Địa danh Azerbaijan được cho là bắt nguồn từAtropates,[13] tên của vịSatrap (tổng trấn)Media dưới thờiđế chếAchaemenid, người đã cai trị một vùng tạiIran Azarbaijan hiện đại được gọi làAtropatene.[14] Cái tên Atropate có lẽ bắt nguồn từtiếng Ba Tư cũ, có ý nghĩa là "được bảo hộ bởi lửa [thiêng]."[15] Cái tên này cũng được đề cập trong Frawardin YashtAvesta:âterepâtahe ashaonô fravashîm ýazamaide dịch nghĩa là: Chúng ta thờ cúngFravashi của Atare-pata linh thiêng.[16]
Những người dân định cư sớm nhất được biết tại Azerbaijan ngày nay là ngườiAlbania Kavkaz, một tộc người nói ngôn ngữKavkaz có lẽ đã tới vùng này trước những sắc tộc cuối cùng sẽ chinh phục vùng Kavkaz. Theo lịch sử Azerbaijan từng là nơi sinh sống của nhiều bộ tộc, gồmBa Tư,Armenia,Hy Lạp,La Mã,Ả Rập,Turk,Mông Cổ vàNga.
Ngôn ngữ Turkic xuất hiện ở vùng Azerbaijan như kết quả của cuộc di cư vĩ đại của người Turk tới Tiểu Á ở thế kỷ 11.[17]
Vương quốc đầu tiên xuất hiện trên lãnh thổ ngày nay là Cộng hoà Azerbaijan làMannae ở thế kỷ 9 TCN, tồn tại đến tận năm 616 TCN khi nó trở thành một phần củaĐế quốc Median, sau này sẽ trở thành một phần củaĐế quốc Ba Tư năm 549 TCN. Lãnh thổ phó vươngAlbania Kavkaz được thành lập ở thế kỷ 4 TCN và gồm xấp xỉ những lãnh thổ ngày nay là quốc gia Azerbaijan cùng những phần phía namDagestan.
Hồi giáo nhanh chóng phát triển trong vùng Azerbaijan sau những cuộc chinh phục của người Ả Rập trong thế kỷ thứ bảy và thứ tám. Sau khi quyền lực của Khalifate Ả Rập suy tàn, nhiều quốc gia bán độc lập được thành lập, vương quốcShirvanshah là một trong số đó. Ở thế kỷ 11, lực lượng chinh phụcSeljuk Turks trở thành lực lượng hùng mạnh tại Kavkaz và dẫn tới việc thành lập mộtAzerbaijanis tạm thời theo ngôn ngữ. Ở thế kỷ 13 và 14, đất nước này phải chịu những cuộc xâm lượcMông Cổ-Tatar.
Saunhà Safavid, Azerbaijan trải qua một giai đoạn phân chia phong kiến ngắn ở giữa thế kỷ 18 tới đầu thế kỷ 19, và gồm các vương quốc độc lập dưới quyền các khan. Sauhai cuộc chiến giữa Đế quốc IranQajar, cũng như Ganja, Guba, Baku và các vương quốc Khan độc lập khác cùngĐế quốc Nga, vùng Kavkaz bị người Nga chiếm đóng theoHiệp ước Gulistan năm 1813, vàHiệp ước Turkmenchay năm 1828, và nhiều hiệp ước khác trước đó giữa các Sa hoàng Nga và các Khan trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 19. Năm 1873, dầu mỏ được tìm thấy tại thành phốBaku, thủ đô tương lai của Azerbaijan. Tới đầu thế kỷ 20 hầu như một nửa lượng dầu cung cấp trên thế giới bắt nguồn từ Azerbaijan.[18]
Sau sự sụp đổ của Đế quốc Nga trongChiến tranh thế giới thứ nhất, Azerbaijan cùng Armenia và Georgia trở thành một phần củaCộng hòa Dân chủ Liên bang Zakavkaz có thời gian tồn tại ngắn ngủi. Khi nước Cộng hòa giải tán tháng 5 năm 1918, Azerbaijan tuyên bố độc lập với cái tên Cộng hòa Dân chủ Azerbaijan. Cộng hòa Dân chủ Azerbaijan là chế độc Cộng hòa Hồi giáo nghị viện đầu tiên trên thế giới và chỉ tồn tại trong 2 năm, từ 1918 tới 1920, khi các lực lượngHồng quân xâm chiếm Azerbaijan. Tháng 3 năm 1922, Azerbaijan, cùngArmenia vàGruzia, trở thành một phần củaCộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Ngoại Kavkaz bên trongLiên Xô mới được thành lập. Năm 1936, TSFSR bị giải tán và Azerbaijan trở thành một nước Cộng hòa thuộc Liên Xô với cái tênCộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Azerbaijan.
TrongChiến tranh thế giới thứ hai,Đức Quốc Xãxâm lược Liên Xô. Mục tiêu chủ yếu trongChiến dịch Edelweiss củaAdolf Hitler là chiếm thủ đô Baku giàu dầu mỏ của Azerbaijan. Vì nỗ lực chiến tranh, những người thợ dầu khí Xô viết bị buộc làm việc không nghỉ còn các công dân khác đi đào hầm hào cùng các vật cản chống tăng nhằm ngăn cản nguy cơ một cuộc tấn công của quân thù. Tuy nhiên, chiến dịch Edelweiss đã không thành công. Quân đội Đức ban đầu bị kìm chân tại những dãy núi vùngKavkaz, sau đó bị đánh bại hoàn toàn trongTrận Stalingrad.
Năm 1990, người Azerbaijan tập hợp lực lượng phản đối quyền quản lý Xô viết và thúc đẩy giành độc lập. Những cuộc biểu tình đã bị người Xô viết can thiệp đàn áp dã man trong cái mà hiện họ gọi làTháng 1 Đen. Năm 1991, Azerbaijan tái lập quyền độc lập sausự sụp đổ của Liên Xô. Những năm đầu độc lập bị bao phủ bóng đen bởi mộtcuộc chiến tranh với Armenia và những người Armenia ly khai về vùngNagorno-Karabakh. Dù đã có một thỏa thuậnngừng bắn từ năm 1994, Azerbaijan vẫn chưa giải quyết được cuộc xung đột này với Armenia. Từ khi cuộc chiến chấm dứt, Azerbaijan đã mất quyền kiểm soát 14% lãnh thổ gồm cả Nagorno-Karabakh.[19] Vì cuộc xung đột này, cả hai nước đều phải đối đầu với những vấn đềngười tị nạn và tình trạngchuyển dịch chỗ ở trong nước cũng như các khó khăn kinh tế.
Cựu lãnh đạo Xô viết người AzerbaijanHeydar Aliyev đã tìm cách khai thác nguồn tài nguyên dầu mỏ phong phú tại Baku. Dù Aliyev đã cố gắng giảm tối đa số lượng người thất nghiệp trong nước, nguồn thu từ dầu mỏ vẫn chủ yếu rơi vào tay tầng lớp trên.[cần dẫn nguồn] Aliyev dần tỏ ra độc tài và đã rạo ra sựsùng bái cá nhân chính ông. Những đối thủ chính trị bị giam giữ và tự do ngôn luận bị hạn chế. Tình hình chính trị Azerbaijan vẫn trong tình trạng căng thẳng, ngay cả sau khi Aliyev, khi gần chết, đã lựa chọn con trai làIlham trở thành ứng cử viên tổng thống duy nhất của Đảng ông. Các lực lượng đối lập bất mãn với kiểu kế tục triều đình này và đang kêu gọi thành lập một chính phủ dân chủ hơn.
Thiên nhiên AzerbaijanẢnh vệ tinh Azerbaijan của NASA.
Azerbaijan nằm ở nơi Tây Á giáp với Đông Âu. Khu vực phía Bắc Kavkaz của nước này, chiếm khoảng 15% diện tích đất nước thường được xem là thuộc châu Âu trong khi phần còn lại ở phía Nam Kavkaz thuộc châu Á. Nước này có tới chín trong mười mộtvùng khí hậu. Đây là quốc gia khô cằn, khô và khí hậu cận nhiệt đới với mùa hè nóng và mùa đông ôn hoà. Nhiệt độ thay đổi theo mùa và theo vùng. Ở vùngđất thấp phía tây nam, nhiệt độ trung bình là 6 °C (43 °F) vào mùa đông và 26 °C (79 °F) vào mùa hè — dù nhiệt độ tối đa thông thường ban ngày có thể tới 32 °C (90 °F). Ở nhữngrặng núi phía bắc và phía tây nhiệt độ trung bình 12 °C (54 °F) vào mùa hè và −9 °C (16 °F) vào mùa đông.
Lượng mưa hàng năm trên hầu hết đất nước thay đổi trong khoảng từ 200 mm (8 in) tới 400 mm (16 in) và nói chung ở mức thấp nhất phía đông bắc. Tuy nhiên, ở vùng viễn đông nam khí hậu ẩm hơn và lượng mưa hàng năm có thể cao tới 1.300 mm (51 in). Trên hầu hết đất nước, những giai đoạn ẩm nhất là vào mùa xuân và mùa thu, mùa hè khô nhất.
Sau cuộcbầu cử tổng thống ngày 15 tháng 10 năm 2003, một thông báo chính thức của Ủy ban Bầu cử Trung ương (CEC) cho thấyİsa Qambar — lãnh đạo khối đối lập lớn nhất,Bizim Azərbaycan ("Azerbaijan của chúng ta") — được 14% số phiếu bầu đứng thứ hai. Thứ ba với 3.6% làLala Shevket, lãnh đạo Phong trào Thống nhất Quốc gia, người phụ nữ đầu tiên ra ứng cử trong một cuộc bầu cử tổng thống tại Azerbaijan. Tuy nhiên,Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu,Hội đồng châu Âu,Tổ chức Theo dõi Nhân quyền và các tổ chức quốc tế khác, cũng như các tổ chức chính trị độc lập trong nước và cáctổ chức phi chính phủ đã lên tiếng lo ngại về sự gian lận quan sát thấy trong cuộc bầu cử và quá trình kiểm phiếu nhiều thiếu sót.[44][45]
Nhiều tổ chức độc lập trong nước và quốc tế từng quan sát và giám sát trực tiếp hay gián tiếp cuộc bầu cử đã tuyên bố Isa Gambar là người chiến thắng trong cuộcbầu cử ngày 15 tháng 10. Một quan điểm khác được nhiều tổ chức quốc tế tán thành cho rằng thực tế một cuộc bầu cử vòng hai đáng lẽ đã phải diễn ra giữa hai ứng cử viên đối lập chính làIsa Gambar vàLala Shevket.
Lực lượng Vũ trang Azerbaijan được thành lập vào tháng 10 năm 1991, gồm bốnquân chủng: lục quân, không quân, hải quân, lực lượng phòng không và bốn tiểu nhánh vệ binh quốc gia, vệ binh nội vụ, biên phòng và bảo vệ bờ biển.
Ngân sách quốc phòng của Azerbaijan là 2,24 tỷ đô la Mỹ tính đến năm 2020[cập nhật],[48] tương đương 5,4% GDP[49] và chiếm 12,7% tổng ngân sách nhà nước.[50]Ngành công nghiệp quốc phòng của Azerbaijan sản xuất vũ khí cá nhân, hệ thống pháo binh, xe tăng, xe bọc thép và thiết bị nhìn đêm, bom hàng không, UAV/máy bay không người lái, các loại xe quân sự và máy bay trực thăng quân sự.[51][52][53][54]
Về mặt hành chính, Azerbaijan được chia thành 66quận (rayonlar, số ítrayon), 11 thành phố (şəhərlər, số ítşəhər) và 14 vùng kinh tế.[55] Ngoài ra,Cộng hòa tự trị Nakhchivan là mộtlãnh thổ tách rời và là khu tự trị duy nhất của Azerbaijan.[56]
Kinh tế Azerbaijan chủ yếu dựa vàocông nghiệp. Các ngành công nghiệp gồm chế tạo máy,dầu mỏ và các ngànhkhai mỏ khác,lọc dầu, các sản phẩmdệt may và chế biến hóa chất.Nông nghiệp chiếm một phần ba nền kinh tế Azerbaijan. Đa số các nông trang nhà nước đã đượctưới tiêu. Tại các vùng đất thấp, nông dân chủ yếu canh tác các loại câybông,cây ăn quả,lúa gạo,chè,thuốc lá, và nhiều loạirau.Tằm được nuôi để sản xuấttơ tự nhiên cho ngành may mặc. Những người chăn thả gia súc Azerbaijan nuôigia súc,cừu vàdê gần các rặng núi.Hải sản, gồmtrứng cá muối vàcá khai thác từBiển Caspia. Azerbaijan có nền kinh tế rất năng động, chủ yếu nhờ dầu khí, và tổng sản phẩm quốc nội (GDP) nước này tăng vọt 34.5% để đạt tới 20.6 tỷ dollar năm 2006, biến nước này thành nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới trong hai năm liên tục. GDP trên đầu người tăng 33% đạt $5,739.[57] Tăng trưởng GDP năm 2007 được dự đoán trong khoảng 18% tới 22%.[58][59]
Tính đến năm 2016, GDP của Azerbaijan đạt 35.686 USD, đứng thứ 96 thế giới và đứng thứ 32 châu Âu.
Tính đến tháng 3 năm 2022, dân số của Azerbaijan là 10.164.464 người, trong đó 52,9% sinh sống tại thành thị, 47.1% sinh sống tại nông thôn.[60] Tháng 1 năm 2019,tỷ lệ giới tính là 0,99 nam trên một nữ.[61] Năm 2011, mức tăng trưởng dân số là 0,85% so với 1,09% trên thế giới.[62] Một yếu tố quan trọng hạn chế tăng trưởng dân số là mức di cư cao; tỷ lệ di cư là −1,14/1.000 người vào năm 2011.[62]
91,6% dân số của Azerbaijan làngười Azerbaijan. Sắc tộc đứng thứ hai làngười Nga, chiếm khoảng 1.8% dân số, đa số người Nga đã di cư khỏi nước này từ khi độc lập. Nhiều người Dagestan sống quanh biên giới vớiDagestan. Các sắc tộc chính làLezgis,Avar vàTsakhur. Các nhóm nhỏ hơn gồmBudukh,Udi,Kryts vàKhinalug hay Ketsh quanh làngXinalıq.
Tại Azerbaijan cũng có nhiều nhóm sắc tộc nhỏ hơn khác nhưGeorgians,Kurds,Talysh,Tatars vàUkraina. Một số người cho rằng số lượng người Talysh lớn hơn con số chính thức, bởi nhiều người trong số họ bị coi là người Azerbaijan.[cần dẫn nguồn] Người Do Thái miền núi (Mountain Jews) sống quanh thị trấnQuba ở miền bắc, cũng có mặt tại Dagestan. Nhiều người Do Thái đã di cư vềIsrael trong những năm gần đây, dù khuynh hướng này đã giảm bớt và thậm chí đảo ngược. Số lượng người Armenia khá lớn ở nước này đã di cư vềArmenia và các nước khác với sự bùng nổ của cuộc xung đột Armenian-Azeri về vùng Nagorno-Karabakh. Trong giai đoạn này, Azerbaijan cũng tiếp nhận số lượng lớn người Azerbaijan bỏ chạy khỏi Armenia và Nagorno-Karabakh cũng như các tỉnh bị chiếm đóng Armenia. Rõ ràng tất cả người Armenia tại Azerbaijan hiện sống trong vùng ly khai Nagorno-Karabakh.
Ngôn ngữ chính thức của Azerbaijan làtiếng Azerbaijan, một thành viên trong phân nhánhOghuz củangữ hệ Turk, và được khoảng 95% dân số sử dụng, cũng như khoảng một phần tư dân số Iran. Những ngôn ngữ có quan hệ gần nhất với tiếng Azerbaijan làtiếng Thổ Nhĩ Kỳ,Turkmen, vàGagauz. Vì chính sách ngôn ngữ củaLiên Xô,tiếng Nga cũng được sử dụng nhiều như mộtngôn ngữ thứ hai đối với dân cư thành thị.
93,4% dân số Azerbaijan theoHồi giáo và đa số họ thuộc dòngTwelver Shia. Số người này chiếm hơn 85% tín đồ Hồi giáo.[66] Cáctôn giáo khác được nhiều người theo là Hồi giáoSunni,Giáo hội Tông truyền Armenia (tại Nagorno-Karabakh),Giáo hội Chính thống giáo Nga, và nhiều nhánh Kitô giáo cũng như Hồi giáo khác.Người Do Thái miền núi tạiQuba, cũng như hàng ngànngười Do Thái Ashkenazim tại Baku, theoDo Thái giáo. Theo truyền thống, các làng quanh Baku và vùngLenkoran được coi là cứ địa của dòng Shi'ism, và tại một số vùng phía bắc nơi sinh sống của người Dagestan Sunni, phái Salafi được nhiều người theo. Phong tục dân gian Hồi giáo rất phổ biến, nhưng chưa có một phong tràoSufi được tổ chức.
^"The Constitution of the Republic of Azerbaijan"(PDF).President of the Republic of Azerbaijan. The Official Website of the President of the Republic of Azerbaijan. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2020.
^"Central Intelligence Agency".The World Factbook. Central Intelligence Agency. ngày 13 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2020.
^abLaPorte, Jody (2016). "Semi-presidentialism in Azerbaijan". TrongElgie, Robert;Moestrup, Sophia (biên tập).Semi-Presidentialism in the Caucasus and Central Asia. London:Palgrave Macmillan (xuất bản ngày 15 tháng 5 năm 2016). tr. 91–117.doi:10.1057/978-1-137-38781-3_4.ISBN978-1-137-38780-6.LCCN2016939393.OCLC6039791976.LaPorte examines the dynamics of semi-presidentialism in Azerbaijan. Azerbaijan's regime is a curious hybrid, in which semi-presidential institutions operate in the larger context of authoritarianism. The author compares formal Constitutional provisions with the practice of politics in the country, suggesting that formal and informal sources of authority come together to enhance the effective powers of the presidency. In addition to the considerable formal powers laid out in the Constitution, Azerbaijan's president also benefits from the support of the ruling party and informal family and patronage networks. LaPorte concludes by discussing the theoretical implications of this symbiosis between formal and informal institutions in Azerbaijan's semi-presidential regime.
^Wells, John C. (2008).Longman Pronunciation Dictionary (ấn bản thứ 3). Longman.ISBN978-1-4058-8118-0.;Roach, Peter (2011).Cambridge English Pronouncing Dictionary (ấn bản thứ 18). Cambridge: Cambridge University Press.ISBN978-0-521-15253-2.
^Umudov, Agshin (2019). "Europeanization of Azerbaijan: Assessment of Normative Principles and Pragmatic Cooperation".Politik und Gesellschaft im Kaukasus: Eine unruhige Region zwischen Tradition und Transformation (bằng tiếng Đức). Springer Fachmedien. tr. 67–68.ISBN978-3-658-26374-4.
^Bedford, Sofie; Vinatier, Laurent (tháng 10 năm 2019). "Resisting the Irresistible: 'Failed Opposition' in Azerbaijan and Belarus Revisited".Government and Opposition (bằng tiếng Anh).54 (4):686–714.doi:10.1017/gov.2017.33.ISSN0017-257X.S2CID149006054.
^Kamilsoy, Najmin (ngày 1 tháng 9 năm 2023). "Unintended transformation? Organizational responses to regulative crackdown on civil society in Azerbaijan".Southeast European and Black Sea Studies.25 (2):229–248.doi:10.1080/14683857.2023.2243698.S2CID261468959.
^Kramer, Richard Kauzlarich, David J. (ngày 11 tháng 4 năm 2018)."Azerbaijan's Election Is a Farce".Foreign Policy.Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2023.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
^"Azərbaycanda demoqrafik vəziyyət".State Statistical Committee of Azerbaijan (bằng tiếng Azerbaijan).Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2019.
^abLỗi chú thích: Thẻ<ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tência
^Samadov (www.anarsamadov.net), Anar."Azərbaycanın əhalisi".Azərbaycan Respublikasının Dövlət Statistika Komitəsi.