nhật đầu hàng và thực dân Pháp bị vô hiệu hóa tuy quan trọng nhưng nhân tố quyết định tới việc tổ chức thành công cách mạng lại nằm trong tayViệt Minh, đó là sự ủng hộ của người dân.
Đối với lực lượng Nhật Bản và chính phủ Bảo Đại-Trần Trọng Kim lúc này, họ thực sự không hề muốn trao lại chính quyền cho Việt Minh. Lực lượng Nhật Bản tại Việt Nam lúc này đạt 90.000 người, được trang bị đầy đủ khí giới và chưa thua trận nào tại Đông Dương và họ vẫn sẵn sàng bảo vệĐế quốc Việt Nam.[41] Thực lực và tinh thần chiến đấu của lực lượng Nhật Bản vẫn còn rất cao được thể hiện qua việcViệt Minh vàOSS phải mất rất nhiều công sức mới đánh bại được toán quân Nhật ở Thái Nguyên.[42] Tại Hà Nội, lực lượng Nhật Bản cương quyết không nhường quyền kiểm soát Ngân hàng Đông Dương cho đối phương, buộc Việt Minh phải chấp nhận phương án hai bên cùng tham gia bảo vệ.Việt Minh phải hoãn cuộc tấn công trại Bảo an binh trên phố Hàng Bài nhiều lần mới buộc quân Nhật ở đây đầu hàng do quân Nhật liên tục sử dụng xe tăng để uy hiếp Việt Minh.[43] Những hành động của quân Nhật cho thấy khoảng trống quyền lực không hề tồn tại.[44]
Về phíaĐế quốc Việt Nam, mặc dù đây là chính quyền đã mất sức chiến đấu nhưng họ vẫn không hề tự nguyện chuyển giao quyền lực choViệt Minh. Trong ngày17 tháng 8, chính quyềnĐế quốc Việt Nam tại Hà Nội đã nỗ lực tổ chức cuộc mít-tinh và tuần hành của Tổng hội Công chức để ủng hộ Đế quốc Việt Nam. Tuy nhiên, cuộc tuần hành của Tổng hội Công chức đã biến thành cuộc tuần hành ủng hộ Việt Minh sau khi Ủy ban Quân sự Cách mạng huy động thêm người dân đến cùng tham gia tuần hành, lúc này giới chức Đế quốc Việt Nam đã nhận ra tuyệt đại đa số người dân đã ủng hộ Việt Minh. Trong ngày18 tháng 8,Đế quốc Việt Nam vẫn tiếp tục đề nghịViệt Minh chỉ nên quản lý vùng nông thôn, vùng đô thị vẫn nên để chính thể cũ quản lý nhưng Việt Minh phản đối.[45] Những hành động củaĐế quốc Việt Nam cho thấy quá trình chuyển giao quyền lực không hề dễ dàng như trong điều kiện có khoảng trống quyền lực.[46] Tuy không tự nguyện chuyển giao chính quyền nhưng Đế quốc Việt Nam cũng không đồng ý với lời đề nghị của quân đội Nhật giúp họ duy trì trật tự[38] do đó quân đội Nhật Bản đã không sử dụng lực lượng của mình để đàn áp có hệ thống Việt Minh trên toàn quốc khi lực lượng này giành chính quyền từ Đế quốc Việt Nam mà chỉ bảo vệ một số mục tiêu dân sự và quân sự quan trọng.
Chỉ sau 15 ngày nổ ra,Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ với 15 năm tuổi đời cùng với lực lượng nhỏ bé của mình (khoảng 5.000đảng viên) lại có thể tổ chức cách mạng thành công trên hầu khắp Việt Nam. Thành công này không thể xảy ra nếu chỉ dựa vào số lượng đảng viên ít ỏi này, mà đến từ sự chuẩn bị kiên trì suốt 15 năm củaViệt Minh: các đảng viên của họ gắn bó sâu rộng với quần chúng, đồng cam cộng khổ, hiểu được tâm tư của nhân dân nên được nhân dân tin tưởng. Khi thời cơ đến, chỉ 5.000 đảng viên đó đã có thể kêu gọi hàng triệu người dân nổi dậy, đoàn kết ủng hộViệt Minh. Thành công còn đến từ việc biết chớp đúng thời cơ từ ban lãnh đạo Việt Minh, mà đứng đầu làHồ Chí Minh[47]
Với thắng lợi của Cách mạngtháng 8 năm1945, nhân dân Việt Nam đã đập tan xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp trong gần 1thế kỷ tại Việt Nam, chấm dứt sự tồn tại của chế độquân chủ chuyên chế hơn 1000 năm, lập nên nướcViệt Nam Dân chủ Cộng hòa.Đảng Cộng sản Việt Nam từ chỗ phải hoạt động bí mật và bất hợp pháp trở thành mộtđảng cầm quyền hoạt động công khai.
Sau Cách mạng Tháng Tám, năm1946, Việt Nam diễn ra cuộcbầu cử đầu tiên trong lịch sử, bầu raquốc hội đầu tiên.
Cách mạngtháng 8 năm1945 thành công khẳng định vị thế lãnh đạo củaĐảng Cộng sản Việt Nam với phong trào giải phóng dân tộc.